Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc ‘Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học’ Của Nguyễn Thế Tài

03/09/202100:00:00(Xem: 996)
Marie-Curie
Hình bìa cuốn sách. 
  
Đối với người dân Sài Gòn, Trường Trung Học Marie Curie là một cái tên rất quen thuộc, bởi vì ngôi trường lấy tên của nữ khoa học gia đoạt 2 giải Nobel Vật Lý và Hóa Học này là một trong những ngôi trường lâu đời nhất – thành lập vào năm 1918 – của Hòn Ngọc Viễn Đông.

Nhưng có lẽ ít ai, trong đó có tôi, biết rõ về thân thế sự nghiệp và những phát minh khoa học kỳ diệu đã mang lại vô số lợi ích cho đời sống nhân loại, mà điển hình nhất sự phát minh ra chất phóng xạ Radium của bà.

Chính vì vậy cuốn sách “Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học” của tác giả Nguyễn Thế Tài, cũng là nhà thơ Thy An, vừa mới được NXB Lotus Media ấn hành vào giữa năm 2021, là một tài liệu lịch sử vô cùng quý giá về người nữ khoa học gia đã tận tụy cống hiến suốt đời cho khoa học.

Cuốn sách dày khoảng 240 trang gồm 8 chương trải dài theo cuộc đời của nữ khoa học gia Pháp gốc Ba Lan Marie Curie, từ bối cảnh gia đình, những năm tháng của tuổi thơ, thời gian đi học xa nhà, lập gia đình với Pierre Curie cũng là một giáo sư khoa học, phát triển tài năng và những phát minh độc đáo, và năm tháng cuối đời. Cuốn sách còn có thêm phần phụ bản, chú thích và đối chiếu danh từ kỹ thuật.

Khi cầm cuốn sách ‘Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học’ trên tay, thoạt tiên tôi có cảm tưởng sẽ chẳng có gì thích thú để đọc bởi vì đó là một cuốn tài liệu nhân vật không tránh khỏi khô khan và nhàm chán. Nhưng khi đọc vào sách thì những suy nghĩ lúc ban đầu đã tan biến đi đâu mất để còn lại là sự say mê thích thú đọc từ trang này sang trang khác.

Sở dĩ một cuốn sách viết về một nhân vật khoa học có sức lôi cuốn tôi đến thế bởi vì Nguyễn Thế Tài không viết nó theo kiểu những nhà nghiên cứu hàn lâm với những con số thống kê, về các công thức toán học, hóa học, vật lý học, v.v… Nguyễn Thế Tài viết cuốn Marie Curie như viết một cuốn truyện, một cuốn tiểu thuyết, dĩ nhiên không thể là hư cấu hoàn toàn. Tác giả vốn là một nhà thơ cho nên chữ nghĩa của anh rất văn chương mượt mà và đây cũng là một trong những ưu điểm lôi cuốn người đọc như tôi.

Chẳng hạn, khi kể chuyện Maria Curie trên chuyến tàu đêm về nhà sau bao năm đi học xa nhà, Nguyễn Thế Tài đã mô tả tâm trạng và cảnh vật thật đẹp như sau:

“Thế là sau hơn 7 năm trời cố gắng và phấn đấu, cô thiếu nữ Mania, 24 tuổi, sửa soạn bước sang một khoảng đời mới, nơi một thành phố mới.
Trên chuyến tàu đêm xuyên Đức, co mình trong gió lạnh, Mania nhìn lên bầu trời: nàng nhớ về quá khứ, nghĩ mông lung đến tương lai. Một ngày nào đó, nàng sẽ trở về thành phố thân yêu Varsovie, sẽ trở thành một nữ giáo sư.

Nàng có ngờ đâu một định mệnh mới đang chờ đón nàng.” (trang 37)

Có một chi tiết trong cuốn sách cho thấy tác giả Nguyễn Thế Tài có cái nhìn rất tinh tế khi anh kể chuyện lúc Marie đoạt giải thưởng cho bài nghiên cứu về từ tính của thép và đặc tính phóng xạ, Hàn Lâm Viện thay vì trao giải thưởng trị giá 3800 quan trực tiếp cho Marie thì lại gửi cho chồng của bà là Pierre. Nguyễn Thế Tài đã nhận xét chi tiết này như sau:

“Sự kiện này cho chúng ta thấy là thời đó, giới hàn lâm còn nhiều khắt khe với nữ giới và ngay cả những người khoa học cũng còn nhiều thành kiến khi phán xét khả năng của phái yếu.” (tr. 87)

Ngay cả trong phát minh khoa học tưởng như là khô khan, Nguyễn Thế Tài cũng có thể làm cho nó mang sắc thái lãng mạn và tình tứ đến ngây ngất. Khi viết về sự kiện thành công trong khám phá chất Radium của hai vợ chồng Curie, tác giả Nguyễn Thế Tài mô tả giây phút hạnh phúc của họ khi nhìn thấy công trình nghiên cứu cực khổ bao lâu đã thành tựu:

“Marie giữ tay chồng, thì thầm nói nhẹ:

“Pierre, anh còn nhớ ngày nào anh mong muốn nó sẽ có một màu thật đẹp không?”.

Đẹp thay: trong bóng tối chập chờn, từ xa, chất Radium đang tự nhiên tỏa ra một màu xanh yếu ớt, lung linh mờ ảo. Như trong giấc mơ.

“Nhìn kìa, nhìn kìa,” Marie chỉ tay lên mẫu Radium đặt trong một đĩa thủy tinh, trên bàn. Nàng lần mò tìm một chiếc ghế và ngồi xuống, tận hưởng giây phút tuyệt vời. Trong bóng tối và yên lặng, khuôn mặt hai người được lờ mờ chiếu sáng bởi thứ ánh sáng nhiệm mầu mang tên Radium.

Marie mãi mãi ghi nhớ đêm tuyệt vời này, đẹp như truyện thần tiên.” (tr. 94)

Kể lại tai nạn thảm khốc đã cướp đi mạng sống của Pierre là chồng của Marie, Nguyễn Thế Tài đã làm người đọc bùi ngùi theo giọng văn đầy cảm xúc của anh.

“6 giờ chiều. Có tiếng mở khóa. Marie xuất hiện, vui vẻ nhưng chợt khựng lại khi thấy khuôn mặt cực kỳ nghiêm trọng của bạn. Linh tính cho nàng biết có một sự chẳng lành.

Khi nghe kể lại câu chuyện, nàng đứng yên thật lâu. Không ngã xuống, không kêu gào, không khóc. Nàng yên lặng chịu đựng như đã biết bao lần chịu đựng trong cuộc đời.

Sau cùng nàng hỏi lại, bàng hoàng như không tin vào sự thật:
“Pierre đã chết? chết? Chết thật sự?”.

Khuôn mặt Marie như khô lại, nàng không nghe rõ những lời chia buồn. Nàng đang biến dạng: từ người phụ nữ sung sướng và hạnh phúc thành một góa phụ, cô đơn, không ai có thể an ủi được. Ngày thứ năm 19 tháng 4 năm 1906 đã vĩnh viễn cướp đi hạnh phúc thật sự của đời nàng.” (tr. 129-130)

Khi viết về sự ra đi của nữ khoa học gia Marie Curie, Nguyễn Thế Tài đã dùng những từ ngữ cao đẹp và trân trọng nhất để tiễn người đi.

“Sancellemoz, rạng đông ngày 4 tháng 7 năm 1934. Khi mặt trời bắt đầu ửng hồng những đỉnh núi xa xa, tia nắng đầu ngày xuyên qua khung cửa, chiếu lên khuôn mặt Marie Curie. Khuôn mặt nhăn nhúm vì đau đớn, đôi mắt tàn lụi không còn mở ra được. Bà nằm yên, nhưng tất cả tinh anh như vẫn còn đó. Căn phòng thật im lặng. Rặng núi Alpes hùng vĩ, sừng sững giữa bầu trời trong xanh, dang tay đón bà.

Bà đẹp như một nữ hiệp sĩ vừa hoàn thành sứ mạng cao cả. Cho Khoa Học và cho Nhân Loại.” (tr. 194)

Trong phần Kết Luận cuốn “Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học,” tác giả Nguyễn Thế Tài nhắc đến sự trăn trở của bà đối với quê hương sinh thành Ba Lan và lòng biết ơn của bà đối với quê hương thứ hai nước Pháp.

“Bà trăn trở với nỗi đau của quê hương sinh thành, một quê hương bị áp bức và thống khổ. Ngày lấy lại độc lập, bà đã nghe tiếng gọi của chính quê hương đó, vui mừng đóng góp phần nhỏ nhoi của mình vào đại cuộc đất nước, không vụ lợi, không ham danh, chỉ với tấm lòng thành của một công dân.
Bà mang ơn quê hương thứ hai, quê hương đã cho bà cơ hội thăng tiến, quê hương của người chồng vắn số suốt đời yêu thương bà và đã cùng bà đi suốt một khoảng đời nghiên cứu, trong khó khăn, gian khổ. Quê hương của ân nghĩa mà bà đã tận tình đền đáp lại.

Trọn cuộc đời, bà đã hy sinh cho Khoa Học và cho Con Người.” (tr. 198)

Cảm ơn tác giả Nguyễn Thế Tài.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,” và “nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật. Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm,
Đọc những truyện ngắn Trần Doãn Nho viết từ trước 1975 đến thời gian gần đây, có thể thấy anh sáng tác trong ý thức sâu sắc về thể loại và nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của anh luôn có sự đầu tư công phu về ý tưởng, hình ảnh, ẩn dụ, chủ đề… lồng trong cấu trúc chặt chẽ của tổng thể, trong đó các yêu cầu về miêu tả, tường thuật, đối thoại, diễn tiến, tư tưởng giữ một tỷ lệ hài hoà và hữu hiệu.
Nội dung của 60 bài pháp được nữ sĩ Ryoun Jokan ghi chép lại trong suốt năm nhập thất (đại kết thất) 1690, trước khi Thiền Sư Bankei Yotaku viên tịch 3 năm, là những việc hỏi đáp giữa Thầy và trò, giữa Thiền Sư và võ sĩ đạo, giữa người mù và người sáng mắt, giữa chấp có và chấp không v.v… chung quy là Tâm ấy chẳng sanh và Tâm ấy chẳng diệt. Tâm ấy cũng còn gọi là Phật Tâm hay Tâm Phật không sanh, Tâm Phật không diệt.
“Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa / Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua / Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa / Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”
Cầm trên tay tuyển tập nhiều tác giả viết về Tiếng Hát Thu Vàng vừa mới xuất bản tại California, Hoa Kỳ, mà chị Thu Vàng nhờ nhà văn và nhà báo Phan Tấn Hải mang đến tặng cho anh chị em trong Tòa Soạn Việt Báo, đọc qua mục lục tôi thấy có khoảng 40 nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhạc sĩ và họa sĩ viết về tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng. Tôi nghĩ tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng đã thực sự chinh phục được cảm tình của nhiều người nghe, trong đó có tôi.
Có những người làm gì cũng hay, viết gì cũng hay. Tôi luôn luôn kinh ngạc về những người như vậy. Họ như dường lúc nào cũng chỉ ra một thế giới rất mới, mà người đời thường như tôi có ngó hoài cũng không dễ thấy ra. Đỗ Hồng Ngọc là một người như thế. Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ; dĩ nhiên ai cũng biết, bởi vì anh nổi tiếng hơn rất nhiều bác sĩ khác, và được báo chí phỏng vấn thường xuyên. Nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Thơ của anh nhiều đề tài, có cả thơ Vu Lan, thơ tặng mẹ, thơ tình, thơ tặng em bé sơ sinh, thơ tặng bà bầu, và đủ thứ. Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về Kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm Kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang cũng hay, viết về Kinh Pháp Hoa cũng hay, viết về Kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.
“Tôi bảo cô em tôi, hoặc có thể nó bảo tôi, lại đây mình chơi trò cười nhé? Chúng tôi nằm sát nhau trên giường và bắt đầu trò chơi. Giả vờ, dĩ nhiên. Bắt phải cười. Cái cười buồn cười. Cái cười buồn cười đến nỗi nó khiến chúng tôi phải cười. Thế rồi tiếng cười thật sự ùa đến, cười điên dại, cười như nắc nẻ, hai chúng tôi như bị cuốn vào cơn triều cường khủng khiếp của cái cười. Cười phá lên từng tràng, cười hối hả, cười sằng sặc, cười không kềm hãm được, cười thỏa chí, cười tung hê, cười điên dại… Chúng tôi cười đến tận cùng của cái cười… Ôi, cười! Cười thích lắm, chẳng có gì thích bằng cười; cười là sống một cách sâu sắc.”