Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tập Thơ Hoa Diên Vĩ Hoang Dại

22/01/202121:36:00(Xem: 1104)

The Wild Iris_BG_Page_1


Tập thơ Hoa Diên Vĩ Hoang Dại (The Wild Iris) ấn hành năm 1992 đã mang lại giải thưởng Pulitzer cho thi sĩ Louise Gluck. Trước khi lãnh giải Nobel văn chương năm 2020, bà đã là một thi sĩ nổi tiếng, Đoạt một số giải thưởng và tước hiệu quan trọng, như Thi sĩ Công huân quốc gia năm 2003-2004. Thi sĩ Robert Hass nhận xét về bà: “...một trong những nhà thơ trữ tình thuần túy và thành công nhất hiện nay.” The Wild Iris, Hoa Diên Vĩ Hoang Dại, là một tập hợp thơ tuyển chọn những bài miêu tả khu vườn của thi sĩ. Trong 54 bài thơ này, bà diễn đạt thâm trầm những thao thức của linh hồn, những câu hỏi về siêu nhiên, những hình ảnh bình thường trở thành ẩn dụ, dụ ngôn nhắc nhở ý nghĩa trong đời sống hàng ngày.


***


Lời Dịch Giả: Bạn đọc có thể tải xuống nguyên tác phẩm The Wild Iris, Hoa Diên Vĩ Hoang Dại của thi sĩ Nobel  Louise Gluck như món quà đầu năm của Ngu Yên gửi tặng.

Chúc tất cả bên ngoài sức khỏe, bên trong bình an, và trong ngoài may mắn.

https://www.academia.edu/44922913/The_Wild_Iris_Hoa_Di%C3%AAn_V%C4%A9_Hoang_D%E1%BA%A1i_Louise_Gluck_Nobel_2020_

(Bấm Download. Chọn this paper. Chọn ở dưới hết: No Thanks, I just want this paper. Sách sẽ tự động tải xuống, miễn phí. File nằm góc bên trái, dưới cùng.)

 

Bây giờ, xin mời bạn đọc chuyện mõ sinh ngữ & một bài thơ trong tập thơ.

 

 
                                                                                                                                 ***

Chuyện Làm Mõ Tụng Kinh.



Làm mõ không phải dễ. Cứ gõ kêu lóc cóc là xong. Mõ tụng kinh của các bậc thượng thừa lúc nào cũng im lặng, nhưng khi kêu lên thì hồn xác nhập một. Mắt thứ ba mở ra. Tai siêu nhiên nghe thấu niềm vui trong tiếng khóc. Lòng trống vắng,  tĩnh lặng, đến nổi một hạt bụi bay cũng gây nên tiếng động.


Mõ của người chưa đắc đạo thì như ông Hàn Dũ, đời nhà Đường bên Trung Hoa, đã viết: “Mọi vật hễ không được cái thế quân bình thì kêu lên” (*). Tâm tư của người nghệ sĩ giống như loại mõ này.

Xưa kia, ở xứ Quảng có người bỏ quê đi xa học nghề làm mõ với các sư phụ nổi tiếng khắp miền bắc trung nam. Học đến tuổi trung niên, trở về quê hành nghề. Ông lên rừng, lặn lội năm này tháng nọ. Sau cùng, tìm được một cây trung thụ gỗ tốt, cưa một nhánh, mang về làm mõ. Làm xong, gõ lên, mõ kêu tiếng đục như người khan giọng cố hát lên cao. Bị chê cười, ông đóng cửa luyện thêm nghề. Năm năm sau, tìm lại cây trung thụ, cưa một nhánh, mang về làm mõ. Làm xong, gõ lên, mõ kêu tiếng du dương, khiến người tụng và người nghe đều buồn ngủ. Đã buồn ngủ thì khó thu nhận lời kinh. Bị chê cười, ông đóng cửa luyện thêm nghề. Mười năm sau, tìm lại cây trung thụ, cưa một nhánh, mang về làm mõ. Làm xong, gõ lên, mõ kêu tiếng sắc sảo lại khô khan. Tai nghe khó chịu. Không ai mua mõ. Thất bại, ông đóng cửa luyện thêm nghề. Đến tuổi già, tìm lại cây trung thụ nay đã thành cổ thụ, cưa một nhánh, mang về làm mõ. Làm xong, gõ lên, hồn xác nhập một, mắt thứ ba mở lớn. Tai siêu nhiên lắng nghe. Chưa kịp mang ra phục vụ người đời, thì ngã bệnh thương hàn mà mất. Con cháu của ông, không người nào thích theo nghề làm mõ tụng kinh nên bí quyết làm mõ cũng thất lạc.


Vì vậy, đọc thơ Hoa Diên Vĩ Hoang Dại bằng tiếng Việt mà thấy không hay, không phải vì thơ Louise Gluck không giá trị, mà vì tài làm mõ chưa đạt. Xin hẹn lần tới.

 

Ngu Yên, Houston, tháng Giêng 2021.

 

(*) Trích Bài Tựa “Tiễn Mạnh Đông Dã.” của Hàn Dũ.

***

Hoa Diên Vĩ Hoang Dại.

[Lời cùa hoa Diên Vĩ.]

Đến cuối đường khổ đau
thấy một cánh cửa.

Tôi vẫn nhớ, xin nhắc lại:
các người gọi đây là cửa chết.

Bên trên, tiếng động, cành thông lắc lư.
Rồi im ắng. Nắng yếu ớt
lung linh trên đất khô cằn.

Thật là khủng khiếp để được tồn tại
ý thức phải chôn vào lòng đất tối tăm.

Như vậy, kể như đã chết:
điều mà chúng ta lo sợ,
là linh hồn không thể lên tiếng,
trở thành một kết thúc bất ngờ,
mặt đất cứng vẫn uốn cong theo hình cầu. (*)
Và tôi phải làm gì để trở thành đàn chim
bay đụng đầu trong lùm cây thấp.

Các người không còn nhớ
lối về từ thế giới bên kia

Nói cho các người biết, tôi có thể kể:
bất kỳ chuyện gì nhớ lại
khi trở về từ cõi lãng quên
để tìm ra lời nói:

“đời tôi từ nhụy hoa
tuôn một dòng suối lạ thường,
xanh thẳm
làm đậm màu nước biển xanh lơ.” (**)

Louise Gluck
Ngu Yên chuyển ngữ


(*) Mặt đất cứng uốn cong một chút.
(**) “đời tôi từ tâm điểm
         tuôn một dòng suối lớn
         xanh thẳm [chảy vào đại dương]
         pha đậm màu nước biển xanh lơ.”


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài
Rừng ngưng thở / thức / chíu chít tiếng chim
Lửa ! Lửa ! Lửa ! / khắp nơi, biết chạy về đâu
Núi chiều nay đã quay về chờ đợi. Còn gì đâu những hò hẹn trong đời.
Làm sao quên / mỗi chiều / Venice lóng lánh tà dương
Chiều ấy rất nhiều gió Đàn chim nhớ phố bay về(1)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.