(Trích trong tác phẩm “Thực Hành Các Lý Thuyết Sáng Tác Truyện Ngắn Và Tiểu Thuyết”, Ngu Yên thực hiện. Escape Publishing xuất bản, trên 900 trang, phát hành tháng 10 năm 2024.)
*
Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình.
Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt văn học sáng tác mà tôi đã kinh qua.
Bảy T và Bốn Đ tuy là đúc kết nhưng không hẳn là quy tắc, chỉ là những phân lý để tạo ra “mấu chốt đề nghị.”
Bảy T: thuật, tả, thoại, thoát, thấy, thấu, và thú.
Bốn Đ: đa phương tiện, đa trí tưởng, đa cảm nhận, và đa văn hóa.
Những nhận thức này có thể áp dụng vào ba lãnh vực: Sáng tác, nghiên cứu phê bình, và dịch thuật theo học phái độc giả phản hồi.
Trải nghiệm nhắm tới là tạo một tác phẩm hay với nhận thức bảy T và tạo một tác phẩm giá trị với nhận thức bốn Đ.
Ý nghĩa nhận thức Bảy T
Trong bảy T, bốn nhận thức đầu thuộc về kỹ thuật. Ba nhận thức sau thuộc về nghệ thuật. Dĩ nhiên, khó lòng phân biệt giữa kỹ thuật và nghệ thuật vì kỹ thuật dễ thấy mà nghệ thuật thì vô hình. Như nước mặn, làm sao phân biệt muối và nước, chỉ có thể thấy nước và cảm nhận vị mặn, biết là muối tan trong nước. Hơn nữa, khi sử dụng kỹ thuật ở mức độ thượng thừa, thì phải có sự hiện diện của tinh túy và tài hoa, chẳng phải là đã nghệ thuật hóa kỹ thuật hay sao? Người thẩm thấu sáng tác biết rõ sự khác biệt giữa kỹ thuật và nghệ thuật, nhưng không phân biệt khi thực hành. Để kho một nồi cá Bóng trứng cho ngon, bà nội trợ biết rõ từng bước một trong tiến trình kho cá, biết làm sao cho không tanh, nước mặn mà không chát, cá thấm mềm mà không bở. Biết tất cả những chi tiết và phương tiện nhưng khi kho cá bà chỉ chú ý làm sao để có nồi cá kho ngon, vừa ý, và bà kiểm soát từng giai đoạn bằng vị giác và khứu giác, nếm và ngửi. Để có tác phẩm hay, nhà sáng tác cũng làm những việc tương tựa: Bảy T, bốn Đ và kiểm soát bằng trí và tim.
Bảy T:
Thuật. Tả. Thoại. Thoát Thấy. Thú. Thấu.
1. Kỹ thuật: Thuật. Tả. Thoại. Thoát.
Thuật: Kể chuyện, tường thuật hay tự sự. Một kỹ thuật cơ bản nhất trong sáng tác có nguồn gốc từ đời sống hàng ngày. Bản chất của tường thuật là kể lại những chi tiết chọn lọc trong một diễn tiến tiếp cận ý định chủ yếu, có mục đích thu gọn thời gian nhưng không nhất thiết phải theo thứ tự thời gian. Không có kể chuyện thì không có sáng tác truyện. Kể chuyện là việc tự nhiên, một nhu cầu tâm sinh lý và xã hội. Sáng tác truyện là kể chuyện với kỹ thuật và nghệ thuật.
Tả: Mô tả, diễn tả. Kỹ thuật này cũng cơ bản như thuật. Hàng ngày, trong lúc chuyện trò, chúng ta sẽ bắt gặp hầu hết câu chuyện thể hiện qua thuật và tả. Tả là kể lại những chi tiết xác định trong một không gian, một vị trí, hoặc một hoàn cảnh. Mặc dù có yếu tố thời gian nhưng tả chú trọng đến không gian ba chiều. Tả trong sáng tác thường thể hiện qua Hiện tượng luận và Nhận thức luận. Hiện tượng luận cho phép diễn tả đối tượng theo sự thu nhận trung thực của ngũ quan nhưng kết thúc theo cách mà tâm trí cảm nhận. Trong khi, Nhận thức luận khi diễn đạt đối tượng, chú trọng đến sự “nhìn thấy” của nội tâm qua cấu trúc của đối tượng.
Có lẽ, để cho Tả có một tầm vóc ý thức, các bậc thầy áp dụng những khía cạnh sâu sắc của Ký hiệu học, Cấu trúc luận hoặc Giải cấu trúc, một cách văn chương, không phải để thuần túy luận lý, mà để làm đẹp và sáng tỏ nhiều khía cạnh, mặt diện, chiều sâu, ý nghĩa và giá trị khác nhau của một đối tượng.
Thoại: Đối thoại và độc thoại. Trong đời sống, hai sinh hoạt này xảy ra liên tục, thay thế nhau, diễn tiến suốt ngày và kéo dài vào giấc mơ ban đêm. Trẻ con vừa sinh ra đã có một mức độ nào đó, ngôn ngữ nào đó, để độc thoại và đối thoại. Cho đến khi nó có trí khôn, bắt đầu tiếp nhận ngôn ngữ thường dụng, độc thoại và đối thoại vẫn tiếp diễn liên tục nhưng biến chuyển sang dạng ngôn ngữ xã hội và dân tộc. Thoại là một khả năng mạnh mẽ để làm câu truyện sống động, thú vị và tiến đến kết luận một cách trực tiếp. Thoại là một kỹ thuật cơ bản của sáng tác, có khả năng trở thành nghệ thuật cao kỳ trong tay những nhà văn lão luyện và tài hoa.
Thuật. Tả. Thoại: Hòa hợp kỹ thuật và nghệ thuật hóa văn bản.
Ba nhận thức này hòa hợp với nhau đồng thời với ngữ pháp và cú pháp để diễn đạt những chi tiết trong cấu trúc và hình thành cốt truyện. Vai trò của ba nhận thức là giao tiếp đầu tiên giữa tác giả và độc giả trên một văn bản hay tác phẩm. Qua bề mặt này, họ gặp gỡ nhau, độc giả chia sẻ, thông cảm, ngưỡng mộ, quí mến tác giả hoặc sẽ không vừa ý, bỏ đi và có lẽ khó trở lại thăm hỏi tác phẩm khác của cùng một tác giả. Vì vậy, giá trị bề mặt quan trọng gần giống như ‘coi mặt bắt hình dong’. Đó là lý do ngay từ đầu tác giả phải chọn lựa một loại độc giả nào mà ông muốn viết cho họ đọc. Không ai có thể viết cho hết mọi độc giả. Chọn thể loại độc giả, không phải chọn một số độc giả cụ thể.
Nếu tác giả viết về khoa học giả tưởng, thì đa số độc giả thích truyện xã hội sẽ không đậm đà hoặc lơ là văn bản đó. Không ai có khả năng viết làm hài lòng tất cả mọi người đọc.
Trong một văn bản, thơ hoặc văn, đều đòi hỏi thuật và tả. Thoại có khi không cần, nhất là những văn bản ngắn hoặc văn bản thuần về nội tâm thường nghiêng về độc thoại. Cá nhân tôi cho rằng mỗi thuật, tả, thoại có vai trò, sức mạnh và hiệu quả riêng. Tận dụng ưu điểm của mỗi loại sẽ làm hình thức diễn đạt nhiều màu sắc mới lạ, và nội dung biến hóa hơn. Đối với một số nhà sáng tác, sự hòa hợp của ba kỹ thuật sẽ trở thành nghệ thuật diễn đạt riêng, có căn cước của họ. Ví dụ như văn Võ Phiến, thơ Bùi Giáng, ca từ Trịnh Công Sơn.
Kỹ thuật được sáng tạo để trở thành nghệ thuật, bất kỳ lúc nào khi “ngộ” ra, thì kỹ thuật liền trở thành nghệ thuật, nhưng thông thường, đa số phải trải qua một giai đoạn tận tình tu luyện học thuật, dù vậy, không phải lúc nào cũng thành công.
Trình bày một văn bản văn học, nếu muốn tránh sự nhàm chán, lơ đảng cho người đọc, văn bản cần linh hoạt, góp phần vào sống động. Tốc độ của câu chuyện trong thơ hoặc văn, nhất là truyện, là động cơ chủ yếu làm cho văn bản có sinh lực. Tường thuật làm văn bản đọc nhanh. Mô tả làm đọc chậm lại. Độc thoại nghiêng về nội tâm, suy tưởng, tiết lộ với bản thân; đối thoại bao bọc cả nội tâm lẫn ngoại giới, cả hai làm tốc độ ngưng hoặc chậm lại để đào sâu, lý lẽ điều gì, nhắc nhở, trình bày quan điểm hoặc thông điệp. Thoại có phạm vi và khả năng rất lớn trong để hành xử nhiều ngữ cảnh và ý tưởng. Một văn bản có tốc độ lúc nhanh, lúc chậm, lúc ngừng lại, lúc nhảy vọt, một cách ngạc nhiên, là dấu hiệu một văn bản thành công.
Thoát: Rời khỏi dòng liên tục, mạch lạc của sự việc đang diễn tiến. Rời khỏi bối cảnh, rời khỏi câu chuyện, để bắt đầu trở lại với một khoảng cách. Còn gọi là nhảy vọt. Một kỹ thuật cần thiết để sáng tác, nhất là truyện ngắn và thơ. Công dụng của nhảy vọt là vượt thời gian và không gian đi đến tương lai hoặc trở về quá khứ, tạo ra sự đứt đoạn, tạo ra sự xáo trộn và thường xuyên gây nên ngạc nhiên, thích thú.
Nhảy vọt là một cách rút ngắn cốt truyện, tạo cô đọng. Trong thơ, nhảy vọt tạo ra những khoảng trống mà độc giả phải suy nghĩ điều gì để lấp đầy. Khéo léo sử dụng kỹ thuật này cũng là cách chuyển tiếp, ráp nối ý tưởng và bối cảnh.
2. Nghệ thuật Thấy Thấu Thú.
Sẽ không bao giờ có một định nghĩa đúng đắn cho mọi trường hợp về nghệ thuật. Nghệ thuật sinh động sống, lớn lên, biến hóa theo thời đại, thời gian, và thời thế văn học. Bản thể nó không đổi nhưng bản sắc thì càng ngày càng phong phú và sâu rộng. Nghệ thuật khác biệt trong từng chủ nghĩa, phong trào, trường phái, nhóm văn chương, thậm chí, trong mỗi nhà nghệ sĩ thành danh. Nghệ thuật chỉ có thể xác định khi thu hẹp nó vào một giới hạn cụ thể hoặc cố định, ví dụ, nghệ thuật thơ trong chủ nghĩa Lãng Mạn; nghệ thuật viết văn của Hemingway.
Không chỉ kỹ thuật trở thành nghệ thuật mà nghệ thuật cũng trở thành kỹ thuật. Sự tương quan này không bên nào thấp bên nào cao, mà là khả năng phục vụ thẩm mỹ. Kỹ thuật phục vụ hầu hết là do ý thức, trong khi đa phần nghệ thuật phục vụ bởi vô thức. Tuy nhiên, không ai có thể phân biệt ranh giới giữa ý thức và vô thức. Không ai thực sự biết rõ chúng hoạt động tương tác với nhau như thế nào? Vì vậy, sự phân biệt giữa ý thức và vô thức trong thẩm mỹ mang tính tương đối.
Suy xét kỹ hơn nữa, trong mỗi thể loại kỹ thuật đều có nghệ thuật, hãy cho rằng tinh túy của kỹ thuật là nghệ thuật. Đồng thời, trong mỗi nghệ thuật đều có kỹ thuật, hãy cho rằng khi thực hành, phần trật tự và tổ chức trong nghệ thuật là kỹ thuật.
Nghĩa là, áp dụng thuật, tả, thoại như những kỹ thuật phải tận sức tu tập cho thuần thục để tự những kỹ thuật đó nhập vào vô thức và nhả ra nghệ thuật. Ba kỹ thuật này liên hệ hổ tương với thấy, thấu, và thú.
Thấy. Bằng cách diễn đạt qua thuật, tả, thoại, ngôn ngữ phải tạo ra hình ảnh, bối cảnh, hoạt cảnh cho người đọc thấy được, không phải chỉ “nghe” kể. Những cái thấy này bắt đầu từ trong trí tưởng của người viết, thể hiện qua ngữ cảnh, ngữ nghĩa, qua kỹ thuật sáng tác tạo thành những văn cảnh, văn ảnh linh hoạt tiếp diễn nhau theo cấu trúc để hoàn thành văn bản. Người đọc sẽ tiếp nhận những thứ thấy này để rồi họ tạo ra những thứ thấy khác, có thể tương tựa, có thể khác biệt. Và mỗi người đọc có thể thấy văn cảnh khác nhau.
“Thấy được” là điểm nhấn. Trong sáng tác, người ta có câu nói: “Show, Don’t Tell.” Nghĩa là thể hiện ra, đừng kể lể. Show không chỉ liên quan mật thiết với mô tả, mà tường thuật, tường trình cho “thấy được” cũng là show. Những nhà văn nhà thơ chưa lão luyện thường dùng lời kể vì dễ dàng trưng bày cảm xúc, hoặc giải thích, lý luận. Thể hiện cảm xúc, cảm giác, ý nghĩ, luận lý bằng hình ảnh và bối cảnh sinh hoạt, dĩ nhiên, khó hơn, đòi hỏi kinh nghiệm và bản lãnh.
Bắt đầu thế kỷ 20, một phong trào thi ca nổi lên gây nhiều ấn tượng mặc dù chỉ tồn tại ngắn ngủi, đó là chủ nghĩa Hình Tượng, Imagism. Điều đặc biệt về chủ nghĩa hình tượng là khả năng làm cho mọi thứ trở nên rất rõ ràng và vẽ nên những bức tranh cụ thể, không tuân theo cách viết truyền thống. Thi sĩ Ezra Pound, một trong số nhà sáng lập, cho rằng, “chi tiết sáng", phương pháp tượng hình là đặt cạnh nhau các trường hợp cụ thể để thể hiện sự trừu tượng tương tự như cách tổng hợp nhiều góc nhìn thành một hình ảnh duy nhất của trường phái Lập thể. Phong trào Imagism mau chóng tàn rụi nhưng tinh túy và giá trị “cô lập hình tượng” để nổi bật đối tượng, vẫn luôn là kỹ thuật thường dụng ngày nay.
“Thấy được” là tinh thần của Imagism. Dùng ngôn ngữ “vẽ” nên bối cảnh câu chuyện và dùng ngôn ngữ “đóng” thành cuốn phim.
Thấu. Nếu một ý tưởng sâu sắc có thể trở thành câu danh ngôn truyền tụng nhiều thế hệ, thì tư tưởng hay và đẹp sẽ làm cho tác phẩm có khả năng trường thọ.
Tư tưởng cao kỳ đó từ tác giả truyền đi, (nói một cách khác, có cưu mang trọng lượng sâu sắc, thì tác phẩm mới thành danh,) và độc giả chia xẻ quan điểm, thông điệp, ý tưởng, cảm xúc của tác giả. Tuy nhiên, khi tư tưởng ở một mức độ cao siêu, thường khó diễn đạt cho dễ hiểu. Rất nhiều trường hợp tác phẩm cưu mang tư tưởng cao kỳ sẽ trở thành sách kén chọn độc giả.
Chữ “thấu” ở đây vừa nhắm vào trọng lượng của tư tưởng, vừa nhắm vào cách: làm thế nào để tác giả diễn đạt và độc giả chia sẻ những khía cạnh khó khăn của tư tưởng trong tác phẩm? Ví dụ như cuốn sách về khoa học vũ trụ cao cấp của Stephen Hawking, “Brief Answers To The Big Question” mà ông đã diễn đạt trong cấp độ phổ thông cho nhiều trình độ khác nhau có thể nắm bắt.
Thấu ở cấp bậc thấp là giải thích, dùng lời lẽ để làm sáng tỏ ý tưởng. Thấu nằm trong nghệ thuật diễn đại là gợi ý, tượng trưng, ẩn dụ, hoặc “bằng cách nào” khiến người đọc thẩm thấu được ý tưởng hay như bừng thức. Hiện nay, khoa tâm lý sáng tạo đang trình bày về nghiên cứu “siêu nhận thức”, một khả năng lớn tiềm ẩn trong con người, cần khai thác. Với khả năng này con người có thể nhận thấy, bừng thấy nhiều ý nghĩa, giá trị đàng sau những đối tượng bình thường.
Điểm nhấn là những suy nghĩ sâu đậm được trình bày dễ hiểu là nghệ thuật diễn đạt khả năng thấu, trong khi những tác phẩm rối mù bởi nhiều ý tưởng cố tình tạo ra cao kỳ khó hiểu, không thuộc về thấu, vì những tác phẩm đó trọng về trò chơi chữ và ý thay vì sâu sắc và giá trị.
Thú.
Chúng ta bắt đầu bằng “thú vui”. Viết là thú vui. Đọc là thú vui. Thú vui này trước hết là cấp bậc giải trí. Tất cả văn bản văn chương đều mang tính giải trí, ít hay nhiều, hoặc giải trí ở những phương diện khác nhau. Đọc điều gì khôi hài, bật cười, là giải trí theo kiểu thả lỏng tâm tình. Đọc điều gì mở mang hiểu biết, gật gù, là giải trí theo kiểu trí tuệ hài lòng. Đọc điều gì bật thức, ngẩn người dưới ánh sáng, là giải trí kiểu xán lạn. Vì vậy, viết là thú vui cho bản thân để tạo ra thú vui cho người đọc vui tình, vui trí, vui tâm thức. Có thể nói, tất cả kỹ thuật và nghệ thuật sáng tác căn bản và đầu tiên là xây dựng trên nền móng “thú vui”.
Thú vui bắt đầu bằng “cảm giác thích thú”. Sau tầng lớp cảm giác thích thú là “trí tuệ thích thú.” Bằng tất cả sáu nhận thức: thuật, tả, thoại, thoát, thấy, thấu, người viết phải đưa vào, hướng đến, thực hiện cái vui. Có những người đọc muốn tâm tư thích thú, một số khác muốn trí tuệ thích thú. Một tác phẩm hay và cân lượng thăng bằng bao gồm cả hai loại thích thú.
Càng thích thú người đọc càng tập trung theo dõi nội dung văn bản. Càng theo dõi càng gặp điều thích thú, càng gắn bó sâu đậm, càng lãnh hội nội dung, tác giả và tác phẩm đó thành công. Mức đo lường gọi là thú vị.
Không có thú vị, không ai có thể đọc quá một hai trang sách, ngoài trừ các nhà nghiên cứu đã quen với nhàm chán, khô khan.
Nghệ thuật tạo ra thú vị bao trùm tất cả các kỹ thuật, nghệ thuật khác, kể cả tư tưởng siêu quần. Bất kỳ tác phẩm nào thiếu cái vị “thú” này, không thể thành công. Đã không thành công trong dạng đa số lại khó thành công trong dạng thiểu số.
Thú đồng cảm.
Nhận thức, cảm nhận, chia sẻ cao nhất trong trạng thái và tác dụng của cái thú là sự đồng cảm. Vì có chung hoặc có trải nghiệm tương tựa, vì có hoàng cảnh sống giống nhau, vì có trình độ tri thức ngang ngửa, vì có cá tính cùng một kiểu mẫu, vân vân, độc giả nảy sinh lòng đồng cảm với những gì tác giả trình bày. Sự đồng cảm càng sâu sắc, càng mạnh mẽ, càng rộng lớn thì sự thành công của tác phẩm càng mỹ mãn. Trên con đường sáng tác, người viết tận dụng khả năng, kinh nghiệm, kiến thức, học thuật để diễn đạt câu truyện một cách đồng cảm, bất kỳ dùng phương tiện hoặc học thuật nào. Mặc dù, đồng cảm là khả năng riêng tư và riêng biệt của mỗi người, tìm đạt được sự đồng cảm của số đông trong nhóm độc giả chọn lọc là mục tiêu của tác giả.
Đồng cảm trí tuệ là thích thú chia sẻ ý nghĩa và giá trị một ý tưởng; trong khi đồng cảm tâm tình là thích thú chia sẻ cảm nhận, cảm giác, hoặc cảm xúc, cả hai đều nằm trong lãnh vực thẩm mỹ.
Vì khả năng đồng cảm là khả năng cá nhân và khác biệt, khó ai giống ai, vì vậy, kỹ thuật để tạo ra hiệu ứng thích thú chia sẻ tâm trí cho người đọc là nghệ thuật gợi ý. Tác giả có thể có mục tiêu nhất định, có thông điệp xác định, nhưng chỉ gợi ý, không nhất thiết phải giải thích, giải quyết, và kết quả là một số độc giả có thể chia sẻ thích thú qua nhiều diện, nhiều quan điểm, nhiều tâm sự, nhiều cấp bậc, nhiều giá trị khác nhau.
Nhận thức Bảy T là nghệ thuật gợi ý và ngấm ngầm đưa độc giả đến một lúc bị thuyết phục.
Thuyết phục.
Không hoàn toàn giống như lời lẽ của luật sư thuyết phục bồi thẩm đoàn. Càng không giống khả năng hùng biện của tri thức. Thuyết phục trong chiều hướng văn chương là khả năng diễn đạt qua chữ nghĩa khiến độc giả phải lòng, hài lòng, hoặc đồng ý; trong một số trường hợp, sự bất đồng ý kiến của độc giả là phương pháp nghịch đảo mà tác giả cố ý gây sự sống động, linh hoạt, với mục đích dự định.
Lời lẽ, câu văn mang tính thuyết phục có muôn hình vạn dạng, tuỳ vào mỗi thể loại văn bản đang sáng tác. Ví dụ, sáng tác về tâm lý xã hội sẽ sử dụng ý tưởng và văn vẻ ngiêng về tâm tình, trong khi sáng tác về khoa học viễn tưởng, sự diễn đạt thuyết phục bắt đầu từ trí tưởng tượng và kiến thức về khoa học.
Phong cách thuyết phục mạnh bạo thường gây hiệu ứng sôi động ngay tức thì, tạo không khí linh hoạt. Trong khi lề lối thuyết phục nhẹ nhàng, sâu sắc thường lai vãng trong tâm trí người đọc qua năm này tháng nọ. Bất kỳ văn bản thuộc loại gì, nếu nó không thuyết phục được người viết, thì sẽ lơ là với người đọc. Vừa kéo vừa thả, vừa khoan vừa hò, cân nhắc hiệu quả thuyết phục là một trong nghệ thuật phải có và cần thâm niên trong sáng tác .
Kết hợp kỹ thuật-nghệ thuật Bảy T.
Kết hợp là từ ngữ dễ hiểu, tuy vậy, trong nghệ thuật, kết hợp được thực hành trong một số cách thức: Kết hợp như trộn lẫn hạt sen, táo tàu, nhản nhục, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh, rau câu, vân vân, thành ly chè sâm bổ lượng. Kết hợp như dùng trái cây năm loại khác nhau xay lại thành nước uống. Kết hợp hóa chất thành hợp chất. Kết hợp như pha sơn màu để vẽ. Kết hợp ở mức độ cao nhất là không còn có thể phân biệt những thành phần trước đó, giờ đây là một thứ gì khác.
Nhận thức bảy T trong một văn bản văn học phải tiến tới độ thuần nhuyễn thì mới có hy vọng đạt được tác phẩm hay. Kinh nghiệm cho thấy, khi sử dụng bất kỳ một T nào đều không nhất thiết phải luôn canh giữ vai trò và hiệu quả của nó. Những ranh giới giữa chúng đều có thể xóa mờ và chồng lấn lên nhau. Ví dụ, có thể dùng mô tả bằng đối thoại; dùng độc thoại để tường trình, dùng tường trình tóm gọn như một cách thoát.
Có những nhà văn lão thành chịu hy sinh cái thấu để đổi lấy cái thú. Nhưng “thú” không làm cho tác phẩm có giá trị và sống lâu. Sự chọn lựa giữa các nhận thức là cá tính, kinh nghiệm và phẩm chất của mỗi người viết. Tôi vẫn quan niệm, đến một cấp độ nào đó, gặp người thì biết văn. Gặp văn thì biết người. Nếu văn thơ và tác giả dị biệt nhau, người nghệ sĩ này sẽ không bao giờ lớn đủ để có tác phẩm giá trị cao.
Ngu Yên
(Còn tiếp, Nghệ Thuật Sáng tác Bốn Đ.)
Hiểu và làm là hai việc liên hệ như kỹ sư thiết kế súng và anh lính sử dụng súng ngoài chiến trận. Kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy, gom góp những gì tôi tìm hiểu và hiểu được đưa vào thực hành chỉ có thể đạt một phần tư là nhiều. Đây là sự giới hạn của tài năng cá nhân. Nhưng tôi tin rằng, có nhiều văn tài khác, nhất là những thế hệ trẻ, họ sẽ thành công những gì chúng tôi thất bại. Cảm thấy niềm tin của mình đúng đắn, khi viết dòng chữ này, lòng tôi ấm áp khi nghĩ đến họ.
Send comment



