Hôm nay,  

Nỗi nhớ mùa Xuân

1/17/202413:11:00(View: 2385)
Tùy bút

bach duong

Ngày  còn nhỏ thích xa nhà

Đi đâu cũng được miễn là được đi.

Lang thang mây chẳng định kỳ,

Có chân không bước ích gì chân ơi

Bây giờ mỏi bước đường đời

Đi đâu cũng chỉ nhớ trời một phương

Cánh hoa gạo đỏ bên đường

Nhớ nhà rưng rức hồn nương mây về…

 

Đọc thơ “nhớ nhà” của Nguyễn Thị Vinh càng thêm nhớ! Ai cũng bảo rằng mùa xuân làm ấm lòng người, nhưng chưa chắc gì. Mùa xuân đó là mùa xuân ở bên ấy, bên Việt Nam họa chăng có ấm lòng, chứ mùa xuân rơi vào tiết mùa đông lạnh lẽo bên trời tây này lạnh vô cùng. Tết ta rơi vào khoảng cuối tháng giêng đầu tháng hai dương lịch, là giữa mùa lạnh, trời xám và không gian có lúc muốn đặc quánh lại. Bước ra khỏi nhà đi làm, tôi ngại cái ngại ngùng dâng thêm khi hơi thở thoát ra khỏi miệng mũi biến thành khói. Cái khăn quàng len dầy, rộng và ấm vẫn không cản nổi hơi lạnh lất phất tạt vào mặt. Tôi đợi xe bus, chỉ năm phút nữa xe đến, tôi sẽ được ung dung ngồi trên nệm xe êm ấm mặc tình ngó ra đường. Qua cửa kính là hàng cây trơ trụi lá, là những bộ hành khoác áo lạnh co ro. Tôi sung sướng ngó ra ngoài không gian mênh mang, không gian như còn ngái ngủ, giấc ngủ đông hàn, thời gian này tôi hoàn toàn được nghỉ ngơi, chân tay không múa may để muốn làm một công việc gì. Xe ngừng. Đèn đỏ. Một con chim se sẻ còn lạc lõng bên bãi cỏ úa bay vút lên. Một cụ già tây khoác áo bành tô đi chậm chậm sang đường, tay chân run run và lưng còng xuống dưới sức nặng thời gian. Tôi chợt nghĩ tới mẹ già ở xa, bên nhà. Mẹ tôi chưa già đến nỗi lụ khụ nhưng đã bước vào tuổi già lâu rồi, tuổi 78, 80, là tuổi thập thò miệng lỗ của người Việt Nam. Mới đây mà tôi xa mẹ tôi đã ba mươi năm. Tôi vẫn đinh ninh là ngày mẹ tôi ra đi, chẳng chắc gì tôi về kịp. Còn ngày tôi ra đi, mẹ tôi có viết cho tôi một lá thư dài mang theo đọc giữa đường, thì tôi chưa kịp đọc, lúc chộn rộn đã bị bọn hải tặc ăn cướp lấy đi cùng với gói hành lý, áo quần và chút lương khô. Chuyện này tôi không hề kể lại nên chẳng bao giờ mẹ tôi hay và người cứ đinh ninh là tôi luôn luôn có lá thư của người bên mình, để nương theo mà sống, sống như mẹ tôi căn dặn. Cứ lâu lâu viết thư sang, mẹ lại nhắc nhở: Con có nhớ làm theo những điều mẹ dặn, cái độ mẹ con chia tay đó không? để trấn an người, thư nào tôi cũng nói: Con luôn nghe lời mẹ dậy. Rồi tôi lại nao nao trong dạ, thì ra mình chỉ hứa hão hứa huyền, chứ có bao giờ biết mẹ dậy bảo ra sao đâu tôi cũng có lần trách cái bọn hải tặc, vô ý vô tứ, cướp cả cái thư mẹ tôi viết, nào ích lợi gì cho chúng đâu. Tôi cũng lẩn thẩn tự hỏi sao mẹ tôi không viết gọn gàng như Nhã Ca kể trong truyện ngắn của bà, thì hay hơn biết mấy, viết làm chi một lá thư dài lòng thòng, để rồi mất đi và tôi ân hận suốt cuộc đời, Nhã Ca đã kể truyện ngắn của bà như sau: Hai người yêu thương nhau chia tay, một người ở lại, một người vượt biên. Người ở lại viết cho người đi một tờ thư, để người ra đi mang theo lời nhắn nhủ thân tình. Ra tới giữa biển khơi, thập phần nguy hiểm, cũng sau ít ngày bị giông bão và cướp biển giập vùi, tinh thần sa sút. Người ra đi chợt vô tình thò tay vào túi áo, vô tình đụng phải mẩu giấy thì nhớ ra là thư của người yêu viết. Cô vội rút ra, tờ thơ chỉ vỏn vẹn có hai câu thơ láy theo Xuân Diệu: « Người đi một nửa hồn tôi chết, Một nửa hồn kia đợi lãnh quà ».
    Nhờ giọng điệu ý nhị đó, hoàn cảnh và tâm tư nàng bớt bi thảm phần nào. Sau đó thì nghịch cảnh có tới lui là do số mệnh.
    Nhưng mẹ tôi nào phải thi sĩ hay văn sĩ. Bà chan chứa tình yêu, nhưng mộc mạc giản dị như tất cả các bà mẹ Việt Nam. Bà hỏi tôi chỗ ở người tây có dễ chịu không. Có đông đồng hương không. Cây cỏ có những thứ nào giống bên nhà không. Tôi đã nói với bà là ở đây có đủ thứ, không thiếu một món gì từ món ăn như rau muống, cà pháo, mắm thái tới áo quần, lụa, vải, gấm và các cửa tiệm may áo dài, khăn đóng, bánh hỏi, bánh cốm, bánh cuốn, giò chả. Bà cũng hỏi bên này có trồng được tre trúc, cây kiểng không. Cây gì cũng có, tre trúc thì rất nhiều, ở trong rừng Saint-Germain en Laye người ta trồng hàng hàng lớp lớp. Hiện giờ, thì ở đây, nơi tôi đang sống, đối diện với Saint-Germain en Laye bên bờ sông Marne, các tư gia trồng cây của xứ họ, cây magnolia khá cao lớn, cây glycine thì vắt vẻo… Thỉnh thoảng có xen kẽ một bụi trúc ngà xinh xắn. Cây trúc lúc đầu èo uột, bây giờ đã thích ứng mạnh mẽ và sinh sôi nẩy nở thành bụi lớn thành hàng rào bên xứ tây. Tôi gửi cho mẹ tôi một tấm ảnh chụp bụi trúc trong khuôn viên nhà thờ Chatou, mẹ tôi tấm tắc khen, cái loại tre trúc thât kỳ lạ, nó có thể hiện diện bất cứ chỗ nào trên trái đất, nó cũng vẫn hợp, thân thẳng cành lá thẳng lao xao trong gió, màu xanh cũng tươi mát, ngả màu vàng càng đẹp như lụa. Rồi mẹ tôi hỏi ở bên tây loại cây nào rất tiêu biểu và giữ địa vị thuần thục với đất nước như cây tre cây trúc ở Việt Nam. Tôi thưa với mẹ đó là cây dương, cây bạch dương. Người tây đi xa về tới, cứ thấp thoáng thấy các cây bạch dương ẩn hiện đong đưa vẫy gọi đằng kia là họ mừng lắm: Nhà đây rồi, tới nhà rồi!
    Đường dẫn vào nhà chúng tôi, ở nơi này, thênh thang và có tọa lạc cả một hàng cây bạch dương, rất thoáng mát, rất tây, gió cứ lồng lộng từ dưới lên cao. Phải công nhận cây bạch dương đẹp nhất ở xứ này. Thân cây cao vun vút, cành cây mảnh mai cũng cao vun vút. Nom hùng dũng và giỏi chịu đựng hơn cả cây thông. Cây thông có loại buồn ủ rũ như đứng để tang ngàn đời. Bạch dương cao, thẳng, với cả vòm lá chĩa thẳng lên trời, ban đêm thì thầm tâm sự với trăng sao, ban ngày đối thoại cùng mây gió, nó có thể níu lại những đám mây bạc lởn vởn để tỏ tình âu yếm trên cao.
    Cũng đáng tiếc, khi xưa, còn sinh tiền cụ Nguyễn Công Trứ, cụ đã không trông thấy cây bạch dương để làm thơ. Cây dương không lạnh lẽo, cây dương nồng nàn tình cảm như lòng mẹ yêu con. Khi phong ba nổi lên, lá cây múa loạn reo vui từng hồi như sung sướng vẫy tay rối rít. Gió mạnh hơn chỉ đủ làm cả khối cây nghiêng ngả trong chốc lát, rồi lại đứng thẳng thi gan với thiên nhiên và không hề phàn nàn nhân thế.
    Tôi khoe với mẹ tôi về cây bạch dương, rồi một hôm kia may mắn thay, tôi có một tấm ảnh chụp sát bên rặng dương ở đầu ngõ dẫn vào xóm nhà tôi, bóng cây mùa hè như một cây chổi lau dựng ngược, hai mặt lá xanh và trắng thi nhau lấp lánh. Tôi gửi cho mẹ và viết ở mặt sau: « Chúng như thế đó, ngay lối cổng dẫn vào nhà chúng con, khi chúng con dọn vế đây, chúng mới được trồng. Đã mười năm qua đi, chúng bỗng thi nhau lớn vụt lên. Con yêu hàng cây bạch dương vì chúng rất gần gũi, mỗi khi chúng con làm về, chúng luôn sẵn sàng đón, 10 cây không bao giờ có một cây nào vắng mặt… »
    Mẹ tôi thấy tôi quý chúng nên giả lả khen tíu tít: « Loại cây chi mà đẹp lạ lùng, mọc mạnh và tàn lá gọn gàng, lấp la lấp lánh đến hay. Nó cứng lắm hả? Phải khi xưa mẹ còn nuôi con heo nái mà bên mình có cái cây này, ta bẻ về vài cành, đuổi ruồi đuổi muỗi, treo đong đưa ở cửa chuồng heo thì tốt biết mấy ».
    Đến mùa đông, gần tết ta, thì tôi nói cho mẹ hay là lá bạch dương đã rụng hết rồi, nó chỉ còn là những cành trơ trụi. Mẹ tôi xúc động mạnh khi nghe những cành cây trụi lủi, y những bộ xương khô. Tôi biết, vì người đã gửi cho tôi một tấm thiệp mừng Noël in hình rặng cây khẳng khiu mà nói rằng: « Cây mùa hè là bóng mát che chở, mùa đông là mẹ già cằn cỗi ngủ yên mà không chết con ạ… » Bà không trông thấy hàng cây nhưng bà vẫn có thể nói với tôi thật nhiều chuyện, y thể là những cây dương đó, rơi lả tả lá vào mùa thu, để rồi mọc lại vào mùa xuân là chính do tay bà trồng từ thuở nào, từ tiền kiếp. Ở nơi xa xăm đó, bà tưởng tượng như lúc nào cũng có hàng bạch dương ở gần, ngay tầm mắt và có tôi tươi cười ngả đầu tựa bên vòm lá xum xuê. Bà bảo là bà thấy chúng vô cùng đẹp vì chúng có diễm phúc sống gần một bên tôi, còn bà thì không. Tội nghiệp! Mẹ tôi chấp nhận sống xa lắc xa lơ các con.
    Trong giấc ngủ êm đềm, tôi trở về nhà như mọi ngày, rõ ràng tôi thấy mẹ tôi đứng đợi bên hàng bạch dương, cây lá trắng và xanh lấp la lấp lánh, áo mẹ tôi vàng như nắng chiều và tóc mẹ tôi bới cao hơi bồng bềnh, một vài sợi lưa thưa rơi xuống vầng trán rộng. Mười cây bạch dương vẫn xếp hàng thẳng tắp, chúng đứng sẵn đó như bao giờ, đợi chờ, không thiếu một cây.
 

– Chúc Thanh

Mùa Xuân rất nhớ, Paris lập đông, Xuân Giáp Thìn

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Bà vợ của Martsa đã ra khỏi phòng với thằng bé, còn lại tôi đối mặt với Martsa, không khí trong phòng như cô đặc lại. Toàn bộ sự chú ý của tôi tập trung vào bàn tay phải, tôi nắm chặt cây dao găm. Tôi xua hết ý nghĩ trong tâm trí, chỉ còn trong đầu một ý kiến: giết Martsa để trả thù cho chàng Khampa và cha anh ta...
Đã gần đến Tết. Trời vẫn rét căm căm nhưng có lẽ mùa đông năm nay Seattle không có tuyết. Nhiều năm giờ này băng giá đã phủ kín các cành cây khẳng khiu trụi lá. Toàn cảnh như một cánh rừng bằng pha lê lóng lánh, trông đẹp như trong cảnh thần tiên, nhưng bước ra ngoài trên mặt đất giá băng lại rất nguy hiểm. Trượt té gẫy xương là chuyện thường...
Mấy ngày nay John cứ như một cái xác vô hồn, vẫn ăn uống, vẫn đi làm như mọi người nhưng John chỉ làm theo quán tính; toàn bộ mọi hoạt động và nói năng cứ như thể lập trình sẵn trong người máy chứ không hề có mộtc cảm xúc gì về việc mình làm. Đâu phải chỉ tuần này, đã lâu rồi, cái tình trạng này trong John tiếp diễn khi thì lên cao lúc xuống thấp. John thấy đời mình vô vị và vô nghĩa quá, chẳng biết sống để làm gì...
Không có đồng hồ đeo tay nên tôi chẳng biết Oanh đã vào chợ được bao lâu rồi. Con nhỏ định để tôi chết đứng ở đây. Trời đã trưa, khu chợ vắng dần. Ôm cặp, áo dài trắng đứng trước chợ giờ nầy, chướng ơi là chướng. Tôi cúi mặt, không dám nhìn ai vừa rủa thầm con nhỏ...
Có lời bái hát xưa nào đó mà tôi còn nhớ loáng thoáng trong đầu, “ngoài kia tuyết rơi đầy, sao em không đến bên tôi chiều nay…” chỉ nhớ mỗi câu ấy thôi nên ngân nga cho đỡ buồn khi mỏi mắt nhìn ra cửa sổ… ngoài kia tuyết rơi đầy. Dù sao cũng đỡ nản hơn nhìn vào chỗ làm là những hàng bàn làm việc dài im lặng, những hàng ghế ngồi có bánh xe xếp ngay ngắn; tiếng nói cười của đồng nghiệp hoà quyện vào âm thanh phát ra từ máy móc đã lui về quá khứ như một triều đại huy hoàng đã lụi tàn. Mọi thứ chưa đóng bụi thời gian đã thành phế tích của nền kinh tế đã chết trước cả chính quyền điều hành nó là thực tế nước Mỹ.
Tôi lái xe về nhà, trong lòng nặng trĩu nỗi buồn, thương cho Vi và giận chồng của Vi quá, tôi đâm xe thẳng vào garage và xồng xộc đi vào nhà, chồng tôi có lẽ vẫn đang lúi húi trong bếp nên không thấy tôi. Thay quần áo, nằm lăn trên giường, tôi nghĩ đến những lời Thu nói, nếu như tôi lấy phải một người chồng như của Vi?
Đêm đầu tiên về Saigon vì trái giờ nên khoảng 3 giờ sáng tôi đã thức giấc. Háo hức muốn tìm hiểu cuộc sống ban đêm ở Sài Gòn hoa lệ. Tôi trang bị nhẹ với máy ảnh đi lang thang một mình trên đường phố vắng. Ban đầu hơi ái ngại, tôi chỉ định rảo bộ quanh khách sạn ở Q1 cho an toàn. Ra ngoài khách sạn khoảng trăm thước, tôi thấy mấy chị đạp xe chở hàng có lẽ để bán lẻ ở đâu đó trong thành phố...
Trong tận thâm tâm tôi, thầy là một vì sao sáng, một hiền nhân vô cùng tôn kính giữa nhân gian này. Tôi chưa từng diện kiến hay bái sư nhưng toàn tâm ý của tôi thì thầy là thầy tôi từ quá khứ xa xưa chứ chẳng phải chỉ mỗi kiếp này...
Nằm trên giường tôi vươn vai duỗi chân thật thoải mái làm sao ấy, nhìn lên đồng hồ trên bàn đã 9 giờ sáng, bên ngoài trời Montreal tuyết nhè nhẹ bay trắng xóa thật đẹp. Hôm nay thứ hai đầu tuần, mọi người hàng xóm xung quanh đi làm hết, cả khu nhà yên ắng đến lạ thường, tôi mỉm cười thỏa mãn “mình về hưu rồi mà, phải tự sướng chứ!”
Sau dịp lễ Noel là không khí tháng chạp lấp ló đầu ngõ rồi! Thời tiết mùa đông lạnh lẽo đã dần nhường chỗ cho gió xuân về mơ màng trong sương sớm. Khoảng mùng 5 tháng chạp là mọi người đi tảo mộ đông vui. Đươc gặp bà con, họ hàng nội ngoại chào nhau tíu tít sau một năm tất bật là thấy tết đã sắp sửa cận kề. Tết không chỉ là niềm trông đợi của trẻ thơ mà còn là niềm vui của người lớn. Xưa chừ người ta thường nói vui như tết mà!
Con tàu rú lên tràng còi thất thanh. Âm thanh chuyển từ trầm đục sang cao chói. Chuyện gì vậy. Mọi người hỏi nhau. Sao bỗng dưng còi tàu gầm thét như con thú bị thương vậy. Tàu bỗng dưng chạy chậm hẳn lại. Và tiếng rít của bánh sắt trên đường rầy như mũi khoan nhọn xoáy vào lỗ tai. Người soát vé tất tả chạy trên lối nhỏ giữa hai hàng ghế. Chuyện gì thế ông ơi. Những câu hỏi nhao nhao. Something wrong, very wrong. Mọi người vui lòng ngồi yên tại chỗ. Người soát vé nói vội trước khi mất hút sau khung cửa nối sang toa kế tiếp. Khủng bố hay cầu đường xe lửa bị sập. Mưa lũ đã mấy hôm rồi. Người ta xớn xác hỏi nhau. Tin tức truyền miệng lan nhanh như đám cháy rừng. Không ai biết chắc chuyện gì. Chỉ biết tàu không thể tiếp tục chạy. Nhìn qua cửa sổ, chỉ thấy rừng cây đang vùn vụt dạt về phía sau bỗng chậm dần.
Bà Hai Kỹ lơ mơ ngái ngủ thò chân xuống giường, chợt giật nảy cả người, nước đâu mà linh láng ngập đến tận ống quyển vậy trời. Bà tỉnh ngủ hẳn, hoảng hốt la to: – Dậy, dậy mau, nước vô ngập nhà rồi!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.