Hôm nay,  

Ai có thể làm chói sáng cõi này? / Who can illuminate this world?

01/03/202520:47:00(Xem: 6616)
blank
 
Ai có thể làm chói sáng cõi này?
   
Nguyên Giác

   
Khi chúng ta đọc Kinh Phật, thường gặp những hình ảnh nói về sự chói sáng. Có Kinh nói rằng, nguồn của ánh sáng là Đức Phật, sáng hơn cả mặt trời và mặt trăng. Đó là Kinh SN 1.26 Sutta. Trong khi đó, Kinh AN 1.41-50 Sutta nói rằng nguồn của ánh sáng là tâm vốn có sẵn tánh sáng chói, nhưng bị bụi cấu uế bám vào, và tâm này sẽ chói sáng sau khi gột rửa bụi.
   
Trong một hình ảnh khác, chúng ta đọc thấy Kinh AN 4.7 Sutta ghi rằng, ngay cả người nam cữ sĩ và nữ cư sĩ, giữ năm giới và hành trì Chánh pháp là cũng đủ để hiển lộ ánh sáng trong tứ chúng. Nghĩa là, chưa phải là bậc giải thoát, chúng ta cũng có thể làm chói sáng những nơi chúng ta bước vào. Thực vậy, rất nhiều Kinh ghi rằng, một vị cõi thiên khi hiện ra đều làm chói sáng một góc rừng. Chúng ta đều biết rằng, các vị thiên chủ yếu là có phước đức, nhưng chưa hẳn là họ có đủ trí tuệ giải thoát.
   
Có một kinh rất đặc biệt nói về ánh sáng: Kinh MN 32 Sutta ghi câu hỏi của ngài Sāriputta rằng hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Điều lý thú là, có nhiều câu trả lời.
   
. Ngài Ananda trả lời rằng nhà sư học nhiều sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Revata trả lời rằng nhà sư ưa nơi u tịch, thiền định thường trực trong chỉ và quán sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Anuruddha nói rằng nhà sư nào đắc thiên nhãn thần thông sẽ có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga.
. Ngài Kassapa nói rằng vị sư nào sống hạnh đầu đà, giới hạnh viên mãn, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga. Điều chú ý: hạnh đầu đà mà Ngài Kassapa nói nơi đây là ẩn cư trong núi rừng, không nói về du hành đường xa.
. Ngài Moggallāna nói rằng các vị sư giỏi về luận thuyết, xuất sắc tranh biện, nắm vững các pháp A Tỳ Đàm, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Sāriputta nói rằng nhà sư nào điều phục được tâm dễ dàng trong sáng, trưa, chiều, tối là sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Như thế là sáu câu trả lời từ sáu vị tăng nổi bật của Thế Tôn. Quý ngài thắc mắc, nên tới kể lại cho Đức Phật. Câu trả lời của Đức Phật đơn giản rằng, cả sáu câu trả lời đều đúng, rằng sáu khuynh hướng tu hánh tinh tấn như thế đều có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Rồi Đức Phật cho câu trả lời thứ bảy, rằng bất kỳ vị sư nào tinh tấn thiền định đều có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Nơi đây, chúng ta sẽ tuần tự nói về các Kinh vừa dẫn. Tất cả phần tiếng Việt là từ bản dịch của Thầy Minh Châu.
   
Trong Kinh SN 1.26 Sutta, Đức Phật nói rằng ngài là nguồn sáng tối thắng, sáng hôn mặt trời, mặt trăng, lửa cháy. Kinh SN 1.26 Sutta ghi như sau:
   
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Đêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này, sáng vô thượng.
   
Trong Kinh AN 1.41-50 Sutta, Đức Phật nói về tâm sáng chói khi gột sạch cấu uế. Kinh AN 1.41-50 Sutta ghi như sau.
   
"Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.
Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào."
   
Trong khi đó, Kinh AN 4.7 Sutta ghi lời Đức Phật dạy rằng bất kỳ vị sư, vị ni, vị nam cư sĩ, và vị nữ cư sĩ nào cũng có thể làm chói sáng được. Kinh AN 4.7 Sutta ghi như sau:
   
"Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Thế nào là bốn?
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, … nam cư sĩ, này các Tỷ-kheo, … , nữ cư sĩ, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng."
   
Trong khi đó, trong Kinh MN 32 Sutta Tôn giả Sāriputta nêu câu hỏi: Hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
   
Ngài Ananda đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Revata đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Anuruddha đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Kassapa đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Moggallāna đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”
   
Ngài Sāriputta đáp: "Ở đây, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallāna, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Thế rồi các vị sư tới hỏi Đức Phật, và được trả lời như sau: "Này Sāriputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sāriputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Tất cả các Kinh vừa dẫn trên, cho thấy rằng bất kỳ Phật tử nào, dù là tu sĩ hay cư sĩ, khi giữ giới hạnh và tu hành tinh tấn, đều có thể làm chói sáng một khu rừng. Và hình ảnh khu rừng nơi đây có thể hiểu là một khu rừng trong thiên nhiên, và cũng có thể hiểu là khu rừng trong tâm.
   
.... o ....
.... o ....
 
Who can illuminate this world?
   
Written and translated by Nguyên Giác

 
When we read the Buddhist scriptures, we frequently encounter imagery of radiance. One sutra states that the source of light is the Buddha, who is brighter than both the sun and the moon; this statement is found in the SN 1.26 Sutta. In contrast, the AN 1.41-50 Sutta asserts that the source of light is the mind, which is inherently luminous but obscured by defilements. This mind will shine once it has been purified of those impurities.
 
In another image, we read in the AN 4.7 Sutta that even male and female lay followers who observe the five precepts and practice the Dharma are capable of manifesting light within the four groups. This means that even if we have not yet attained liberation, we can still illuminate the spaces we enter. Indeed, many Suttas document that when a deva appears, he illuminates a corner of the forest. We all understand that devas are primarily endowed with virtue, but they do not necessarily possess liberating wisdom.

 
There is an exceptional sutta that discusses radiance: the MN 32 Sutta records Sāriputta's inquiry regarding what type of bhikkhu could illuminate the Gosinga forest. Interestingly, there are numerous answers provided.
 
. Venerable Ananda replied that a knowledgeable monk would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Venerable Revata replied that a monk who embraces solitude and consistently meditates in both samatha and vipassana would be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Anuruddha stated that a monk who has attained the supernatural power of the divine eye would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Kassapa stated that any monk who embraces the Dhutanga life—a life of asceticism and perfect morality—will be able to illuminate the Gosinga forest. It is important to note that the Dhutanga life Kassapa refers to involves living in seclusion in the mountains and forests rather than traveling great distances.
. Venerable Moggallāna stated that monks who excel in argumentation, are skilled in debate, and possess a profound understanding of the Abhidharma will be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Sāriputta stated that monks who can easily control their minds throughout the morning, noon, afternoon, and night will be able to illuminate the Gosinga forest.
 
These were the six responses from the six esteemed monks of the Buddha. The monks were perplexed, so they approached the Buddha to seek clarification. The Buddha's response was straightforward: all six answers were correct, as these six tendencies of diligent practice could illuminate the Gosinga forest. He then provided a seventh insight, stating that any monk who meditates diligently could also illuminate the Gosinga forest.
 
Here, we will sequentially quote from the previously cited Suttas.
 
In the SN 1.26 Sutta, the Buddha states that he is the supreme light, brighter than the sun, the moon, and fire. The SN 1.26 Sutta is presented as follows, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
 
“There are four sources of light in the world;
A fifth one is not found here.
The sun shines by day,
The moon glows at night,
And fire flares up here and there
Both by day and at night.
But the Buddha is the best of those that shine:
He is the light unsurpassed.”
 
In the AN 1.41-50 Sutta, the Buddha spoke of the mind being clear and bright when it is free from defilements. The AN 1.41-50 Sutta reads as follows, according to Thanissaro Bhikkhu's translation.
 
“Luminous, monks, is the mind. And it is defiled by incoming defilements.”
“Luminous, monks, is the mind. And it is freed from incoming defilements.”
 
Meanwhile, the AN 4.7 Sutta records the Buddha's teaching that any monk, nun, male lay follower, or female lay follower can shine. The AN 4.7 Sutta states the following, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
   
“Bhikkhus, these four kinds of persons who are competent, disciplined, self-confident, learned, experts on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorn the Saṅgha. What four?
(1) “A bhikkhu who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha. (2) A bhikkhunī who is competent … (3) A male lay follower who is competent … (4) A female lay follower who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha."
 
Meanwhile, in the MN 32 Sutta, Venerable Sāriputta asks, "What kind of monastic can illuminate the Gosinga forest?" The following answers are according to the translation by I.B. Horner.
 
Venerable Ananda replied: “In this case, reverend Sāriputta, a monk comes to be one who has heard much, who masters what he has heard, who stores what he has heard; those teachings which are lovely at the beginning, lovely in the middle, lovely at the end, which with the spirit and the letter declare the Brahma-faring which is completely fulfilled, utterly pure-such teachings come to be much heard by him, borne in mind, repeated out loud, pondered over in the mind, well comprehended by view; he teaches Dhamma to the four assemblies with correct and fluent lines and sentences for the rooting out of (latent) propensities. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Revata replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk delights in solitary meditation, he is delighted by solitary meditation, he is intent on mental tranquillity within, his meditation is uninterrupted, he is endowed with vision, a cultivator of empty places. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Anuruddha replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk surveys the thousand worlds with purified deva-vision surpassing that of men. Reverend Sāriputta, as a man with vision might survey a thousand concentric circles from the top of a long house, so, reverend Sāriputta, does a monk survey the thousand worlds with purified deva-vision, surpassing that of men. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Kassapa replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk is both a forest-dweller himself and one who praises forest-dwelling; he is an almsman himself and one who praises being an almsman; he is a rag-robe wearer himself and one who praises the wearing of rag-robes; he wears three robes himself and is one who praises the wearing of three robes; he is of few wishes himself and is one who praises being of few wishes; he is contented himself and is one who praises contentment; he is aloof himself and is one who praises aloofness; he is ungregarious himself and is one who praises ungregariousness; he is of stirred up energy himself and is one who praises stirring up energy; he is possessed of moral habit himself and is one who praises success in moral habit; he is possessed of concentration himself and is one who praises success in concentration; he is possessed of intuitive wisdom himself and is one who praises success in intuitive wisdom; he is possessed of freedom himself and is one who praises success in freedom; he is possessed of the knowledge and vision of freedom himself and is one who praises success in the knowledge and vision of freedom. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Moggallāna replied: “In this connection, reverend Sāriputta, two monks are talking on Further Dhamma; they ask one another questions; in answering one another's questions they respond and do not fail, and their talk on Dhamma goes forward. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Sāriputta replied: "Reverend Moggallāna, as a king or a king's chief minister might have a chest for clothes filled with differently dyed cloths, so that no matter which pair of cloths he wished to put on in the morning, he could put on that self-same pair of cloths in the morning; no matter which pair of cloths he wished to put on at midday, he could put on that self-same pair of cloths at midday; no matter which pair of cloths he wished to put on in the evening, he could put on that self-same pair of cloths in the evening-even so, reverend Moggallāna, a monk rules over mind, is not under mind's rule; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the morning, in that attainment of abiding he abides in the morning; whatever attainment of abiding he wishes to abide in at midday, in that attainment of abiding he abides at midday; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the evening, in that attainment of abiding he abides in the evening. By a monk of such a type, reverend Moggallāna, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Then the monks approached the Buddha and received the following response: “It was well spoken by you all in turn, Sāriputta. But now hear from me by what type of monk the Gosiṅga sāl-wood would be illumined. In this connection, Sāriputta, a monk, returning from alms-gathering after the meal, sits down cross-legged, the back erect, having raised up mindfulness in front of him, and thinking: ‘I will not quit this cross-legged (position) until my mind is freed from the cankers without any residuum (for rebirth) remaining.’ By such a type of monk, Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
All the aforementioned Suttas demonstrate that any Buddhist, whether a monastic or a layperson, can illuminate a forest by adhering to the precepts and practicing diligently. We can interpret this image of the forest as both a natural forest and a mental forest.
 
THAM KHẢO / REFERENCE:
 
- SN 1.26 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/sn1.26/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/sn1.26/en/bodhi
 
- AN 1.41-50 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an1.41-50/vi/minh_chau
Thanissaro Bhikkhu: https://suttacentral.net/an1.41-50/en/thanissaro
 
- AN 4.7 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an4.7/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/an4.7/en/bodhi
 
- MN 32 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/mn32/vi/minh_chau
I.B. Horner: https://suttacentral.net/mn32/en/horner

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
NEW ORLEANS, LA (VB) -- Một quan chức Tư pháp gốc Việt từng làm việc tại văn phòng Biện lý Quận Orleans và Quận Jefferson đã bị bắt vì nằm trong đường dây buôn ma túy, theo tin từ các đài truyền hình NOLA và WGNO.
-- Tô Lâm Tái Đắc Cử Thêm 5 Năm. -- Hạ Viện Không Chặn Được Trump Đưa Quân Vào Venezuela. -- Minnesota Đóng Cửa, Biểu Tình Phản Đối ICE. -- Hạ Viện Thông Qua Ngân Sách, Thượng Viện Chỉ Còn Vài Ngày Để Chốt. -- Dân Cử Anh Đồng Loạt Phản Đối Phát Biểu Của Trump Về Cuộc Chiến Afghanistan. -- TikTok Bán Lại Chi Nhánh Ở Mỹ, Quốc Hội Vẫn Chưa Yên Tâm. -- Dầu Venezuela Thành Điểm Nóng: TQ Hết Được Mua Giá Rẻ. -- Putin Muốn Hòa Đàm, Nhưng Sẽ Giữ Chặt Chuyện Đất Đai. -- Hải Quân Pháp Chặn Tàu Dầu “Đội Lốt” Của Nga Tại Địa Trung Hải. -- Bạch Ốc Soi Ngân Sách 14 Tiểu Bang Xanh: Ngăn Chặn Gian Lận Hay Ý Đồ Chính Trị?. -- Minnesota: Bạch Ốc Dùng AI Chế Hình Người Biểu Tình Khóc Lóc. -- Bắn Thẩm Phán Indiana: Năm Người Bị Bắt, Hai Nạn Nhân Đang Hồi Phục. -- Bão Tuyết Tràn Qua, Cuối Tuần Này Nhiều Nơi Lạnh Cắt Da. -- Nuôi Con Ở Mỹ: Lương Trung Bình Không Đủ Trả Tiền Giữ Trẻ. -- Philadelphia Gỡ Sạch Các Bảng Kể Về Nô Lệ Ở President’s House...
Vào ngày 13/1/2025, trong bài phát biểu trước Detroit Economy Club, tổng thống Trump tuyên bố lạm phát đã dừng lại, giá cả đã giảm. Nhưng Báo cáo Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) công bố cùng ngày cho thấy giá tiêu dùng trung bình trong tháng 12 năm 2025 cao hơn 2.7% so với một năm trước đó, và cao hơn 0.3% so với tháng 11. Trong những ngày qua, tổng thống Mỹ nhiều lần khẳng định muốn chiếm Greenland; Tòa Bạch Ốc xác nhận rằng tất cả các phương án đều đang được xem xét, bao gồm cả việc sử dụng vũ lực. Trump lập luận rằng Nga và Tàu sớm muộn sẽ làm, và Mỹ không muốn điều này xảy ra. Viện cớ an ninh quốc gia, Hoa Kỳ sẵn sàng xâm lăng lãnh thổ của một đồng minh trước khi kẻ thù có thể làm.
Vào ngày 20 tháng 1 năm 2025, chính quyền mới của TT. Trump đã làm rõ một điều: Người di dân không còn được coi là tài sản của Hoa Kỳ nữa. Thay vào đó, họ bị đối xử như là những kẻ xâm lược, bị cho là cướp việc làm của người Mỹ và tham gia vào các hoạt động tội phạm.
Chiều Chủ Nhật 18 Tháng Giêng, cháu trai nhỏ của ông ChongLy Scott Thao, còn gọi là Saly, đang ngủ trưa trên ghế sofa trong nhà ở St. Paul thì các đặc vụ nhập cư liên bang (ICE) xông vào nhà. Họ phá cửa, tiến vào với những khẩu súng trên tay, chĩa thẳng vào người trong nhà. Ông Saly, một công dân Mỹ gốc Hmong, bị ICE còng tay, dẫn ra ngoài trong thời tiết lạnh buốt. Ông chỉ mặc quần đùi, dép Crocs và quấn một chiếc chăn trẻ em. Nhiệt độ ngoài trời là 10 độ F. Tuyết vẫn đóng dày đặc trên đường.
Một di dân không giấy tờ bị giam tại trại lều Camp East Montana trong căn cứ Fort Bliss, ngoại ô El Paso, đã thiệt mạng, theo thông cáo của cơ quan Di trú và Quan thuế Hoa Kỳ (ICE) phổ biến hôm Chủ nhật, nâng số người chết tại đây lên ba người chỉ trong vòng hơn sáu tuần lễ. Camp East Montana, dựng bằng dãy lều bạt trên vùng sa mạc Texas, hiện là một trong những cơ sở giam giữ lớn nhất của ICE, với gần 3.000 người bị tạm giữ vào đầu tháng Giêng năm nay.
Một người tị nạn gốc Campuchia từng đến Mỹ lúc còn nhỏ đã qua đời tại một bệnh viện ở Philadelphia, sau ba ngày bị nhốt trong trại tạm giam của cơ quan Di trú và Quan thuế Hoa Kỳ (ICE). Nạn nhân tên Parady La, 46 tuổi, cư trú tại thị trấn Upper Darby, ngoại ô Philadelphia. Ông bị bắt ngày 6 tháng Giêng và được đưa vào Trung tâm Giam giữ Liên bang ở Philadelphia. Hôm sau, ông được phát hiện bất tỉnh trong phòng giam và chở đi cấp cứu tại bệnh viện Thomas Jefferson University, nơi ông trút hơi thở cuối cùng.
Tại thành phố Minneapolis tuần rồi, một công dân Mỹ mang hộ chiếu hợp lệ bị nhân viên Biên phòng chặn giữ chỉ vì giọng nói của mình. Vụ này được thu vào video, lan truyền khắp mạng và làm dấy lên lo ngại về tình trạng phân biệt chủng tộc trong thi hành luật di trú, nay đã lan tới các cộng đồng gốc Á. Người bị bắt là ông Ramon Menera, vừa bước ra khỏi nhà hôm thứ Tư tuần trước thì gặp nhóm nhân viên Biên phòng đến yêu cầu trình giấy tờ. Khi ông hỏi lý do, một người đáp thẳng: “Vì giọng nói của anh.” Menera phản ứng bằng cách chỉ ra chính giọng nói của viên chức ấy, khiến tình hình căng thẳng. Ông bị khống chế và đưa đi giam, rồi được thả sau khi họ xác nhận ông có hộ chiếu Mỹ cấp năm 2021, dù sinh tại Mễ Tây Cơ. Toàn bộ sự việc diễn ra trước mắt con gái năm tuổi của ông, đứa nhỏ sau đó sợ hãi không dám ra khỏi nhà.
“Die With a Smile” của Lady Gaga và Bruno Mars, xét theo nhiều thước đo, có thể xem là ca khúc tiêu biểu của năm 2025. Bản tình ca mang giọng điệu u sầu này đứng đầu bảng xếp hạng tại hơn 30 quốc gia, đồng thời giữ kỷ lục số ngày liên tiếp ở vị trí số một trên Spotify. Việc hai tên tuổi lớn hợp tác dĩ nhiên góp phần vào thành công ấy. Nhưng sức hút của ca khúc còn phản ánh một khuynh hướng rộng hơn: nhạc phổ thông đang nghiêng dần về những tâm trạng ưu phiền.
Gần ba mươi năm sau khi được đặt tại Prague Municipal Library, một tác phẩm tạo hình làm bằng sách bất ngờ trở thành điểm tham quan đông nghẹt du khách, nhờ các đoạn video lan truyền trên TikTok và Instagram. Tác phẩm mang tên Idiom, do nghệ sĩ người Slovakia Matej Krén thực hiện. Công trình gồm khoảng 8.000 cuốn sách xếp thành một trụ tròn cao, với gương đặt ở trên và dưới, tạo cảm giác như một đường hầm sách kéo dài vô tận. Lối nhìn vào có hình giọt nước, khiến người xem có cảm tưởng mình đang cúi xuống để… bước vào trong sách.
Mỗi dịp đầu năm, nhiều người đặt mục tiêu đọc nhiều hơn – không chỉ để thư giãn mà còn để tìm lại sự bình an và tò mò. Thế nhưng, các nghiên cứu gần đây cho thấy thói quen này còn mang lại lợi ích lớn hơn: giúp giảm căng thẳng, cải thiện trí nhớ, làm chậm suy giảm nhận thức và kéo dài tuổi thọ.Theo nhà trị liệu tâm lý Zoe Shaw (Los Angeles), khi người đọc “đánh mất mình trong một cuốn sách”, họ bước vào trạng thái tập trung tương tự thiền định – một trạng thái có khả năng bảo vệ thần kinh và giúp hệ thần kinh tự điều chỉnh.
Ngay ngày khai giảng học kỳ xuân, Đại học Texas A&M mở đầu bằng một bản danh sách sách cấm mới. Nhiều tác phẩm vốn được xem là kinh điển của triết học và văn học phương Tây nay bị gạt khỏi giáo trình, theo một chính sách vừa được nhà trường ban hành với chủ đích kiểm soát mọi thảo luận có dính dáng đến chủng tộc và giới tính.
Khi các cuộc bố ráp của Cơ quan Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) tiếp diễn tại khu Twin Cities, nhiều hiệu sách độc lập ở Minneapolis và St. Paul đã công khai tham gia các nỗ lực cộng đồng nhằm đối phó và bảo vệ cư dân địa phương. Theo phóng sự của Claire Kirch đăng trên Publishers Weekly tuần trước, giới bán sách tại hai thành phố đã phối hợp với các mạng lưới dân sự để hỗ trợ người dân trong bối cảnh căng thẳng leo thang sau cái chết của nhà thơ Renee Good. Một số hiệu sách phát còi miễn phí để hỗ trợ mạng lưới cảnh báo khu xóm tự phát; nơi khác phát tài liệu biểu tình chống ICE, hoặc trực tiếp tham gia tuần tra và xuống đường cùng cư dân.
Các nhà thiên văn học vừa ghi nhận một phát hiện khác thường: một đám mây khí cách Địa cầu chừng mười bốn triệu năm ánh sáng, được đặt tên là Cloud-9, mang nhiều đặc điểm của một thiên hà – ngoại trừ điều cốt yếu là… không có sao.Theo công trình đăng trên The Astrophysical Journal Letters và trình bày tại hội nghị của Hội Thiên văn Hoa Kỳ, Cloud-9 có thể là ví dụ đầu tiên của một RELHIC (Reionization-Limited H I Cloud) – tức một khối khí trung hoà bị giới hạn trong quá trình tái ion hoá, được xem như tàn tích của những “thiên hà thất bại” hình thành từ thủa sơ khai vũ trụ.
Ở tuổi mười bảy, trong sân chùa Xá Lợi một buổi chiều Sài Gòn, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Đuổi Bắt Một Mùi Hương bất chợt nắm tay một cô bé áo trắng. Đúng khoảnh khắc ấy, một mùi hương lạ thoảng qua trong gió. Cái nắm tay run rẩy và mùi hương mong manh đó đã bám theo nhân vật chính suốt nhiều thập niên
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.