Hôm nay,  

Cái Chết Của Kẻ Mơ Mộng

20/12/201910:08:00(Xem: 8450)

 

cai chet cua mot ke mo mong
Hình minh họa: Đinh Trường Chinh

 

Tôi từng bị ám ảnh không biết sau khi mình chết đi thì mọi việc sẽ như thế nào. Và thế là vào một đêm, tôi quyết định giả chết.
Tôi tập xuất hồn ra khỏi xác giống như việc bạn tách múi sầu riêng ra khỏi vỏ của nó vậy. Người ta đưa xác tôi vào bệnh viện. Tôi nghe họ nói cần làm giải phẩu để tìm nguyên nhân khiến một thằng đang khoẻ mạnh bỗng đột nhiên lăn đùng ra tắt thở. Họ nghi ngờ tôi chết không minh bạch.
Khi linh hồn tôi tách ra khỏi thân xác, vì quá yếu nên bị vướng lại trong một căn phòng. Tôi thấy mình bị bao phủ bởi một chiếc lưới bùng nhùng được đan bằng vô vàn ký tự. Phải mất một lúc sau đó tôi mới nhận ra những ký tự nọ xuất phát từ mớ chữ trong các câu chuyện tôi đang viết dở. Trong đó có cả những ký tự từ thời xa xưa tôi viết giùm thư tình cho đám bạn học để chúng trả tiền cà phê sáng cho tôi. Các con chữ nằm lộn xộn và trông có vẻ vô hại theo một cách nào đó. Còn ý nghĩa của chúng là gì khi ghép lại với nhau, điều đó thuộc về một bí mật khác. Tôi nghĩ chúng không liên quan gì đến việc đột nhiên tôi muốn chết.
Lúc đầu tôi đâm hoảng thật sự. Tôi biết sẽ không ai có thể giúp được linh hồn tôi thoát khỏi căn nhà của mình. Những người thân của tôi thì đang bận. Họ lúc nào cũng bận biụ. Nếu không phải đi làm, chắc họ sẽ rủ nhau đi picnic hoặc ngủ chẳng hạn. Nhiều người nhầm lẫn khi nói nghỉ ngơi không phải là thứ công việc. Còn nếu không có việc gì để làm, chắc họ sẽ đến than khóc bên cái xác của tôi trong bệnh viện. Ấy là tôi nghĩ thế. Đến giờ, nhiều người trong chúng ta vẫn còn tin rằng nước mắt có thể làm cho người chết sống lại. Nhưng nếu có mặt ở đây, chắc họ cũng không thể giúp được gì. Bởi lẽ không một người sống nào có thể nghe được tiếng nói của linh hồn.
Ngôi nhà vắng đến rợn người. Linh hồn tôi cứ lơ lửng trong phòng. Đầu tiên tôi nhìn thấy lũ kiến. Chúng bò dọc theo các bức tường lên trần nhà. Có vẻ chúng đang cố tiến về phía tôi. Lẽ ra chỗ của chúng là ở nhà bếp, nơi những mẫu thức ăn thừa còn vương lại sau bữa tối. Chắc lũ khốn đã ngửi thấy mùi tử khí. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa chúng sẽ xơi tái tôi.
Trước nhà, những người hàng xóm vẫn còn đứng nán lại sau khi xe cứu thương đã đưa xác tôi đi. Họ ngạc nhiên lẫn tò mò khi tin tôi chết. Trong câu chuyện trao đổi giữa họ, tôi là một người hoàn toàn lập dị và hơi điên rồ. Có một bà sồn sồn nói chính mắt trông thấy tôi đứng đái vào khóm hoa trước nhà mẻ vào lúc nửa đêm. Trong khi tay hàng xóm lại nói nhiều lần muốn gọi cảnh sát hốt tôi vào khám vì thói quen hay tụ tập bạn bè ồn ào mỗi cuối tuần. Hắn qủa quyết từ ngày tôi dọn về đây sống, bệnh mất ngủ của hắn ngày một nặng thêm. Hắn còn nói tôi nốc rượu như hũ chìm và hay lảm nhảm đọc thơ, lời lẽ rối rắm đến Chúa cũng không hiểu được.


Tất nhiên là tôi rất giận khi nghe hắn nói. Cái thằng khốn ấy chuyên đến uống rượu ké nhà tôi không biết bao nhiêu lần. Tôi nhớ hắn còn bảo tôi là láng giềng tốt nhất của hắn. Nếu biết trước như thế này chắc tôi đã bán nhà tếch đến một vùng biển nào đó bán hot dog và nằm nghe sóng vỗ còn hơn. Không ai có thể sống nổi với những tay hàng xóm suốt ngày hăm he đòi tống mình vào tù.
Tôi giận đến nỗi không muốn chết nữa. Bằng một ý chí mạnh mẽ, linh hồn tôi bỗng thoát được ra khỏi căn phòng và lao đến bệnh viện.
Tôi tỉnh dậy vừa kịp lúc tay bác sĩ giơ con dao mổ rạch vết cắt đầu tiên vào chỗ trái tim tôi nơi lồng ngực...
Khi mở mắt, điều đầu tiên tôi thấy được là những vòm sáng yếu ớt từ các ngọn đèn trong phòng mổ. Chúng hắt ra thứ áng sáng xanh kỳ dị như không có thật. Có vài bóng người trong phòng. Họ mặc những chiếc áo choàng liền thân, trông có vẻ cùng màu với thứ ánh sáng mơ hồ kia. Tất cả đều mang khẩu trang kín mít, chỉ chừa lại đôi mắt. Người đàn ông đứng gần tôi nhất về phía bên trái, trên tay đang nắm một thứ dụng cụ trông rất kỳ lạ. Nó trông giống con dao bạn thường dùng để cắt beefsteak nhưng lưỡi mảnh hơn và phần mũi cong hẳn về phía trên như ngọn mác. Cái vật nhỏ nhắn ấy không ngừng toát ra thứ ánh sáng lạnh lẽo đến vô tình khiến chân lông tôi dựng lên. Người đàn ông mở khẩu trang và nói gì đó với tôi. Từng chuỗi âm thanh xô đẩy nhau, loãng ra rồi tắt ngấm trên khuôn mặt với hàm râu quai nón rậm rịt. Tôi thấy mí mắt mình nặng dần và khép hẳn lại. Có điều gì đó trống rỗng lại vừa xa vắng xâm chiếm tâm hồn tôi.
" Con kêu ba đi," người đàn bà chỉ tay vào tôi và nói với đứa bé chừng bốn tuổi khi cả hai đứng sát bên giường bệnh....
" Anh thật không nhớ em và con sao?"
Khuôn mặt người đàn bà và đứa trẻ trông vừa thân thiết lại vừa xa lạ. Trong phần tối tăm của ký ức tôi như có ánh chớp thoáng qua rồi mất hút. Tôi như người đang chìm sâu trong huyễn cảnh không tìm thấy lối ra, bỏ lại quá khứ trong khoảng trống phía sau cánh cửa đã được đóng kín.
Người đàn bà nhìn tôi một lúc, xong bước đến chỗ chiếc ghế vải dành cho khách thăm nơi góc phòng và ngồi xuống. Tay bà ta ôm chặt đứa trẻ vào lòng như thể nếu không làm thế đứa bé sẽ rời xa, thậm chí biến mất. Đôi mắt người đàn bà ngấn nước và phảng phất một nỗi hoang mang vô hạn. Khuôn mặt người đàn bà còn khá trẻ, nhưng với làn da tái xanh và cử chỉ mệt mỏi kia, có điều gì đó khiến tôi nghĩ bà ta vừa chợt đánh mất cả tuổi xuân của mình ngày hôm qua.
Rất nhiều tháng sau đó, ở một khu ngoại ô buồn tẻ nọ, người ta thấy có một người đàn ông hàng ngày ngồi thẩn thờ trước hiên nhà, trên tay thỉnh thoảng lại cầm chiếc gương soi như đang tập làm quen với khuôn mặt của mình.

 

Nguyễn Văn

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.