Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc ‘Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học’ Của Nguyễn Thế Tài

03/09/202100:00:00(Xem: 1333)
Marie-Curie
Hình bìa cuốn sách. 
  
Đối với người dân Sài Gòn, Trường Trung Học Marie Curie là một cái tên rất quen thuộc, bởi vì ngôi trường lấy tên của nữ khoa học gia đoạt 2 giải Nobel Vật Lý và Hóa Học này là một trong những ngôi trường lâu đời nhất – thành lập vào năm 1918 – của Hòn Ngọc Viễn Đông.

Nhưng có lẽ ít ai, trong đó có tôi, biết rõ về thân thế sự nghiệp và những phát minh khoa học kỳ diệu đã mang lại vô số lợi ích cho đời sống nhân loại, mà điển hình nhất sự phát minh ra chất phóng xạ Radium của bà.

Chính vì vậy cuốn sách “Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học” của tác giả Nguyễn Thế Tài, cũng là nhà thơ Thy An, vừa mới được NXB Lotus Media ấn hành vào giữa năm 2021, là một tài liệu lịch sử vô cùng quý giá về người nữ khoa học gia đã tận tụy cống hiến suốt đời cho khoa học.

Cuốn sách dày khoảng 240 trang gồm 8 chương trải dài theo cuộc đời của nữ khoa học gia Pháp gốc Ba Lan Marie Curie, từ bối cảnh gia đình, những năm tháng của tuổi thơ, thời gian đi học xa nhà, lập gia đình với Pierre Curie cũng là một giáo sư khoa học, phát triển tài năng và những phát minh độc đáo, và năm tháng cuối đời. Cuốn sách còn có thêm phần phụ bản, chú thích và đối chiếu danh từ kỹ thuật.

Khi cầm cuốn sách ‘Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học’ trên tay, thoạt tiên tôi có cảm tưởng sẽ chẳng có gì thích thú để đọc bởi vì đó là một cuốn tài liệu nhân vật không tránh khỏi khô khan và nhàm chán. Nhưng khi đọc vào sách thì những suy nghĩ lúc ban đầu đã tan biến đi đâu mất để còn lại là sự say mê thích thú đọc từ trang này sang trang khác.

Sở dĩ một cuốn sách viết về một nhân vật khoa học có sức lôi cuốn tôi đến thế bởi vì Nguyễn Thế Tài không viết nó theo kiểu những nhà nghiên cứu hàn lâm với những con số thống kê, về các công thức toán học, hóa học, vật lý học, v.v… Nguyễn Thế Tài viết cuốn Marie Curie như viết một cuốn truyện, một cuốn tiểu thuyết, dĩ nhiên không thể là hư cấu hoàn toàn. Tác giả vốn là một nhà thơ cho nên chữ nghĩa của anh rất văn chương mượt mà và đây cũng là một trong những ưu điểm lôi cuốn người đọc như tôi.

Chẳng hạn, khi kể chuyện Maria Curie trên chuyến tàu đêm về nhà sau bao năm đi học xa nhà, Nguyễn Thế Tài đã mô tả tâm trạng và cảnh vật thật đẹp như sau:

“Thế là sau hơn 7 năm trời cố gắng và phấn đấu, cô thiếu nữ Mania, 24 tuổi, sửa soạn bước sang một khoảng đời mới, nơi một thành phố mới.
Trên chuyến tàu đêm xuyên Đức, co mình trong gió lạnh, Mania nhìn lên bầu trời: nàng nhớ về quá khứ, nghĩ mông lung đến tương lai. Một ngày nào đó, nàng sẽ trở về thành phố thân yêu Varsovie, sẽ trở thành một nữ giáo sư.

Nàng có ngờ đâu một định mệnh mới đang chờ đón nàng.” (trang 37)

Có một chi tiết trong cuốn sách cho thấy tác giả Nguyễn Thế Tài có cái nhìn rất tinh tế khi anh kể chuyện lúc Marie đoạt giải thưởng cho bài nghiên cứu về từ tính của thép và đặc tính phóng xạ, Hàn Lâm Viện thay vì trao giải thưởng trị giá 3800 quan trực tiếp cho Marie thì lại gửi cho chồng của bà là Pierre. Nguyễn Thế Tài đã nhận xét chi tiết này như sau:

“Sự kiện này cho chúng ta thấy là thời đó, giới hàn lâm còn nhiều khắt khe với nữ giới và ngay cả những người khoa học cũng còn nhiều thành kiến khi phán xét khả năng của phái yếu.” (tr. 87)

Ngay cả trong phát minh khoa học tưởng như là khô khan, Nguyễn Thế Tài cũng có thể làm cho nó mang sắc thái lãng mạn và tình tứ đến ngây ngất. Khi viết về sự kiện thành công trong khám phá chất Radium của hai vợ chồng Curie, tác giả Nguyễn Thế Tài mô tả giây phút hạnh phúc của họ khi nhìn thấy công trình nghiên cứu cực khổ bao lâu đã thành tựu:

“Marie giữ tay chồng, thì thầm nói nhẹ:

“Pierre, anh còn nhớ ngày nào anh mong muốn nó sẽ có một màu thật đẹp không?”.

Đẹp thay: trong bóng tối chập chờn, từ xa, chất Radium đang tự nhiên tỏa ra một màu xanh yếu ớt, lung linh mờ ảo. Như trong giấc mơ.

“Nhìn kìa, nhìn kìa,” Marie chỉ tay lên mẫu Radium đặt trong một đĩa thủy tinh, trên bàn. Nàng lần mò tìm một chiếc ghế và ngồi xuống, tận hưởng giây phút tuyệt vời. Trong bóng tối và yên lặng, khuôn mặt hai người được lờ mờ chiếu sáng bởi thứ ánh sáng nhiệm mầu mang tên Radium.

Marie mãi mãi ghi nhớ đêm tuyệt vời này, đẹp như truyện thần tiên.” (tr. 94)

Kể lại tai nạn thảm khốc đã cướp đi mạng sống của Pierre là chồng của Marie, Nguyễn Thế Tài đã làm người đọc bùi ngùi theo giọng văn đầy cảm xúc của anh.

“6 giờ chiều. Có tiếng mở khóa. Marie xuất hiện, vui vẻ nhưng chợt khựng lại khi thấy khuôn mặt cực kỳ nghiêm trọng của bạn. Linh tính cho nàng biết có một sự chẳng lành.

Khi nghe kể lại câu chuyện, nàng đứng yên thật lâu. Không ngã xuống, không kêu gào, không khóc. Nàng yên lặng chịu đựng như đã biết bao lần chịu đựng trong cuộc đời.

Sau cùng nàng hỏi lại, bàng hoàng như không tin vào sự thật:
“Pierre đã chết? chết? Chết thật sự?”.

Khuôn mặt Marie như khô lại, nàng không nghe rõ những lời chia buồn. Nàng đang biến dạng: từ người phụ nữ sung sướng và hạnh phúc thành một góa phụ, cô đơn, không ai có thể an ủi được. Ngày thứ năm 19 tháng 4 năm 1906 đã vĩnh viễn cướp đi hạnh phúc thật sự của đời nàng.” (tr. 129-130)

Khi viết về sự ra đi của nữ khoa học gia Marie Curie, Nguyễn Thế Tài đã dùng những từ ngữ cao đẹp và trân trọng nhất để tiễn người đi.

“Sancellemoz, rạng đông ngày 4 tháng 7 năm 1934. Khi mặt trời bắt đầu ửng hồng những đỉnh núi xa xa, tia nắng đầu ngày xuyên qua khung cửa, chiếu lên khuôn mặt Marie Curie. Khuôn mặt nhăn nhúm vì đau đớn, đôi mắt tàn lụi không còn mở ra được. Bà nằm yên, nhưng tất cả tinh anh như vẫn còn đó. Căn phòng thật im lặng. Rặng núi Alpes hùng vĩ, sừng sững giữa bầu trời trong xanh, dang tay đón bà.

Bà đẹp như một nữ hiệp sĩ vừa hoàn thành sứ mạng cao cả. Cho Khoa Học và cho Nhân Loại.” (tr. 194)

Trong phần Kết Luận cuốn “Marie Curie – Một Đời Hy Sinh Cho Khoa Học,” tác giả Nguyễn Thế Tài nhắc đến sự trăn trở của bà đối với quê hương sinh thành Ba Lan và lòng biết ơn của bà đối với quê hương thứ hai nước Pháp.

“Bà trăn trở với nỗi đau của quê hương sinh thành, một quê hương bị áp bức và thống khổ. Ngày lấy lại độc lập, bà đã nghe tiếng gọi của chính quê hương đó, vui mừng đóng góp phần nhỏ nhoi của mình vào đại cuộc đất nước, không vụ lợi, không ham danh, chỉ với tấm lòng thành của một công dân.
Bà mang ơn quê hương thứ hai, quê hương đã cho bà cơ hội thăng tiến, quê hương của người chồng vắn số suốt đời yêu thương bà và đã cùng bà đi suốt một khoảng đời nghiên cứu, trong khó khăn, gian khổ. Quê hương của ân nghĩa mà bà đã tận tình đền đáp lại.

Trọn cuộc đời, bà đã hy sinh cho Khoa Học và cho Con Người.” (tr. 198)

Cảm ơn tác giả Nguyễn Thế Tài.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã chính thức phát hành tại Quận Cam. Tuyển tập dày 500 trang đã gói trọn tấm lòng của một người rất mực yêu thương cuộc đời, và với quê nhà.
Kể từ năm 1963 đến nay (2021) là hơn nửa thế kỷ. Các kho lưu trữ tài liệu mật của các bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng, và cục Tình báo Trung Ương Hoa Kỳ đã giải mật cho công chúng và giới nghiên cứu được tự do tiếp cận, vào xem hoặc truy cập điện tử, để mọi người có thể nhìn lại một khúc quanh của lịch sử Việt Nam một cách rõ ràng. Sách này gồm hai tập, tập 1 trình bày về cuộc vận động bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo Việt Nam và tập 2 là trình tự thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ.
Vào thời điểm này, phải chăng thơ đã là món ăn tinh thần lỗi thời, mất hương vị quyến rũ, thua mùi phở hấp dẫn khi đói bụng? Đúng như vậy, có đói mới thèm ăn. Làm sao biết tâm tư của bạn đang đói? Hỏi thử nó có mệt mỏi, có căng thẳng, có phiền muộn chuyện đời, có ghét bỏ người khác? Nếu có, đúng rồi, nó đang đói. Thơ là món ăn tinh thần cổ truyền từ tiền sử. Nếu tiểu thuyết là bữa tiệc, truyện là bữa ăn tối, thì thơ Việt chính là phở. Một món ăn độc đáo cho bất kỳ người Việt nào tại gia hoặc tha hương.
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh.
Nhân vật trong tiểu thuyết tôi là những khả thể vô thức của chính tôi (Kundera). Bởi cuối cùng là để vượt ra, vượt qua: một cái đường biên mong manh mà mênh mông đó. Ở đó, Bên kia đường biên “bản ngã” của riêng tôi chấm dứt (trang 19). Nghĩa là đạt đến vô ngã / non-self (không phải no-self). Cái đường biên đó do chính tác giả tạo ra cho mình và loay hoay tìm lối thoát, càng tìm lối thoát càng bị quấn chặt. Chỉ vượt ra, vượt qua (Gaté, gaté…paragaté…) đường biên khi có được trí Bát nhã (Prajna) thấy được ngũ uẩn giai Không, mới “độ nhất thiết khổ ách”.
Đây là một tác phẩm lịch sử từng giai đoạn của Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Nhà biên soạn sử học Hồ Đắc Huân, đã miệt mài trong bao nhiêu năm, cô đọng, trau chuốt, giao tiếp với nhiều nguồn tin tức khác nhau, cộng với hành trình từ bản thân, là chứng nhân lịch sử; đã cho ra mắt một tác phẩm để đời!
Có Tự ngã không? Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.