Hôm nay,  

Ai có thể làm chói sáng cõi này? / Who can illuminate this world?

01/03/202520:47:00(Xem: 9574)
blank
 
Ai có thể làm chói sáng cõi này?
   
Nguyên Giác

   
Khi chúng ta đọc Kinh Phật, thường gặp những hình ảnh nói về sự chói sáng. Có Kinh nói rằng, nguồn của ánh sáng là Đức Phật, sáng hơn cả mặt trời và mặt trăng. Đó là Kinh SN 1.26 Sutta. Trong khi đó, Kinh AN 1.41-50 Sutta nói rằng nguồn của ánh sáng là tâm vốn có sẵn tánh sáng chói, nhưng bị bụi cấu uế bám vào, và tâm này sẽ chói sáng sau khi gột rửa bụi.
   
Trong một hình ảnh khác, chúng ta đọc thấy Kinh AN 4.7 Sutta ghi rằng, ngay cả người nam cữ sĩ và nữ cư sĩ, giữ năm giới và hành trì Chánh pháp là cũng đủ để hiển lộ ánh sáng trong tứ chúng. Nghĩa là, chưa phải là bậc giải thoát, chúng ta cũng có thể làm chói sáng những nơi chúng ta bước vào. Thực vậy, rất nhiều Kinh ghi rằng, một vị cõi thiên khi hiện ra đều làm chói sáng một góc rừng. Chúng ta đều biết rằng, các vị thiên chủ yếu là có phước đức, nhưng chưa hẳn là họ có đủ trí tuệ giải thoát.
   
Có một kinh rất đặc biệt nói về ánh sáng: Kinh MN 32 Sutta ghi câu hỏi của ngài Sāriputta rằng hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Điều lý thú là, có nhiều câu trả lời.
   
. Ngài Ananda trả lời rằng nhà sư học nhiều sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Revata trả lời rằng nhà sư ưa nơi u tịch, thiền định thường trực trong chỉ và quán sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Anuruddha nói rằng nhà sư nào đắc thiên nhãn thần thông sẽ có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga.
. Ngài Kassapa nói rằng vị sư nào sống hạnh đầu đà, giới hạnh viên mãn, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga. Điều chú ý: hạnh đầu đà mà Ngài Kassapa nói nơi đây là ẩn cư trong núi rừng, không nói về du hành đường xa.
. Ngài Moggallāna nói rằng các vị sư giỏi về luận thuyết, xuất sắc tranh biện, nắm vững các pháp A Tỳ Đàm, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Sāriputta nói rằng nhà sư nào điều phục được tâm dễ dàng trong sáng, trưa, chiều, tối là sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Như thế là sáu câu trả lời từ sáu vị tăng nổi bật của Thế Tôn. Quý ngài thắc mắc, nên tới kể lại cho Đức Phật. Câu trả lời của Đức Phật đơn giản rằng, cả sáu câu trả lời đều đúng, rằng sáu khuynh hướng tu hánh tinh tấn như thế đều có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Rồi Đức Phật cho câu trả lời thứ bảy, rằng bất kỳ vị sư nào tinh tấn thiền định đều có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Nơi đây, chúng ta sẽ tuần tự nói về các Kinh vừa dẫn. Tất cả phần tiếng Việt là từ bản dịch của Thầy Minh Châu.
   
Trong Kinh SN 1.26 Sutta, Đức Phật nói rằng ngài là nguồn sáng tối thắng, sáng hôn mặt trời, mặt trăng, lửa cháy. Kinh SN 1.26 Sutta ghi như sau:
   
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Đêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này, sáng vô thượng.
   
Trong Kinh AN 1.41-50 Sutta, Đức Phật nói về tâm sáng chói khi gột sạch cấu uế. Kinh AN 1.41-50 Sutta ghi như sau.
   
"Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.
Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào."
   
Trong khi đó, Kinh AN 4.7 Sutta ghi lời Đức Phật dạy rằng bất kỳ vị sư, vị ni, vị nam cư sĩ, và vị nữ cư sĩ nào cũng có thể làm chói sáng được. Kinh AN 4.7 Sutta ghi như sau:
   
"Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Thế nào là bốn?
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, … nam cư sĩ, này các Tỷ-kheo, … , nữ cư sĩ, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng."
   
Trong khi đó, trong Kinh MN 32 Sutta Tôn giả Sāriputta nêu câu hỏi: Hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
   
Ngài Ananda đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Revata đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Anuruddha đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Kassapa đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Moggallāna đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”
   
Ngài Sāriputta đáp: "Ở đây, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallāna, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Thế rồi các vị sư tới hỏi Đức Phật, và được trả lời như sau: "Này Sāriputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sāriputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Tất cả các Kinh vừa dẫn trên, cho thấy rằng bất kỳ Phật tử nào, dù là tu sĩ hay cư sĩ, khi giữ giới hạnh và tu hành tinh tấn, đều có thể làm chói sáng một khu rừng. Và hình ảnh khu rừng nơi đây có thể hiểu là một khu rừng trong thiên nhiên, và cũng có thể hiểu là khu rừng trong tâm.
   
.... o ....
.... o ....
 
Who can illuminate this world?
   
Written and translated by Nguyên Giác

 
When we read the Buddhist scriptures, we frequently encounter imagery of radiance. One sutra states that the source of light is the Buddha, who is brighter than both the sun and the moon; this statement is found in the SN 1.26 Sutta. In contrast, the AN 1.41-50 Sutta asserts that the source of light is the mind, which is inherently luminous but obscured by defilements. This mind will shine once it has been purified of those impurities.
 
In another image, we read in the AN 4.7 Sutta that even male and female lay followers who observe the five precepts and practice the Dharma are capable of manifesting light within the four groups. This means that even if we have not yet attained liberation, we can still illuminate the spaces we enter. Indeed, many Suttas document that when a deva appears, he illuminates a corner of the forest. We all understand that devas are primarily endowed with virtue, but they do not necessarily possess liberating wisdom.

 
There is an exceptional sutta that discusses radiance: the MN 32 Sutta records Sāriputta's inquiry regarding what type of bhikkhu could illuminate the Gosinga forest. Interestingly, there are numerous answers provided.
 
. Venerable Ananda replied that a knowledgeable monk would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Venerable Revata replied that a monk who embraces solitude and consistently meditates in both samatha and vipassana would be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Anuruddha stated that a monk who has attained the supernatural power of the divine eye would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Kassapa stated that any monk who embraces the Dhutanga life—a life of asceticism and perfect morality—will be able to illuminate the Gosinga forest. It is important to note that the Dhutanga life Kassapa refers to involves living in seclusion in the mountains and forests rather than traveling great distances.
. Venerable Moggallāna stated that monks who excel in argumentation, are skilled in debate, and possess a profound understanding of the Abhidharma will be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Sāriputta stated that monks who can easily control their minds throughout the morning, noon, afternoon, and night will be able to illuminate the Gosinga forest.
 
These were the six responses from the six esteemed monks of the Buddha. The monks were perplexed, so they approached the Buddha to seek clarification. The Buddha's response was straightforward: all six answers were correct, as these six tendencies of diligent practice could illuminate the Gosinga forest. He then provided a seventh insight, stating that any monk who meditates diligently could also illuminate the Gosinga forest.
 
Here, we will sequentially quote from the previously cited Suttas.
 
In the SN 1.26 Sutta, the Buddha states that he is the supreme light, brighter than the sun, the moon, and fire. The SN 1.26 Sutta is presented as follows, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
 
“There are four sources of light in the world;
A fifth one is not found here.
The sun shines by day,
The moon glows at night,
And fire flares up here and there
Both by day and at night.
But the Buddha is the best of those that shine:
He is the light unsurpassed.”
 
In the AN 1.41-50 Sutta, the Buddha spoke of the mind being clear and bright when it is free from defilements. The AN 1.41-50 Sutta reads as follows, according to Thanissaro Bhikkhu's translation.
 
“Luminous, monks, is the mind. And it is defiled by incoming defilements.”
“Luminous, monks, is the mind. And it is freed from incoming defilements.”
 
Meanwhile, the AN 4.7 Sutta records the Buddha's teaching that any monk, nun, male lay follower, or female lay follower can shine. The AN 4.7 Sutta states the following, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
   
“Bhikkhus, these four kinds of persons who are competent, disciplined, self-confident, learned, experts on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorn the Saṅgha. What four?
(1) “A bhikkhu who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha. (2) A bhikkhunī who is competent … (3) A male lay follower who is competent … (4) A female lay follower who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha."
 
Meanwhile, in the MN 32 Sutta, Venerable Sāriputta asks, "What kind of monastic can illuminate the Gosinga forest?" The following answers are according to the translation by I.B. Horner.
 
Venerable Ananda replied: “In this case, reverend Sāriputta, a monk comes to be one who has heard much, who masters what he has heard, who stores what he has heard; those teachings which are lovely at the beginning, lovely in the middle, lovely at the end, which with the spirit and the letter declare the Brahma-faring which is completely fulfilled, utterly pure-such teachings come to be much heard by him, borne in mind, repeated out loud, pondered over in the mind, well comprehended by view; he teaches Dhamma to the four assemblies with correct and fluent lines and sentences for the rooting out of (latent) propensities. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Revata replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk delights in solitary meditation, he is delighted by solitary meditation, he is intent on mental tranquillity within, his meditation is uninterrupted, he is endowed with vision, a cultivator of empty places. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Anuruddha replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk surveys the thousand worlds with purified deva-vision surpassing that of men. Reverend Sāriputta, as a man with vision might survey a thousand concentric circles from the top of a long house, so, reverend Sāriputta, does a monk survey the thousand worlds with purified deva-vision, surpassing that of men. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Kassapa replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk is both a forest-dweller himself and one who praises forest-dwelling; he is an almsman himself and one who praises being an almsman; he is a rag-robe wearer himself and one who praises the wearing of rag-robes; he wears three robes himself and is one who praises the wearing of three robes; he is of few wishes himself and is one who praises being of few wishes; he is contented himself and is one who praises contentment; he is aloof himself and is one who praises aloofness; he is ungregarious himself and is one who praises ungregariousness; he is of stirred up energy himself and is one who praises stirring up energy; he is possessed of moral habit himself and is one who praises success in moral habit; he is possessed of concentration himself and is one who praises success in concentration; he is possessed of intuitive wisdom himself and is one who praises success in intuitive wisdom; he is possessed of freedom himself and is one who praises success in freedom; he is possessed of the knowledge and vision of freedom himself and is one who praises success in the knowledge and vision of freedom. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Moggallāna replied: “In this connection, reverend Sāriputta, two monks are talking on Further Dhamma; they ask one another questions; in answering one another's questions they respond and do not fail, and their talk on Dhamma goes forward. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Sāriputta replied: "Reverend Moggallāna, as a king or a king's chief minister might have a chest for clothes filled with differently dyed cloths, so that no matter which pair of cloths he wished to put on in the morning, he could put on that self-same pair of cloths in the morning; no matter which pair of cloths he wished to put on at midday, he could put on that self-same pair of cloths at midday; no matter which pair of cloths he wished to put on in the evening, he could put on that self-same pair of cloths in the evening-even so, reverend Moggallāna, a monk rules over mind, is not under mind's rule; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the morning, in that attainment of abiding he abides in the morning; whatever attainment of abiding he wishes to abide in at midday, in that attainment of abiding he abides at midday; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the evening, in that attainment of abiding he abides in the evening. By a monk of such a type, reverend Moggallāna, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Then the monks approached the Buddha and received the following response: “It was well spoken by you all in turn, Sāriputta. But now hear from me by what type of monk the Gosiṅga sāl-wood would be illumined. In this connection, Sāriputta, a monk, returning from alms-gathering after the meal, sits down cross-legged, the back erect, having raised up mindfulness in front of him, and thinking: ‘I will not quit this cross-legged (position) until my mind is freed from the cankers without any residuum (for rebirth) remaining.’ By such a type of monk, Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
All the aforementioned Suttas demonstrate that any Buddhist, whether a monastic or a layperson, can illuminate a forest by adhering to the precepts and practicing diligently. We can interpret this image of the forest as both a natural forest and a mental forest.
 
THAM KHẢO / REFERENCE:
 
- SN 1.26 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/sn1.26/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/sn1.26/en/bodhi
 
- AN 1.41-50 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an1.41-50/vi/minh_chau
Thanissaro Bhikkhu: https://suttacentral.net/an1.41-50/en/thanissaro
 
- AN 4.7 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an4.7/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/an4.7/en/bodhi
 
- MN 32 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/mn32/vi/minh_chau
I.B. Horner: https://suttacentral.net/mn32/en/horner

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mây trắng là hình ảnh của cái vốn không có hình dạng sắc màu nhưng biến hiện ra vô cùng hình dạng sắc màu. Mây trắng là hình ảnh của vô thường, của sinh và diệt không ngừng, của xa lìa tất cả các nhãn hiệu bất kể là căn cước của da vàng hay da trắng, của Nam hay Bắc, của Việt hay Tây, Tàu, Mỹ, Nhật... Mây trắng là hiển lộ của tự do, của bình an. Nơi mây trắng không có bạo lực, không có níu kéo buộc ràng hay uốn nắn gắng gượng. Thơ của Lê An Thế là thơ của những ước mơ mây trắng, là lá cờ của mây trắng thong dong như thế.
Cách đây 12 năm, một sự kiện đã xuất hiện trên trang nhất của hàng loạt tờ báo lớn ở Mỹ. Nhiều tờ báo lớn sau này đã kể lại chi tiết câu chuyện được ví như một bộ phim ly kỳ về chính trị, nơi các nguyên tắc pháp lý đối đầu trực diện với quyền lực của Tòa Bạch Ốc, ngay tại một phòng chăm sóc đặc biệt (ICU.) Đó là đêm 10/3/2004 tại bệnh viện Đại học George Washington University.
Nếu không cấm được phiếu bầu qua thư, Cộng Hòa đưa hồ sơ rằng Tòa Tối Cao nên quăng bỏ phiếu bầu qua thư nhận ra Ngày Bầu Cử, lý do Hiến Pháp chỉ cho duy nhất một Ngày Bầu Cử. Trong khi đó, một số tiểu bang cho đếm phiếu bầu tới trễ sau 5 ngày, miễn là có dấu bưu điện trước hay trong Ngày Bầu Cử. Cộng Hòa không chịu vì cho rằng cử tri Dân Chủ ưa bầu qua thư, vì Ngày Bầu Cử luôn luôn là Thứ Ba trongt uần, và dân lao động nghèo còn bận đi làm. Tuy nhiên, bão tuyết hay mưa lớn có thể làm phiếu bầu qua thư tới trễ. Và thêm nữa, Trưởng Ty Bưu Điện Quận có thể sẽ cố ý cho gửi trễ phiếu bầu từ các thị trấn đa số là cử tri Dân Chủ và thế là sẽ quăng bỏ nhiều phiếu Dân Chủ. Tòa Tối Cao suy tính ra sao?
Iran trả lời Trump: Iran thề tấn công trả đũa vào hạ tầng năng lượng của Mỹ và Israel. Bị New York Times chỉ trích, Trump trả lời: Mỹ đã ‘xóa sổ Iran khỏi bản đồ!’ Tên lửa Iran 'có thể vươn tới London, Paris hoặc Berlin'. Iran thu phí lên tới 2 triệu USD cho mỗi tàu chở dầu muốn đi qua. Bất chấp lệnh phong tỏa, Iran vẫn tiếp tục xuất cảng dầu thô ở mức gần bằng thời điểm trước chiến tranh. Tổng thống Brazil: Iran bị Mỹ xâm lược y hệt như Iraq đã bị xâm lược với cớ giả tạo. 1 tên lửa nổ gần một con tàu ngoài khơi UAE. Lò hạt nhân Iran bị tấn công, không dấu hiệu hư hại. Tỷ lệ ủng hộ Trump ở mức thấp nhất mọi thời đại vì cuộc chiến Iran và Giá xăng tăng vọt, nợ thẻ tín dụng tăng kỷ lục, 1/3 dân Mỹ không tiền tiết kiệm. Vé phi cơ tăng giá vì chịu hết nổi. Chiến lược gia Cộng Hòa: Trump đã đưa Cộng hòa xuống tận "vũng bùn". Bộ trưởng Quốc phòng Hegseth công khai trích dẫn Kinh Thánh, ca ngợi Thập tự chinh chống Hồi giáo.
Lời đề nghị đó lộ ra trong bản tin của báo Politico hôm 19/3/2026 tựa đề "Putin offers to stop sharing intel with Iran if US cuts off Ukraine" (Putin đề nghị ngừng chia sẻ thông tin tình báo với Iran nếu Mỹ cắt đứt hỗ trợ Ukraine). Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đề nghị Nga sẽ ngừng mọi hoạt động chia sẻ tình báo với Iran nếu Mỹ cũng thực hiện động thái tương tự đối với Ukraine – theo một báo cáo được công bố vào thứ Sáu.
Vào ngày 18 tháng 3, Dân Biểu Hoa Kỳ Derek Tran (Đại diện cho Khu vực bầu cử số 45 của California - phần lớn là Quận Cam), cùng với các Dân Biểu Don Bacon, Marilyn Strickland và Pat Harrigan, đã chính thức đệ trình "Đạo luật Chống lại Ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc" (Combating Chinese Communist Party Influence Act).
Nghìn Năm Trước 50 Năm Tôi không muốn không thể không cách nào xa rời hạt bụi của vũ trụ rơi bên bờ biển xanh.
Phạm trù thi ca văn học vốn dĩ không dễ cụ thể miêu tả một cách luận lý (reasonably) nhưng vẫn là nơi chốn mà con người biểu hiện xúc cảm đặc thù mang tính nghệ thuật. Một cách phổ quát, sáng tác nghệ thuật bắt nguồn từ cảm hứng. Nguồn xúc cảm này tự nhiên vô cầu cho dù sau đó công trình nghệ thuật ấy cho ra kết quả mang tính thẩm định hữu dụng. Bản chất tác phẩm văn thơ tồn tại trong cõi người ta, do đó nó phản ánh trọn vẹn mùi vị cuộc đời. Cũng vì thế mà tôi nôm na xem văn chương chữ nghĩa là cõi bất hạnh do tính biểu hiện phản diện bền vững của nó. Văn học nghệ thuật cống hiến cho con người vô số tác phẩm xuất phát từ bản chất bi đát, phản diện của cuộc đời để rồi được tôn thờ sùng bái hoặc say mê ca ngợi. Nhưng đó chỉ là một mặt trong vô số khuôn mặt của tác phẩm nghệ thuật mà định mệnh của nó, hay nét bi kịch gắn liền với thân phận tác giả một cách tiêu biểu mà không mấy ai xem nó như nghiệp dĩ có thể tránh khỏi.
• Newsom Dẫn Trước Harris Trong Cuộc Thăm Dò Ứng Cử Viên Tổng Thống • Iran Mở Đường Qua Eo Biển Hormuz Nhưng Đóng Với Kẻ Thù • Trump Đùa Cợt So Sánh Pearl Harbor Với Các Cuộc Không Kích Iran • Đơn Xin Trợ Cấp Giảm, Dù Thị Trường Lao Động Vẫn Ảm Đạm • Áp Lực Lên Nhân Viên TSA Ngày Càng Lớn • Pam Bondi Từ Chối Điều Trần Trước Hạ Viện Vụ Epstein • Ngũ Giác Đài Muốn Khai Triển Vệ Binh Quốc Gia Ở DC Đến 2029 • Người Mỹ Ngày Càng Lo Ngại Về Giá Xăng • Israel Dội Thêm Nhiều Cuộc Không Kích Vào Tehran • Tài Tử Meryl Streep Quyên Góp Số Tiền ‘Bảy Con Số’ Cho Bảo Tàng Lịch Sử Phụ Nữ Quốc Gia
Trước khi bị Tổng thống Donald Trump cho rời chức, Bộ trưởng An ninh Nội địa Kristi Noem đã kịp để lại một dự án gây nhiều tranh cãi: mua 11 nhà kho lớn trên khắp nước Mỹ để sửa sang thành trại giam di dân. Các nhà kho này, có nơi đủ sức chứa tới 10.000 người, là phần đầu của một kế hoạch rộng lớn hơn, trị giá khoảng 38 tỉ đô‑la, nhằm gom hệ thống giam giữ di dân về những trung tâm thật lớn do chính phủ trực tiếp làm chủ. Tiền cho kế hoạch đến từ đạo luật One Big Beautiful Bill mà Quốc hội đã thông qua năm ngoái, dành thêm hơn 170 tỉ đô‑la cho Bộ An ninh Nội địa và cơ quan Di trú và Hải quan (ICE). Từ trước tới nay, ICE vẫn chủ yếu thuê chỗ giam từ nhà tù quận, nhà giam địa phương hoặc cơ sở do các hãng tư nhân điều hành. Với kế hoạch mới, ICE muốn tự mua lấy nhà kho, sửa lại thành trại giam kiểu “công nghiệp”, giống như các trung tâm phân phối hàng hóa, để phục vụ mục tiêu trục xuất tới một triệu người mỗi năm theo chủ trương của ông Trump.
Vào ngày 01 tháng 01 năm 2026, Sở Di trú đã ban hành một chính sách hạn chế mới (lệnh cấm) áp dụng đối với người nộp đơn xin chiếu khán di dân và các quyền lợi di trú đến từ 75 quốc gia. Trong hai tháng qua, Sở Di Trú chưa loại bỏ bất kỳ quốc gia nào khỏi danh sách này, do đó lệnh tạm dừng vẫn tiếp tục áp dụng đối với tất cả các quốc gia nêu trên.
Trong những thời điểm bất an, vào những lúc tin tức thời sự tạo cảm giác choáng ngợp, sự hài hước và nghệ thuật trào phúng giúp con người giải tỏa nỗi sợ hãi. Nó cũng là công cụ thách thức quyền lực của kẻ mạnh và tạo ra sự đoàn kết của những người dân yếm thế. Sự hài hước mang lại sức mạnh to lớn, giúp con người vẫn cười trước những tình thế tồi tệ. Chính sức mạnh ấy khiến các nghệ sĩ hài thường xuyên trở thành mục tiêu của những chính trị gia độc đoán; khiến các chế độ độc tài tìm cách kiểm duyệt nghệ thuật trào phúng.
Cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu do chiến tranh Iran bùng nổ từ ngày 28.2 đang trực tiếp đẩy giá xăng tại Mỹ tăng trung bình khoảng 60 xu/gallon. Theo giới chuyên môn, giá dầu thô là yếu tố biến động lớn nhất quyết định giá bán lẻ nhiên liệu, song nó chỉ chiếm khoảng một nửa tổng giá thành mỗi gallon xăng. Hoa Kỳ hiện là nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, song giá xăng nội địa vẫn biến động theo chuẩn giá Brent quốc tế, do các nhà máy lọc dầu vùng Vịnh thường mua theo mức giá này thay vì giá dầu WTI trong nước. Tính đến thứ Sáu vừa rồi, dầu Brent giao dịch quanh 100 USD/thùng, tăng 38% so với trước khi xung đột nổ ra (dữ liệu FactSet).
Các nhà khoa học vừa cảnh báo: quần thể chim ở Bắc Mỹ không chỉ giảm sút, mà tại nhiều nơi tốc độ suy giảm còn đang gia tốc, trùng với những vùng nông nghiệp thâm canh và khí hậu ấm lên nhanh. Công trình mới đăng trên tạp chí Science cho thấy mối tương quan rõ giữa đà suy giảm chim với khu vực dùng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và có diện tích canh tác lớn, song tác giả nhấn mạnh đây là tương quan thống kê chứ chưa chứng minh được quan hệ nhân quả.
Một bản khảo cứu mới công bố cho thấy người dân Hoa Kỳ hiện đang mất hơn 119 tỉ đô-la mỗi năm vì các vụ lừa đảo đủ loại – từ đầu tư tiền điện tử đến giả mạo tình cảm, từ chiêu dụ đầu tư sang nhắn tin “số nhầm” – nhiều gấp bảy lần con số được chính quyền chính thức ghi nhận. Báo cáo do Hội Liên hiệp Bảo vệ Người Tiêu Dùng Mỹ (Consumer Federation of America – CFA) thực hiện, dựa vào nhiều nguồn dữ kiện, trong đó có nghiên cứu năm 2017 của Cục Thống kê Tư pháp Hoa Kỳ. Theo tài liệu ấy, chỉ có khoảng 14 phần trăm các vụ lừa đảo được người bị hại báo cáo đến cơ quan hữu trách. Phần còn lại – 86 phần trăm – trôi vào im lặng. Khi nhân các con số hiện có của FBI lên theo tỉ lệ đó, hội CFA kết luận: tổng thiệt hại thật sự có thể lên tới ít nhất 119 tỉ đô-la hằng năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.