Hôm nay,  

Vui thì vui gượng kẻo là…

1/4/202408:10:00(View: 2675)
Tạp bút

old couple

Có một lần, tôi gặp bài của một tác giả viết về nước Mỹ, rất hay rất cảm động, bà ấy nói về chồng bà và gọi ông là « y của tôi », cái cụm từ thật thân mật, y của tôi, nghe hợp thời hơn chồng tôi, anh tôi, nhà tôi… nhứt là trong trường hợp mà tôi đang muốn nói về chồng của bạn mình, thì còn tiện và hay hơn nữa. Thí dụ: Chồng của bạn Liên, tôi gọi là y Liên, chồng của bạn Dung, thì tôi gọi là y Dung, chồng của bạn Thu, thì tôi gọi là y Thu…
    Đúng là nhứt cử lưỡng tiện mà thêm thân tình, không dài dòng hay khách sáo.
    Ô hay, sao không nói hay kể chuyện bạn mình, mà lại đi kể về y của bạn, thiệt ra thì bạn cùng phái, cùng lứa, gặp nhau hoài, giống nhau quá, có gì đâu mà nói! May ra mấy ông chồng có nhiều điểm sắc nét, cá biệt hơn các bà. Đồng ý nhe. Bắt đầu là y Dung, y Dung rất hiền, vui tính, mỗi khi ăn cơm chung ở nhà Dung xong, y Dung vội đứng lên, ân cần hỏi từng người: Bạn A, café nhé? Bạn B, Chocolat sữa? Bạn E, glace hay café đá?
    Anh hỏi cho có lệ, chớ anh nhớ là mỗi đứa đều thích thứ gì rồi. Đó, y Dung rất hiếu khách và rất “serviable“. Y Dung lễ phép có lúc đến như rụt rè, y gọi các bạn của vợ là chị, ok, nhưng có lúc y xưng là em, làm tụi tôi giật mình, tụi này già quá xá hả, hay cớ sao mà y này xuống thấp rất chân phương vậy? Hình như là y có nhỏ hơn tụi tôi một tí tuổi. Không quan trọng, y thiệt thà theo phong tục Việt Nam quý hóa và phải nói là rất khiêm cung.
    Y Dung thích uống rượu, điều đó tự nhiên, ngặt cái có lúc y uống quá tay, say mèm, phải tựa vô ghế mà đứng, nhưng y không nhận là y say dù có đôi lúc y nói loăng quoăng, cũng vô thưởng vô phạt, và y còn chút tỉnh táo, để lý luận giống thi bá Vũ Hoàng Chương:
 
    Trong men cháy
    Giác quan vừa bén lửa
    Say… say không còn biết chi đời
    Nhưng em ơi,
    Đất trời nghiêng ngửa,
    Đất trời nghiêng ngửa,
    Mà thành sầu không sụp đổ đâu em!
   
Thành sầu của y Dung ở đây, y bảo không phải là sầu tình mà là sầu vong quốc! Y Dung rất vui khi được đi Việt Nam làm từ thiện hay cứu trợ y tế. Y hay tháp tùng các hội đoàn bác ái của Missions étrangères de Caritas để thông ngôn, để phát thuốc hay mổ mắt miễn phí cho đồng bào nghèo ở vùng quê vùng núi hẻo lánh, y là thành viên của giáo xứ ma mère mariculeuse. Chỉ khi đi Việt Nam làm việc công ích xã hội là y lanh lẹ, tỉnh táo hẳn lên, đúng là “một sói con sắp sẵn“ lên đường.
    Mới đây, tôi gặp y Dung, y than năm nay ở quê hương Việt Nam, vẫn đầy bão lụt hà rầm, mà không còn ai khởi xướng cứu trợ nữa, vì mấy năm qua có những người đã làm đã mang tiếng, không dám làm nữa, người chưa làm, muốn làm cũng sợ vạ lây. Nhà nước cộng sản thì mặc kệ dân, sống chết kệ dân. Thế giới rầm rộ chuyện chiến tranh bầu cử, ai cũng làm lơ.
    Thấy y buồn, tôi mách y tìm tới câu lạc bộ của Đỗ Quyên. Gọi là câu lạc bộ thì không đúng lắm, mà đó là nhà tư của Đỗ Quyên, nhà rộng rãi khu yên tĩnh và khá sang trọng. Mỗi cuối tuần, chủ nhà làm tiệc, món ăn nhiều và ngon, bầy đầy trên các dãy bàn dài, chả giò, nem nướng, thịt nguội, gỏi, xôi, bánh bao,v.v… Ai muốn dự tiệc, cứ đến và nhớ gọi cho ĐQ một tiếng trước, vì vấn đề an ninh, bạn đến, bạn cứ góp 20 euros và ăn uống tùy thích, ở đó bạn sẽ gặp bạn cũ, có thêm bạn mới, có thể có người cùng bàn thảo quan điểm chính trị, có thể tìm ra bạn tâm đầu ý hợp… và tìm được cả người yêu.
    Mấy bữa sau điện thoại hỏi y: Sao, tới nhà Đỗ Quyên có vui không? Đỗ Quyên là con chim nho nhỏ, có cái cổ màu đỏ xinh xinh. Nói năng rất tình và ưu ái! Chuyện đó biết rồi, mà hỏi y có gặp ai mới vui không?
    À có, có gặp một cái toilette đóng cửa trong kín mít, đập cửa mãi, toilette không chịu mở ra, các bà các cô xếp hàng chờ mãi không được, bí quá phải nối đuôi sang quán café ngoài phố xin cầu cứu…
    Sao Đỗ Quyên lần này kỳ cục vậy?
    Không phải là lỗi ở ĐQ, mà là thằng con trai duy nhất của cô ấy, nó không bằng lòng mẹ nó làm tiệc đãi hoài, nên nó lặng lẽ khóa trái cửa hai nhà vệ sinh lại, rồi bỏ đi chơi xa không nói, thấy cũng vui.
    Sau cùng y kết luận, nói chung ĐQ chịu khó, có thiện chí làm việc cho mình và cho cả mọi người, kẹt cái nhà đông quá, ồn như cái hội chợ, nên con, nó không chịu được.
    Sau y Dung, giờ nói tới y Liên, là chồng của bạn Liên. Y này lanh lẹ lắm, vợ chồng y có tổ ấm ở xa, tận Nice, một lần ba đứa bạn gái tôi rủ nhau xuống thăm Liên và y Liên. Lúc tụi tôi vô tới nhà, y đang bận làm vườn cắt cây cưa cành ngoài vườn rộng. Chập sau xong việc y vô chào, rồi chỉ vô four bếp, nhanh miệng: Chào quý vị, quý vị đi đường xa mệt không? Này, tôi có nướng sẵn mẻ khoai lang mời quý vị, trong lò nướng đó. Khoai ngon đáo để.
    Y có lanh thiệt mà cũng không lẹ bằng tụi tôi, khi sau dòm trong four, không còn một miếng vỏ khoai. Y cười hơi bẽn lẽn: O, cám ơn quý vị tận tình chiếu cố.
    Khoai đã trôi hết vào chỗ vô thủy vô chung…
    Cám ơn, mai tôi sẽ nướng cho một mẻ nhiều gấp đôi chỗ đó.
    Hôm sau thì ăn điểm tâm xong một lúc, y rủ ba đứa tôi ra vườn tập tài chi. Y nổi tiếng về nghề dậy aikido cho dân Tây trẻ quanh vùng y ở. Nhưng hôm đấy, có thấy y Liên dậy võ vẽ gì đâu, y chỉ dậy tụi này đứng, đứng cho vững, đứng trên hai chân, rồi trên một chân và chân kia co, dang theo đủ chiều. Một  hồi có đứa sốt ruột mới hỏi: Võ của anh là võ gì ? Aikido, taekwondo hay judo… hay chỉ có võ đứng thôi?
    Võ tự vệ, võ tấn công hay Việt Võ Đạo… thì trước hết phải tập đứng. Không đứng vững mà ra đòn một cái, rồi té lăn cổ ra đất thì đấu, đá, đỡ được ai.
    Tụi tôi đang xáo xào nhi nhô, thì Liên đứng trong cửa sổ bếp phán rằng: Thôi, dẹp cái trò đó đi, y của tôi ! Tụi nó xuống đây để tâm sự vui buồn với nhà chứ có phải xuống để tập vài miếng võ quèn đó đâu. Lỡ làm sái tay, sái chân nó đi rồi mới là phiền.
    Anh vừa đi vô nhà vừa kể, tôi mới quay lại dậy võ là nghề xưa vài ba năm nay, trước kia tôi chuyên làm hồ sơ giấy tờ cho những người tị nạn ở foyer bên kia đường. Họ là người Việt mình, có cả nhiều người Ấn Độ, Arabe, Tunisie… Họ tội nghiệp cũng như mình, phải bỏ quê hương mà tới đây tạm cư, mặt mày ngây ngô y cây chưa cắn rễ.
    Ngoài việc làm giúp đỡ cộng đồng thiện nguyện, lúc ở nhà, y Liên cũng hay đỡ tay đỡ chân cho Liên trong nhiều công việc nội trợ. Nhưng lúc vui thì làm, lúc buồn, buồn nghĩ về chuyện gì xa xăm là ý ngưng, không thiết động tay động chân nữa.
    Ngày Noël, ngày Tết cuối năm, ngày lịch sử 30-04… y nói y đang bị đắm tàu, y lẩm nhẩm đọc lại đĩa hát “les nauffragés de la liberté“. Liên kể lại trong một năm, y “đắm“ lại một vài lần, còn thường, y siêng tập luyện với học trò. Học trò rất yêu quý y.
    Có một lần đó, Liên bị cảm cúm sao đó, sốt và nằm bẹp trong giường. Y hăm hở nói: Để anh nấu cháo hành cho em ăn là đỡ, anh nấu cháo ngon, nhừ, chín rền. Y đi lấy xoong vo gạo, đổ nước, đặt lên lò và bật bếp, xong, yên trí, y ra salon ngồi vắt vẻo, mở tivi, coi hết đài nọ sang đài kia. Mãi khi có mùi khen khét bay ra, y mới nhớ tới cháo. Liên bảo cháo có khét, không sao, mình hớt lớp cháo trên ra nồi khác. Cháo khê ở đáy nồi bỏ đi. Nhưng y không nghe kịp sao đó, y vội đi lấy cây robot, cắm điện và soẹt… soẹt… soẹt… mấy giây sau, cả nồi cháo đầy, trộn lộn từ trên xuống dưới toàn là mùi khét, màu café… vậy là hai vợ chồng phải ăn cháo khét trong hai ba ngày… cũng ngon, báo hại người bịnh, đắng miệng, ăn cháo kiểu này khó nuốt lắm. Liên thương chồng, cứ vui vẻ ăn cho hết.
    Không kể lâu cái vụ nấu cháo khét, bù lại y Liên làm bếp rất giỏi, y đã từng đứng quán plats à emporter mấy năm mà nuôi nổi các con học xong đại học, chưa kể gửi tiền về giúp gia đình và đồng đội nghèo khó bên nhà.
    Y giỏi nhứt là cái món đùi gà ướp hành tiêu tỏi rồi quết foie gras lên, để thấm kỹ, xong đút lò nướng. Y Liên làm món này rất thơm ngon, mùi bay cùng ngõ, hàng xóm Tây phải sang coi, bắt chước, học nghề, nhưng họ không thể làm ngon qua mặt y Liên được. Nên khi y còn sống, y khoe Giáng Sinh năm nào y cũng có một số khách không đợi mà đến, đặt y là món gà quay hay nướng với gan ngỗng béo. Y khoe là phải nâng niu chăm sóc và kín đáo khía sâu cho gia vị thấm trước một đêm, hôm sau mới bỏ four quay. Y canh đến giờ khách đến lấy là đồ nướng vừa chín, ra lò, vàng, giòn rụm và thơm điếc cả mũi.
    Y có nhiều học trò, có đứa trả tiền đúng cuối tháng, có đứa nghèo, thiếu… mà mãi sau khi y ra đi, vẫn lác đác có đứa mang tiền lại nộp và thẫn thờ.
    Trong một đêm, y bị cảm nhẹ và ra đi vĩnh viễn không kịp từ biệt ai. Chúng tôi, gia đình và học trò đều buồn, thương tiếc, có điều được an ủi là y ra đi lanh lẹ, như có cả phước báu sau cùng trong ngũ phúc của một đời người.
    Y mà tôi kể tiếp theo đây là y Thu, chồng của Thu, y này rất chịu khó làm báo cho hội đoàn, y đánh máy, y viết, y có rất nhiều ý kiến và tư tưởng để viết, y viết lách với các tờ báo ái hữu cộng đồng của chúng tôi một thời dài hơn 20 năm. Y có tài viết về mọi đề tài, kể cả lấy tin tức và bình luận. Ngày ấy, suốt từ thứ hai đến thứ sáu, y đi làm cho một hãng bảo hiểm để nuôi vợ con. Từ chiều thứ sáu là y đã sẵn sàng hiện diện trong cái phòng nhỏ thư viện cho chúng tôi mượn làm trụ sở báo, y Thu chăm chỉ công việc làm cho đấu tranh nhân quyền, tự do cho quê hương Việt Nam. Đi biểu tình ủng hộ tinh thần Trần Văn Bá năm nào anh cũng đến sớm, đi đầu tiên. Y Thu thổ lộ chỉ có những lúc làm việc có ý nghĩa cho quê hương là những lúc y sống thực, thực là con người. Còn cái việc kiếm ăn hàng ngày trên miền đất tạm dung chỉ là lêu bêu, là lục bình trôi vất vuởng, trôi không định hướng, trôi lang thang giữa biển khơi.
    Chúng tôi làm báo là tự lực, dựa trên nhân lực độc lập là tự nguyện của rất nhiều anh chị em sinh viên Việt Nam góp công sức. Các em viết bài, đánh máy, lên trang báo và đi lấy quảng cáo. Dù số trang có hạn, nhưng tháng nào cũng dành vài trang quảng cáo, để lấy tiền trang trải nhà in. Thường thì sinh viên thay nhau đi lấy quảng cáo và gặp chủ nhà hàng, đòi tiền kỳ trước, số tiền này tuy khiêm tốn nhưng góp gió thành bão, cũng được ít nhiều cho thủ quỹ trả công nhà in, đặng còn ra những số tiếp theo.
    Thưa là đi lấy tiền công quảng cáo cũng không dễ. Thường các chủ tiệm hay khất hay đi vắng nhiều lần. Cũng có những người hào phóng trả sòng phẳng và còn ủng hộ đóng góp thêm. Điều này không được quên nói. Nhưng phần những chủ hay khất lần, hẹn tới hẹn lui, thì đi đi lại lại mất công và tốn thì giờ.
    Y Thu có nhiều lần nghe nói đòi tiền quảng cáo hơi khó, y nói, tháng đó, y đi cho. Tháng đó, tháng 12, giáp Tết, y nói y sẽ cố đòi được khá tiền về hy vọng in một số báo xuân đẹp, xôm tụ, dầy và phong phú để ra mắt đồng hương và các cộng đoàn bạn. Y y hẹn mà cuối tuần đó chưa thấy đến trụ sở làm báo. Chúng tôi nghĩ là y bệnh bất ngờ vì đã phải xông pha đòi nợ trong mấy ngày rồi, trời rét đậm đà có tuyết rơi khá dầy. Rồi có đứa đề nghị, mình gọi điện thoại cho anh Hùng, Hùng là tên y, coi ảnh đang ở đâu và có khỏe không? Nhưng điện thoại vừa reo thì y đã tới và đi vô phòng hội, cười, chào mọi người và tháo áo, mũ len treo lên ghế.
    Xin lỗi các bạn, mình kẹt xe…
    Rồi y đặt nhẹ lên bàn một xấp bạc mỏng, hình như là 5 tờ giấy 100 euros.
    Tiền đó nhé, anh thủ quỹ cất đi, nay mai trang trải tiền in.
    Xong y quay ra rót một ly nước trà đầy và ấm anh uống ực một hơi, như vừa nuốt xuôi đi một cục nghẹn.
    Mấy đứa trẻ lao nhao khen lấy khen để: Anh Hùng có duyên quá, kỳ nào đi đòi tiền cũng thành công, lại có nhiều nữa, bravo!
    Ờ, mình có duyên thiệt…
    Cái duyên đi đòi nợ thành công của y Thu, mãi sau này mới nghe nói lại là như vầy: Khi anh tới hỏi xin tiền quảng cáo, ở một tiệm ăn Á Đông lớn giữa khu phố 13, bà chủ mời anh uống nước trước tiên, rồi tiếp theo mới hạ hồi phân giải là: Hàng họ ế ẩm quá, vậy mời các anh ăn phở trừ tiền quảng cáo… được không?
    Thì ra, những lần đi mà không được việc, y toàn bỏ tiền túi ra cho tập thể in báo, y cũng không nói, sợ anh chị em thối chí, mất tinh thần. Giấu mãi rồi có một ngày, có một em sinh viên biết, kể ra, anh chị em ngỡ ngàng, rồi cũng có đứa cắc cớ hỏi: Sao anh không ăn phở đại đi anh Hùng!
    Không, ăn phở và làm báo là hai chuyện riêng rẽ. Rồi từ đó, y phán rằng, in báo, cứ gửi đi, thâu được bao nhiêu, thừa thiếu bao nhiêu, chúng ta, mọi thành viên, mỗi người, nhón tay bỏ vô quỹ ít nhiều tùy khả năng, còn thừa Hùng lấy, thiếu đâu Hùng phụ, đắp đổi cho đủ in, chúng ta góp gió làm bão, mình bỏ ra tí tiền mình được nói cho thiên hạ nghe bao nhiêu điều muốn nói.
    Vì sao ư? Chúng ta là những kẻ đắm tàu, chúng ta không kêu cứu, ai biết đâu ở đâu “au secours!“ Đại để là y Thu can đảm và nặng ký, khá nặng ký. Hay đúng ra, trong cùng một hoàn cảnh, nữ giới đa phần có thể vui cái vui thành đạt của con cái, vui trong công việc làm, trong giao tiếp xã hội, v.v… còn các y, đại để như các y vừa kể trên, các y cũng sống, cũng làm việc thì làm việc đấy, cũng sum vầy con cái đấy, nhưng làm thì làm vậy, vui thì vui vậy, chớ ở môt bên lòng, các y là những kẻ đắm tàu, nặng ký, nhớ lâu nên chìm sâu. Cho nên:
   
Vui thì vui vậy kẻo là
Ai tri ân đó mặn mà cùng ai.
 
Cám ơn cụm từ « y của tôi » của chị Trương Ngọc Bảo Xuân.

 

-- Chúc Thanh

Déc 2023

 

 

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Bà vợ của Martsa đã ra khỏi phòng với thằng bé, còn lại tôi đối mặt với Martsa, không khí trong phòng như cô đặc lại. Toàn bộ sự chú ý của tôi tập trung vào bàn tay phải, tôi nắm chặt cây dao găm. Tôi xua hết ý nghĩ trong tâm trí, chỉ còn trong đầu một ý kiến: giết Martsa để trả thù cho chàng Khampa và cha anh ta...
Đã gần đến Tết. Trời vẫn rét căm căm nhưng có lẽ mùa đông năm nay Seattle không có tuyết. Nhiều năm giờ này băng giá đã phủ kín các cành cây khẳng khiu trụi lá. Toàn cảnh như một cánh rừng bằng pha lê lóng lánh, trông đẹp như trong cảnh thần tiên, nhưng bước ra ngoài trên mặt đất giá băng lại rất nguy hiểm. Trượt té gẫy xương là chuyện thường...
Mấy ngày nay John cứ như một cái xác vô hồn, vẫn ăn uống, vẫn đi làm như mọi người nhưng John chỉ làm theo quán tính; toàn bộ mọi hoạt động và nói năng cứ như thể lập trình sẵn trong người máy chứ không hề có mộtc cảm xúc gì về việc mình làm. Đâu phải chỉ tuần này, đã lâu rồi, cái tình trạng này trong John tiếp diễn khi thì lên cao lúc xuống thấp. John thấy đời mình vô vị và vô nghĩa quá, chẳng biết sống để làm gì...
Không có đồng hồ đeo tay nên tôi chẳng biết Oanh đã vào chợ được bao lâu rồi. Con nhỏ định để tôi chết đứng ở đây. Trời đã trưa, khu chợ vắng dần. Ôm cặp, áo dài trắng đứng trước chợ giờ nầy, chướng ơi là chướng. Tôi cúi mặt, không dám nhìn ai vừa rủa thầm con nhỏ...
Có lời bái hát xưa nào đó mà tôi còn nhớ loáng thoáng trong đầu, “ngoài kia tuyết rơi đầy, sao em không đến bên tôi chiều nay…” chỉ nhớ mỗi câu ấy thôi nên ngân nga cho đỡ buồn khi mỏi mắt nhìn ra cửa sổ… ngoài kia tuyết rơi đầy. Dù sao cũng đỡ nản hơn nhìn vào chỗ làm là những hàng bàn làm việc dài im lặng, những hàng ghế ngồi có bánh xe xếp ngay ngắn; tiếng nói cười của đồng nghiệp hoà quyện vào âm thanh phát ra từ máy móc đã lui về quá khứ như một triều đại huy hoàng đã lụi tàn. Mọi thứ chưa đóng bụi thời gian đã thành phế tích của nền kinh tế đã chết trước cả chính quyền điều hành nó là thực tế nước Mỹ.
Tôi lái xe về nhà, trong lòng nặng trĩu nỗi buồn, thương cho Vi và giận chồng của Vi quá, tôi đâm xe thẳng vào garage và xồng xộc đi vào nhà, chồng tôi có lẽ vẫn đang lúi húi trong bếp nên không thấy tôi. Thay quần áo, nằm lăn trên giường, tôi nghĩ đến những lời Thu nói, nếu như tôi lấy phải một người chồng như của Vi?
Đêm đầu tiên về Saigon vì trái giờ nên khoảng 3 giờ sáng tôi đã thức giấc. Háo hức muốn tìm hiểu cuộc sống ban đêm ở Sài Gòn hoa lệ. Tôi trang bị nhẹ với máy ảnh đi lang thang một mình trên đường phố vắng. Ban đầu hơi ái ngại, tôi chỉ định rảo bộ quanh khách sạn ở Q1 cho an toàn. Ra ngoài khách sạn khoảng trăm thước, tôi thấy mấy chị đạp xe chở hàng có lẽ để bán lẻ ở đâu đó trong thành phố...
Trong tận thâm tâm tôi, thầy là một vì sao sáng, một hiền nhân vô cùng tôn kính giữa nhân gian này. Tôi chưa từng diện kiến hay bái sư nhưng toàn tâm ý của tôi thì thầy là thầy tôi từ quá khứ xa xưa chứ chẳng phải chỉ mỗi kiếp này...
Nằm trên giường tôi vươn vai duỗi chân thật thoải mái làm sao ấy, nhìn lên đồng hồ trên bàn đã 9 giờ sáng, bên ngoài trời Montreal tuyết nhè nhẹ bay trắng xóa thật đẹp. Hôm nay thứ hai đầu tuần, mọi người hàng xóm xung quanh đi làm hết, cả khu nhà yên ắng đến lạ thường, tôi mỉm cười thỏa mãn “mình về hưu rồi mà, phải tự sướng chứ!”
Sau dịp lễ Noel là không khí tháng chạp lấp ló đầu ngõ rồi! Thời tiết mùa đông lạnh lẽo đã dần nhường chỗ cho gió xuân về mơ màng trong sương sớm. Khoảng mùng 5 tháng chạp là mọi người đi tảo mộ đông vui. Đươc gặp bà con, họ hàng nội ngoại chào nhau tíu tít sau một năm tất bật là thấy tết đã sắp sửa cận kề. Tết không chỉ là niềm trông đợi của trẻ thơ mà còn là niềm vui của người lớn. Xưa chừ người ta thường nói vui như tết mà!
Con tàu rú lên tràng còi thất thanh. Âm thanh chuyển từ trầm đục sang cao chói. Chuyện gì vậy. Mọi người hỏi nhau. Sao bỗng dưng còi tàu gầm thét như con thú bị thương vậy. Tàu bỗng dưng chạy chậm hẳn lại. Và tiếng rít của bánh sắt trên đường rầy như mũi khoan nhọn xoáy vào lỗ tai. Người soát vé tất tả chạy trên lối nhỏ giữa hai hàng ghế. Chuyện gì thế ông ơi. Những câu hỏi nhao nhao. Something wrong, very wrong. Mọi người vui lòng ngồi yên tại chỗ. Người soát vé nói vội trước khi mất hút sau khung cửa nối sang toa kế tiếp. Khủng bố hay cầu đường xe lửa bị sập. Mưa lũ đã mấy hôm rồi. Người ta xớn xác hỏi nhau. Tin tức truyền miệng lan nhanh như đám cháy rừng. Không ai biết chắc chuyện gì. Chỉ biết tàu không thể tiếp tục chạy. Nhìn qua cửa sổ, chỉ thấy rừng cây đang vùn vụt dạt về phía sau bỗng chậm dần.
Đọc thơ “nhớ nhà” của Nguyễn Thị Vinh càng thêm nhớ! Ai cũng bảo rằng mùa xuân làm ấm lòng người, nhưng chưa chắc gì. Mùa xuân đó là mùa xuân ở bên ấy, bên Việt Nam họa chăng có ấm lòng, chứ mùa xuân rơi vào tiết mùa đông lạnh lẽo bên trời tây này lạnh vô cùng...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.