Hôm nay,  

Những Người Ở Lại

10/09/202414:10:00(Xem: 2884)

Chúng tôi đã lớn vượt qua sự tưởng tượng về thế giới để còn có nhau trong đời.


2 girls in blue dress standing on brown field during daytime
Photo by Josue Michel on Unsplash


Năm sáu tuổi, mẹ dắt tôi đến trường. Mẹ dặn phải nhớ đường, vì từ sau con sẽ tự đi học. Từ nhà đến trường là đường thẳng.

Nhưng tôi thường không đi thẳng về nhà mà sẽ la cà đâu đó. Một hôm, tôi rẽ phải vào xóm lạ lúc giữa trưa. Đi một lúc thì lạc mất. Mẹ dặn nếu lạc đường cứ hỏi người lớn chỉ đường đến ngã ba Hiếu Liêm là về được nhà. Nhưng nhà ven đường đóng kín cửa, chắc mọi người ngủ trưa hoặc đi làm rồi.


Trời nắng chang chang. Tôi càng đi thì càng lạc. Mồ hôi vã ra ướt lưng áo đeo cặp. Tóc tai rối bù vì nắng và sợ. Con đường cũng không còn trải đất thẳng thớm nữa, mà lồi lõm, hố cát, đá lớn, ổ gà, cây dại mọc lấn ra, bóng nắng mất dần. Lúc đó không gian mát hơn vì có bóng cây, nhưng nỗi sợ càng lớn vì tôi không thấy bầu trời nữa, bóng râm như con quái vật khổng lồ.

Một con chó to từ đâu xổ ra sủa cắn. Nó cao gần đến lưng tôi, chồm lên là tới mặt. Tôi bị chó cắn một lần năm ngoái và từ đó rất sợ chó. Tôi bỏ chạy. Con chó to dí theo. Lông màu nâu bóng lên dưới nắng, những nhóm cơ vồng lên lao tới phía trước theo cử động. Bỗng nhiên một thằng bé từ đâu cũng lao ra, vừa vung gậy la mắng, vừa xua con chó đi. Con nâu cụp đuôi quay vào bụi cây, hoá ra phía sau là một ngôi nhà.

"Nó hiền lắm, nhưng thấy ai ngoài đường cũng đuổi," thằng bé giới thiệu chó là của bà nội nó. Nó tên Bi, học cùng trường với tôi (cả cái xã chỉ có một trường tiểu học, đứa nào cũng học trường đó).

Đó là cách tôi và Bi quen nhau. Trẻ con không cần nhiều chuẩn mực hay sự đối chiếu để làm bạn. Bi không biết nhà tôi ở đâu nên nó vào hỏi bà nội chỉ đường và xin bà dẫn tôi về nhà. Bà đã già và hơi còng. Bà cho tôi cốc nước rồi đồng ý cho Bi dẫn về. Từ hẻm nhà Bi, đi qua một lạch nước nhỏ, rồi qua khỏi nghĩa địa, rẽ phải là ra đường đất đỏ lớn. Từ đó tôi đã biết lối về nhà. Nhưng hai đứa tôi vừa đi vừa nói gì đó với nhau mà quên bẵng tới cửa nhà tôi lúc nào không biết.

Thỉnh thoảng đi học về Bi hay đi cùng tôi, xong rẽ qua lối nhà nó, chơi trong vườn nhà nội, rồi tôi vòng lại đường lớn về nhà. Ba của Bi đi theo công trình giống ba tôi, nghĩa là đi làm công nhân xây dựng, công trình ở đâu thì theo đó, khoảng vài tuần về nhà một lần. Bi ở với bà nội. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ của Bi.

Sau này, Bi bảo lý do tôi hay bị chó cắn vì nhìn một cái là biết tôi sợ chó. Tôi đứng im, lùi lại, hoặc rón rén. Con chó có thể thấy người đứng trước nó sợ hãi ra sao. Tôi sẽ lùi dần đến khi bị sủa, rồi bỏ chạy. Tôi bỏ chạy là chó dí. Bi dắt con Nâu của bà ra, bảo tôi đưa tay ra, để Nâu tự ngửi, nếu nó thích, nó sẽ cho vuốt, rồi vuốt đầu nó, thì nó không cắn. Tôi vừa thò tay ra thì thụt lại ngay vì con Nâu há miệng (theo ý Bi là nó há miệng để thè lưỡi liếm, không có gì sợ). Có lần Bi cầm tay tôi, đặt tay nó bên ngoài, hứa là nếu con Nâu cắn thì chắc chắn sẽ cắn trúng Bi trước, cho tôi yên tâm. Tập luyện tới khi tôi quen luôn con Nâu rồi vẫn còn sợ chó.

Bi nói nếu tôi cứ sợ thì chó càng làm tới, nhưng giờ đã hơn 30 năm sau, tôi vẫn sợ chó, chó vẫn dí tôi, và tôi nhớ lời Bi (sau này được nhiều người nói thêm vào) là con chó có thể đọc vị hành vi của người, chỉ cần nhìn dáng vẻ, chó biết ngay kẻ đối diện sợ nó hay không. Có thể tình bạn cũng vậy, chúng tôi nhìn đứa đối diện, cảm được người đó sẽ trở thành bạn mình, không thực sự cần nhiều diễn giải.

Ở gần nhà, Bi dắt tôi đi chơi ở cái lạch nước to ra thành con suối mùa mưa. Bi dắt tôi đi hái nấm mèo ở cây mục khi mùa mưa tới. Bà nội Bi đập xoài xuống cho tôi mang về. Bi tới nhà tôi chơi xong dắt tôi đi bơi ở sông. Nhưng mẹ tôi cấm tôi xuống sông vì sợ chết đuối. Bi không sợ chết đuối vì ba của Bi nói phải dạy nó biết bơi khi ba đi làm xa nhà không ai trông. Nó đã học bơi rồi bơi khắp mấy bờ sông quanh khu gần đó.

Mỗi khi ra bờ sông, tôi ngồi trên bờ chơi với mớ đồ hàng nổi lên mặt nước. Còn Bi ra bơi với đám trẻ nhà gần bờ sông. Tụi nó thường trèo lên một tảng đá nổi khá xa bờ, xong từ trên đó nhảy xuống kêu "ùm" một tiếng, xem ai nhảy xa nhất là thắng. Hòn đá là chỗ ưa thích của cả xóm biết bơi.

Một chiều cuối tuần, tôi đang ở nhà bán hàng phụ mẹ thì Bi chạy hớt hải tới. Ngoài đường tiếng xôn xao váng lên, tiếng người lớn chạy đổ về bến đò. Tiếng la hét. Bi kéo tay tôi chạy ra sông. Ở bến đò, nhiều chú đã mặc áo phao bơi ra xa, có hai anh ngồi trên đò dùng chèo đẩy theo những người mặc áo phao. Lát sau, họ vớt lên một thân người. Hai anh trên đò kéo cái xác lên, nhỏ cỡ tụi tôi.

Đứng ở bờ sông trên cao, tôi thấy toàn bộ cảnh đó, chợt rùng mình khi nhận ra thân người nằm trên thuyền là thằng Cò, con của bà Thúy, hàng xóm của tôi. Từ sau lưng tôi, bà Thuý và mấy chị gái thằng Cò chạy vụt xuống bến thuyền. Họ vừa chạy vừa khóc. Bà Thúy trượt chân ngã xuống giữa con dốc bê tông. Những cô hàng xóm bên đường chạy ra đỡ bà Thúy lên nhưng bà đã ngất xỉu.

Tôi và Bi đứng nhìn đến khi xe cấp cứu ở xã tới, đưa thằng Cò từ xuồng lên cáng. Trong xe mấy chị gái Cò trèo lên bám chầm lấy em đang nằm với quần áo ướt đẫm. Xe đóng cửa và chạy đi trong tiếng còi hụ. Bi nắm chặt tay tôi, ngón tay cấu vào da thịt. Tôi quay qua nhìn thấy Bi nức nở khóc. Lúc đó tôi mới nhớ ra thằng Cò hay chơi nhảy từ cục đá xuống cùng đám bạn ngoài sông, trong đó có Bi.

Bi và tôi đi về khi trời chạng vạng tối. Nó đi vào nhà ôm lấy bà nội. Còn tôi lững thững quay về nhà một mình trong bóng tối. Ở xóm, người lớn dìu bà Thúy về và tụ tập ở nhà bà để giúp đỡ họ đêm đó. Tôi ăn phần cơm mẹ úp trong lồng bàn rồi đi ngủ. Tối đó mẹ cũng không về nhà vì ở bên nhà bà Thúy. Tôi nằm trong giường, nghe tiếng xe cấp cứu lại hụ còi lên, những giọng nói xôn xao, tiếng rên khóc của người đã mất con vì dòng sông.

Bi không rủ tôi ra sông chơi nữa. Nó chỉ chơi quanh nhà, chạy vào rừng hay lang thang lên rẫy mót ngô về nướng. Nó bảo nó không muốn mất bạn nữa. Nó bảo bà nội nói sông có nhiều xoáy nước, dù có biết bơi đôi khi cũng không tránh được, không nên dắt tôi ra đó chơi vì tôi không biết bơi.

Hai năm sau thì tôi chuyển về thành phố. Bi vẫn ở lại xã cùng bà nội. Chúng tôi không chia tay nhau. Trẻ con tám tuổi không thực sự biết chuyển nhà là không còn ở bên nhau nữa. Tôi vẫn nhớ về Bi như một người bạn đứng từ hòn đá giữa sông nhìn vào bờ xem tôi chơi đồ hàng và bỏ không ra bờ sông vì sợ tôi chết đuối.

Bước vào đời nhau

Tôi là đứa trẻ không biết mở lời kết bạn. Cần con chó tên Nâu dí theo tôi để tôi được quen Bi. Những người bạn đến và ở bên tôi trong những năm tháng tuyệt vời hay buồn bã của cuộc sống. Họ bước vào thế giới của tôi tự nhiên vì lúc đó chúng tôi cần nhau, vì họ nghĩ cần phải cứu tôi khỏi chuyện gì đó, hoặc vì không gian đủ rộng cho mấy đứa tìm thấy niềm vui cạnh nhau.

Sau này, mỗi khi muốn kết bạn với ai, tôi thường nghĩ về Bi, về lúc Bi cầm tay tôi cho con Nâu ngửi với sự trấn an vô tư của trẻ con thời khó khăn nhất. Chúng tôi không có đồ chơi, không có không gian lớp học năng khiếu, thi tài, không có những cuộc chạy đua đồ đạc mới hay chôm đồ đạc của nhau trong lớp học. Chúng tôi chỉ có bàn tay, con Nâu, đường đất đỏ về nhà và một bờ sông nguy hiểm.

Chúng tôi tỏ ra yếu đuối trước mặt nhau. Tôi ré lên vì bị chó đuổi. Bi đứng khóc vì thằng Cò chết đuối. Chúng tôi không biết chế nhạo nhau, cũng không biết yếu đuối là điều ta thường giấu ở trong góc nhà không chia sẻ với ai.

Món quà mà Bi dành cho tôi: bước vào cuộc sống của nhau bằng sự chăm sóc, yếu đuối và thành thật, cũng là điều đã tạo ra những tình bạn kéo dài nhiều năm khi tôi lớn lên trong đời.

Một người bạn tôi làm ở công ty từng gói một chai lăn khử mùi vào hộp giấy xong tặng tôi, nói thật tế nhị là: "tớ nghĩ cậu nên dùng thử, cậu sẽ thấy dễ chịu hơn" - thay vì nói "ê cậu hôi nách quá vui lòng xài lăn khử mùi đừng làm phiền thiên hạ."


Những điều như vậy đồng nghiệp không bao giờ nói. Sau 5 năm đi làm không ai nói với tôi điều đó. Người xung quanh chịu đựng tôi, một số người bằng tuổi nói xấu sau lưng, chế nhạo sự “mất vệ sinh” mà tôi không biết. Họ từ chối lại gần, từ chối kết thân, hoặc coi như là chịu đựng mùi hôi công cộng. Nhưng bạn đã đến và chỉ dẫn tôi về điều xảy ra với cơ thể mình bằng cách dịu dàng và đơn giản. Khi một người chọn cách dũng cảm chăm sóc, họ chấp nhận bạn là ai, họ kiên nhẫn vì bạn, và tạo ra không gian để cả hai cùng sống. Tôi không dự đoán gì về tình bạn với cô đồng nghiệp đó khi nhận chai lăn khử mùi. Nhưng cô đã trở thành bạn hơn chục năm sau đó trong cuộc sống của tôi. Cũng như Bi cầm tay tôi để đoan chắc con Nâu không cắn, cô đi một quãng đường dài giúp tôi học săn sóc bản thân, học cách để trở nên gọn gàng hơn với cơ thể mình, thứ mà đôi khi chính gia đình không ai chỉ dẫn.

Tôi tin rằng tình bạn đã tạo hình cuộc sống của mình. Ngoài những thời gian bi quan về sức khoẻ hay không gian chính trị, tôi luôn cảm thấy sự tồn tại của mình trọn vẹn. Tôi tín thác mình cho đời sống. Niềm vui được ở bên nhau. Cảm giác săn sóc cho nhau tạo ra những hạnh phúc khó hiểu. Có lần, khi tôi bị người yêu đá, bạn tôi nghe xong đã bay sang Bangkok, nơi tôi ở khi đó. Nó dắt tôi đi khắp nơi, nói những điều linh tinh đùa giỡn. Nó ngồi ngoài vỉa hè nghe tôi kể bị đá thế nào, làm sao để sống tiếp. Xong đâu đó, nó về lại Sài Gòn, để tôi tiếp tục suy nghĩ và giải quyết mối tình tồi tệ của mình.

Bạn tôi không hề có ý định giải quyết dùm một sự lằng nhằng cảm xúc. Không ai làm vậy. Kiểu như sự rối ren hay khổ sở tôi trải qua phải do tôi quyết định lấy. Họ chỉ có mặt, ngồi trong nhà cùng nhau, đi bộ bên bờ kênh nhìn tôi khóc hổn hển, hoặc đứng trong nhà nấu ăn, gọi tôi ra ăn sau những giờ kiệt sức.

Những buổi tối nấu cơm ăn cùng và nói về những nỗi sợ của bản thân, cảm giác bất hạnh khó diễn tả thành lời dần rõ ràng hơn. Khi trời sao, chúng tôi nằm ngủ trên đồi và nói về mất mát xây xước trong sự sống của mình. Tôi và bạn bè cùng nhau sống mà không cảm thấy cô độc. Hay còn gì nữa để chúng tôi tiếp tục những mối quan hệ không thực sự có lợi ích gì cho công việc hay tiền bạc?

Bạn để làm gì?

Hồi vào đại học thỉnh thoảng tôi ghé qua những giảng đường nơi diễn giả to tiếng nói về ích lợi của networking, sức mạnh của tình bạn, kỹ năng để networking. Đó là thời điểm tuổi tác chúng tôi ráo riết kết bạn, làm quen, có bạn làm ăn, tìm kiếm đặc ân của những người coi mình là bạn, để có thể hãnh diện giải quyết việc gì đó bằng quan hệ bạn bè thay vì công việc. Tình bạn có thể làm ra tiền. Hãy chỉ kết bạn với người thành công. Hãy đưa ta đến tầng lớp cao bằng cách kết bạn với tầng lớp cao. Vật chất hoá tình bạn là tuyên ngôn mượt mà dễ sử dụng. Bạn bè không phải cha mẹ, anh em, không có gì đáng lo nếu ta phải lợi dụng nó. Bạn bè không phải vợ/chồng/người yêu, tận dụng không hề mang tiếng sở khanh hay đào mỏ. Công thức là, nếu bạn có 100 người bạn thành công, bạn chắc chắn sẽ thành công.


Nhưng ở tuổi đó, tôi vẫn còn nhớ chuyện Bi cầm tay tôi dạy để con Nâu liếm tay. Tình bạn tràn ngập trái tim về điều tốt đẹp tôi được lớn lên cùng. Tôi không nghĩ ra cách nào quy 100 đứa bạn thành công ra tiền.

Thực ra tôi không có 100 người bạn. Tôi đọc sách và biết rằng sau 30 tuổi mỗi người sẽ bớt kết bạn, sẽ thu về các mối quan hệ gia đình hay công việc. Đến khoảng 50 hoặc 60 tuổi, nếu xảy ra biến cố ly hôn hay bạn đời mất hoặc con cái vào đại học, người lớn thường trải qua giai đoạn đơn côi kiệt quệ vì không có bạn nào bên họ nữa. Nhiều người di chuyển qua hướng khác. Những mối quan hệ chỉ còn là công việc. Người bạn mất đi. Sự thật đáng buồn là tôi sẽ không còn dễ dàng kết bạn như hồi Bi đuổi chó cho tôi, và số lượng những người bạn cũng sẽ giảm dần khi ta không còn thấy vui khi ở bên nhau. Cuộc đời sẽ hoá thành gì nếu ta không có bạn?

Một buổi tối khi tôi khoảng 28 tuổi, tôi và vài người bạn cùng đi ăn tối, một truyền thống chúng tôi cố gắng duy trì khi đã đi làm. Trong suốt buổi hôm đó, một người bạn thường xuyên hỏi tất cả những người khác có quen anh A, chị B, anh C mảng này không, giới thiệu đi, xong bạn dùng hai tiếng ăn tối để nói sếp bạn giỏi, sếp khác ngu dốt.

Hết bữa tối ra về, tôi chợt nhớ ra mình không kịp hỏi một đứa vừa sinh con là em bé của nó thế nào. Tôi cũng không hỏi hai đứa còn lại chuyển việc có ổn không. Một khoảng trống hỗng ra trong đầu tôi, những người bạn thân trở thành chân dung rỗng vì tôi không còn hỏi họ đang sống và đã sống thế nào.

Trên taxi trở về nhà, tôi quyết định sẽ không đi ăn tối như vậy nữa. Tôi không thể coi bạn bè là chỗ để networking, nơi chân dung của họ bị đơn giản hóa thành con ốc trong cỗ máy thành công tuổi trẻ, là nấc thang để vươn lên những vị trí mình ao ước. Tôi muốn trở về nhà và có thể tưởng tượng ra chân dung và gương mặt của họ, đã trải qua đời sống và sự vất vả cùng nhau.

Chúng ta có cần bạn không?

Sau 30 tuổi, tôi trở nên ý thức về tình bạn. Tôi không còn thụ động như hồi Bi phải giải cứu tôi khỏi con chó nữa. Tôi phát hiện ra tình bạn đã giúp tôi trở thành một phụ nữ độc lập. Các bạn sẵn sàng chia sẻ hành trình họ trải qua trong cuộc sống, cảm xúc, mâu thuẫn gia đình. Họ nói về điều ít người muốn nói. Nhờ họ, cuộc sống trở thành sự trọn vẹn mà tôi không phải vật lộn với cảm giác trống vắng, đơn độc hoặc bị bỏ rơi.

Một lần ở Mexico, tôi sống ở một nhà trọ vì dịch Covid-19 kéo dài. Khi đang nấu ăn thì có một bạn đi ngang. Cậu hỏi tôi nấu gì. Sau đó ngồi lại chơi. Hoá ra cậu học về triết học, quê ở một hòn đảo nhỏ xa xôi, năm 35 tuổi cậu quyết định sẽ đi lang thang khắp nơi để hiểu về những điều cậu học trong nghiên cứu triết học. Đi từ Ecuador tới Mexico thì toàn thế giới đóng cửa nên cậu cũng ở lại gần nơi tôi sống. Sau đó, cậu đã giảng cho tôi nghe về những gì cậu học, suy nghĩ về thế giới xung quanh. Suốt một tháng, tôi đã được đối thoại với một người có niềm đam mê với triết học và yêu cuộc sống tha thiết. Cậu tiếp tục đi khắp thế giới sau đó, và đến Indonesia thăm tôi khi tôi về nhà.

Tôi đã ngừng lo lắng và cho bản thân mình trò chuyện với người lạ, có thêm bạn mới, dù họ không cùng sở thích, không làm việc cùng mình, không thực sự liên quan hay ảnh hưởng gì đến đời sống hàng ngày mình trải qua. Họ xuất hiện một lúc nào đó, sống cạnh tôi, chia sẻ mỗi ngày, mỗi bình minh, món ăn mới, nói về sự thay đổi của thế giới họ sống. Càng lúc tôi càng thấy rõ hơn chân dung của những vùng đất xa lạ mà tôi thường có định kiến hoặc chỉ nghe qua sách vở.

Gần đây, một người học cùng lớp thạc sĩ với tôi đã lái xe 8 giờ đến chỗ tôi và cùng tôi lướt sóng hai ngày, trước khi bạn trở về lại nhà để vào dạy học kỳ mới. Bạn kể rằng gia đình bạn trải qua một chuyện rất buồn, người bạn quen thân của gia đình đã qua đời vì sốc thuốc [ma tuý], và cả nhà bạn rơi vào khủng hoảng.

Khi bạn tạm biệt và rời đi, tôi không biết khi nào sẽ gặp lại. Tôi không biết bạn có vượt qua nỗi đau mất người bạn đó không. Tôi không biết chúng tôi đã chia sẻ những gì với nhau, vài bữa ăn, vài buổi tập lướt sóng. Bạn khóc giữa biển. Tim tôi thắt lại. Tôi bảo bạn hãy yên tâm, người đó sẽ biết bạn thương bao nhiêu, người sẽ yên tâm ra đi.

Rất nhiều năm tháng, tôi luôn muốn mình vững chãi bước trong đời như một cái cây. Nhưng rồi tôi nhận ra mình ước được đứng bên cạnh những “bạn cây” khác, đi qua mọi rối ren và bất an trong đời. Tôi được làm người yếu đuối, lo sợ, được dặn dò hãy yên tâm rồi chúng ta sẽ làm được mọi điều.

Tôi nhìn vào mắt bạn mình, biết chúng tôi chia sẻ quá khứ và tương lai cho nhau. Chúng tôi không đổi bạn thành tiền hay thành networking. Chúng tôi không sợ trở thành những kẻ thành công không có bạn và trái tim trống rỗng.

Khải Đơn

Nguồn: fbclid=IwY2xjawFNlrRleHRuA2FlbQIxMAABHUt0ioVrc4rbZn7534IaVV_AZmTx6EFLVVMtEiDuYy3nbGrPjpg2he0S0A_aem_AHtbgSNN5_HlYedXpwg7ng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.