TRANG THƠ

06/07/202314:51:00(Xem: 3624)
Derkovits,_Gyula_-_Mother_(1934)
Mother (1934) của Gyula Derkovits (1894-1934).


QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

mẹ tôi trên xe thổ mộ

 

(Kính dâng hương hồn mẹ).

 

đã rất nhiều năm trong thế kỷ trước

đôi khi còn nghe âm vọng người và ngựa

lốc cốc trên đường

nắng chói chan nung thời gian chảy nhựa

 

gõ từng chữ từng câu

chầm chậm xuống hàng

ký ức chìm nổi của loài ba khía

chầm chậm xuống hang

thảng thốt nghe tiếng người và ngựa

 

giữa đất trời hanh hao

nằm ngửa lắng nghe tiếng lốc cốc trên đường

sau hàng cây xanh ngát

từng lớp sóng xôn xao nhả bọt

tựa những lời mẹ căn dặn buổi chia tay

 

quanh quất trên con lộ thưa vắng

mẹ tôi vẫn còn trên chiếc xe thổ mộ

đôi guốc mộc quai đen

hai bàn chân chai cứng

khuôn mặt màu da bánh ít in đậm nỗi buồn

 

đôi khi mẹ lau nước mắt bằng vạt áo vải thô

những giọt long lanh lăn trên má

quặn thắt trong nắng gió thờ ơ

từ hai hốc mắt sâu không đáy

u uất câm lặng triền miên

 

sáng nay mẹ ngồi bất động

như đã ngồi trong nhiều kiếp

trên chiếc xe thổ mộ

duy nhất

rong ruổi trên con lộ khắc khoải này. 

 

***

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

Lời kêu cứu của thơ
     

Thả ra đừng bắt tôi lên

trời đâu không thấy chênh vênh lạnh lùng

thả tôi về với ruộng đồng

có mồ cha mẹ núi sông bưng biền

 

Thả ra hãy để tôi yên

ngắm trăng hải đảo nghía thuyền viễn dương

cho tôi ca hát phàm thường

bắt tôi phải đạo đau thương bao rồi

 

Thả tôi thả tôi thả tôi

lên hay xuống đứng hay ngồi tự thân

thích thì phụng hiến giai nhân

vẫn hơn ca tụng cái cần triệt linh

 

Thả ra đừng bắt chúng sinh

rác tai nghe những bài tình giả nhơn

thả tôi về với rạ rơm

cho tôi tận hưởng mùi thơm suối nguồn!

Thả ra tôi có vĩ cuồng
hay thơ ca có trần truồng, mặc tôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhận được bài thơ của người bạn Phạm Xuân Tích, tôi thấy bài thơ của ông bạn khá độc đáo và lý thú, tôi mạo muội viết lại sao y bản chính – cả hai bản tiếng Pháp và bản dịch tiếng Việt cũng của ông ấy, để hầu các vị đọc cho vui...
là khi nước mắt khô đi | mọi thứ đều trở nên dư thừa | hiểu biết càng vô hiệu | những đốm loang không thể tẩy xóa
Tôi trôi tuổi ấu thơ, từ quê hương cùng khổ, rau dưa khoai sắn / Tôi trôi từ chợ quán rường, cái đình làng, ngôi trường tiểu học, áo lấm lem màu mực tím mẹ mới mua, cùng cây viết lá tre, trang giấy tự túc, vàng khè, không trông rõ chữ...
Rõ ràng, có tai không nghe, | có mắt không thấy, | có tay chỉ thòng lòng, | có chân chỉ đi lui đi tới, | duy nhất có miệng, người nói không ngừng.
tình yêu lạnh như biển | những cái giống không cùng đời | có thể là một vì sao nhỏ bé | có thể là một nét mày hung tợn | trả treo trước gi
Thơ của hai thi sĩ Quảng Tánh Trần Cầm & Thy An...
Thành phố cháy hết cây cỏ. | Những tàng dừa nhớ gió. | Những đỉnh thông khát nước. | Sao tình yêu chưa sôi sục trong em?
Thơ của ba nhà thơ: Nguyễn-hoà-Trước, Trần Hạ Vi, Trần Yên Hòa...
Kể lạ, ở “nước non mình”, bút hiệu của các nhà sáng tác qua nhiều lãnh vực văn chương, thi ca, âm nhạc, hội họa, nghiên cứu phê bình, truyền hình, báo chí, diễn viên, có bút hiệu/danh, là Sơn [không kể Sơn ở đầu như Sơn Nam, Sơn Tùng, Sơn Vương…] là đông vô số kể. Thiếu Sơn, Triều Sơn, Trúc Sơn, Phạm văn Sơn, Trịnh Công Sơn, Mai Sơn, Phong Sơn, Vân Sơn, Trần văn Sơn, Linh Sơn, Trần Áng Sơn, Từ Sơn, Vinh Sơn, Tiến Sơn, Cao Sơn, Ngô văn Sơn, Lê Thái Sơn, Nguyễn Lê La Sơn, Lê Tây Sơn. Chu Sơn, Tùng Sơn, Hoài Sơn, Đào Bá Sơn…Trong đó hai ông Sơn thi sĩ là….đáng yêu nhất. Nguyễn Đức Sơn và Nguyễn Bắc Sơn. Đáng yêu, vì hai ông này đều có tài, đều có cái lạ trong thơ, lẫn ngất ngư, ngất ngưỡng, ngất ngây trong đời sống.
ôi màu xanh bể dâu ngút ngàn | truy lùng những lóng mây tự ải | giữa bầu trời hắc ín | rúc đầu những chú ve non | làm mồi cho lũ bọ đất