Hôm nay,  

Con đường giải thoát: trong một hay vài câu

15/11/202309:17:00(Xem: 6655)
blank 

Con đường giải thoát: trong một hay vài câu

 

Nguyên Giác

 

 

Con đường giải thoát, tức là Bát Chánh Đạo. Có thể gói trọn vào một câu, hay hai câu, hay vài câu được không? Thực tế thường không đơn giản, vì luôn luôn là có một lộ trình Giới, Định, Huệ. Tuy nhiên, trong Kinh Phật cho thấy có những cơ duyên lớn, trong nhiều trường hợp, Đức Phật trả lời khi được hỏi đạo, và người hỏi ngay sau đó là trở thành bậc  A la hán. Như trong Kinh Tập, ở Phẩm thứ tư (Aṭṭhakavagga, dịch là "The Chapter of Eights" - tức Phẩm Tám) và Phẩm thứ năm (Pārāyanavagga, dịch là "The Chapter on the Way to the Beyond" - tức Phẩm Qua Bờ Kia), hai phẩm vừa dẫn là cuộc đối thoại giữa Đức Phật và 32 chàng trai Bà La Môn tới hỏi đạo. Đức Phật trả lời từng người hỏi bằng một bài thơ, chàng trai đương cơ nghe xong thấy ngay đường giải thoát. Hai phẩm này đã trở thành Kinh Nhật Tụng cho tăng đoàn khi Đức Phật còn sanh tiền. Nghĩa là, có cách tóm lược con đường giải thoát, và Đức Phật lấy các bài thơ trả lời đó làm Kinh Nhật Tụng cho tăng đoàn.

 

Bài viết này sẽ dựa một phần vào cuộc thảo luận của một số học giả trên mạng SuttaCentral.net có nhan đề “The whole of the Path in 2 sentences or less - Sutta quotes” (Trọn con đường giải thoát trong 2 câu hay ngắn hơn – trích dẫn theo Kinh) (1), và sẽ tham khảo thêm kinh văn. Nói là “câu” (sentence) theo nghĩa đơn giản là từ dấu chấm (.) này tới dấu chấm kia. Trong bài này, sẽ tìm những bài pháp ngắn, một câu, hai câu hay vài câu có ý tóm lược. Chúng ta cách Phật đã xa, trong xã hội thời nay lại nhiều phức tạp, ngay cả khi có được những câu tóm lược giáo pháp, cũng cần phải ngày đêm tinh cần, tín tâm kiên cố, tin sâu nhân quả, biện biệt chánh kiến, thường trực chánh niệm, và cố gắng hành trì càng nhiều càng tốt các pháp của giới, định, huệ. Đức Phật đã nhiều lần khuyến tấn rằng, phải tu học tinh tấn như lửa đang cháy trên khăn bịt đầu.

 

Phật pháp được ghi lại trong thiên kinh vạn quyền, nhưng trong nhiều Kinh, Đức Phật đã dạy pháp ngắn gọn, một câu, hay vài câu. Thí dụ, có thể dẫn ra Kinh SN 35.95, ngài Màlukyaputta tới thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, mặc dù con đã già, tuổi cao, sức yếu, đã đến giai đoạn cuối đời, con xin Thế Tôn dạy Pháp một cách vắn tắt, con ước mong Thế Tôn thuyết pháp ngắn gọn cho con. Con hy vọng sẽ hiểu được ý nghĩa lời dạy của Thế Tôn, con hy vọng sẽ trở thành người thừa tự pháp của Thế Tôn." Và rồi, Đức Phật dạy một bài pháp ngắn, cô đọng. Có nhiều kinh trong tinh thần ngắn gọn như thế. Sau đây là những bài pháp ngắn gọn, được xem là gói trọn con đường Bát Chánh Đạo. Chúng ta có thể chú ý rằng, một số pháp ngắn gọn này có thể thực tập tức khắc, và thấy an lạc tới rất nhanh. Nghĩa là, thực tập ngay, không cần phải chờ tới Chủ Nhật để lên chùa xin quy y (chuyện này để sau cũng được, nếu bạn chưa quy y). Dù vậy, cũng cần cảnh giác, rằng bài viết này chỉ là một giới thiệu, và độc giả cần tìm trọn vẹn các bài kinh để đọc, và sẽ tốt hơn nữa, nếu tìm đọc trong nhiều bản tiếng Anh khác nhau để đối chiếu. Thêm nữa, một số bài kinh quan trọng lại không ngắn, thí dụ các kinh về Tứ Niệm Xứ, hay các kinh về 16 pháp quán niệm hơi thở, kể như không thể tóm tắt được. Nếu cố gắng tóm tắt các kinh này cho gọn vài câu, dĩ nhiên sẽ là bất toàn. Nhưng xuyên suốt tất cả các pháp của nhà Phật là phải kiên cố giữ giới, vững chắc ly dục (giữ giới và ly dục tự động sẽ có định), không lìa chánh kiến (xa lìa cả có và không), thường trực chánh niệm và tỉnh giác (và tất cả những cái khác sẽ là đối tượng của chánh niệm và tỉnh giác).

 

Nơi đây, phần đầu, chúng ta sưu tập từ Kinh Pháp Cú, tất cả đều từ bản dịch của Thầy Thích Minh Châu, sẽ thấy Đức Phật dạy những bài pháp ngắn gọn, dễ nhớ, và đều có sự tích cụ thể. Phần trong ngoặc đơn sau bài kệ là người viết lược ghi các tích truyện, duyên khởi nào để Đức Phật nói bài kệ.

 

20. Dầu nói ít kinh điển, nhưng hành pháp, tùy pháp, từ bỏ tham, sân, si, tỉnh giác, tâm giải thoát, không chấp thủ hai đời, dự phần Sa môn hạnh. (Duyên của bài kệ này là, Đức Phật nói về 2 bạn thân, cùng xuất gia, trong đó một vị uyên bác kinh điển, trở thành thầy của 500 vị sư, nhưng tu chẳng tới đâu, Còn vị kia, chỉ tụng ít kinh điển, nhưng đã lìa tham sân si, đã đắc quả A la hán. Từ bỏ tham sân si cũng là ngộ nhập Niết Bàn.)

 

46. Biết thân như bọt nước, ngộ thân là như huyễn, bẻ tên hoa của ma, Vượt tầm mắt thần chết. (Có một vị sư nhìn thấy bọt nước ven sông, nhận ra bản chất của thân là vô thường. Đức Phật lúc đó hiện ra trong linh ảnh nhà sư, nói bài kệ này, và nhà sư sau khi nghe xong liền đắc quả A la hán. Thấy như huyễn, nghĩa là thấy trước mắt các pháp mà không gọi được là Có, và không gọi được là Không. Cũng là Bát Nhã Tâm Kinh.)

 

93. Ai lậu hoặc đoạn sạch, ăn uống không tham đắm, tự tại trong hành xứ, "Không, vô tướng, giải thoát." Như chim giữa hư không, dấu chân thật khó tìm. (Đức Phật nói bài kệ này để ca ngợi Trưởng lão Anuruddha, người đã chứng quả A la hán, sống thường trực với tâm giải thoát của Không, và của Vô Tướng.)

 

95. Như đất, không hiềm hận; Như cột trụ, kiên trì; Như hồ, không bùn nhơ. Không luân hồi, vị ấy. (Có 1 vị sư trẻ tới khai gian với Đức Phật rằng bị Trưởng lão Sariputta la mắng, đánh đập. Trưởng lão Sariputta nói với Đức Phật rằng tâm của trưởng lão đã y hệt mặt đất, đón nhận ném vào cả hoa và rác, mà không vui, không giận. Đức Phật mới đọc bài kệ này, xác nhận tâm của Trưởng lão Sariputta lúc nào cũng vững như đất, như cột cửa; tâm cũng như mặt hồ lặng lẽ, không bùn nhơ; và đã xa lìa sinh tử luân hồi.)

 

96. Người tâm ý an tịnh, lời an, nghiệp cũng an, Chánh trí, chơn giải thoát, Tịnh lạc là vị ấy. (Bài này nói ba nghiệp thân, khẩu, ý an tịnh thì là giải thoát. Duyên để Đức Phật đọc bài kệ này là chuyện của một cậu bé 7 tuổi xuất gia làm samanera, khi đang cạo đầu thì cậu bé đã chứng quả A la hán.)

 

183. Không làm mọi điều ác, thành tựu các hạnh lành, tâm ý giữ trong sạch, chính lời chư Phật dạy. (Một lần, ngài Ananda thỉnh Đức Phật nói về Giáo Lý Căn Bản mà tất cả chư Phật đều dạy. Đức Phật nói rằng, đó là làm lành, lánh dữ và giữ tâm cho trong sạch. Khi các học giả nói về Đạo Phật, họ chọn câu này là phổ biến nhất.)

 

190. Ai quy y Đức Phật, Chánh pháp và chư tăng, ai dùng chánh tri kiến, thấy được bốn Thánh đế. 191. Thấy khổ và khổ tập, thấy sự khổ vượt qua, thấy đường Thánh tám ngành, đưa đến khổ não tận. (Đức Phật nói bài kệ 190 và 191, rằng quy y Tam Bảo, dùng chánh tri kiến, thấy Tứ Thánh Đế, thấy Bát Chánh Đạo, sẽ giải thoát. Đương cơ của 2 bài kệ này là Aggidatta, một vị Bà La Môn, và các đệ tử của vị này. Khi nghe xong, Aggidatta và tất cả đệ tử của ông đều đắc quả A-la-hán. Tất cả đều gia nhập Tăng chúng Tỳ kheo.)

 

273. Tám chánh, đường thù thắng. Bốn câu, lý thù thắng. Ly tham, pháp thù thắng, Giữa các loài hai chân, Pháp nhãn, người thù thắng. (Nghe xong, 500 vị chứng quả A La Hán)

 

277. Tất cả hành vô thường. Với Tuệ, quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh. (Sau khi nghe bài kệ này, rằng tất cả pháp là vô thường, 500 vị tỳ kheo liền đắc quả A La Hán. Thấy vô thường là giải thoát. Phần lớn sự tích Thiền Tông liên hệ ý này. Như bài thơ Trâu Bùn Qua Sông của Tuệ Trung Thượng Sỹ.)

 

278. Tất cả hành khổ đau, với Tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh. (Tương tự, nghe rằng tất cả hành là khổ, 500 vị tỳ kheo khác liền đắc quả A la hán.)

 

279. Tất cả pháp vô ngã, với Tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán. Chính con đường thanh tịnh. (Tương tự, 500 vị tỳ kheo khác sau khi nghe rằng tất cả pháp đều vô ngã, liền đắc quả A la hán. Ghi nhận rằng, Thiền Tông VN phần lớn là pháp này: thấy chư pháp vô ngã là giải thoát. Ngài Trần Nhân Tông nói, "Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt..." và "Đức Phật chưa từng dạy một lời..." cũng là chỉ vào tánh vô ngã của các pháp, và ngay cả vô ngã của thân tướng Đức Phật. Thiền sư Nghĩa Hoài Thiên Ý nói rằng phàm là bậc tông sư trong Thiền tông thì phải đoạt trâu của kẻ đi cày [để thấy vô ngã thì phải thấy con trâu, tức là tâm, sẽ thường trực là không, và vì là không, cho nên không thấy có gì để đi cày, để mài giũa tâm]; bậc thầy cũng phải cướp cơm kẻ đói, tức là giúp học trò ngộ được bản tâm vô ngã thì không có ngã nào cần tìm cơm nữa.)

 

348. Bỏ quá, hiện, vị lai, đến bờ kia cuộc đời. Ý giải thoát tất cả, chớ vướng lại sanh già. (Chàng nghệ sĩ Uggasena đứng trên đầu cây sào hát xiệc, nghe xong là đắc quả A La Hán. Người giải thoát thì trong tâm không còn dính gì với quá khứ, hiện tại, vị lai nữa.)

 

367. Hoàn toàn, đối danh sắc, Không chấp Ta, của Ta. Không chấp, không sầu não. Thật xứng danh Tỷ kheo. (Đức Phật gặp 2 vợ chồng Bà La Môn, trả lời câu hỏi bằng bài kệ này, rằng ai không dính mắc vào thân và tâm là “tôi và của tôi”, và không đau buồn trước sự tan rã của thân và tâm thì được gọi là một vị tỳ khưu. Hai vợ chồng Bà La Môn nghe xong đều đắc quả Bất Lai, tức quả A-na-hàm.)

 

385. Không bờ này, bờ kia. Cả hai bờ không có. Lìa khổ, không trói buộc. Ta gọi Bà La Môn. (Bài kệ này Đức Phật nói với Mara. Bờ này là mắt tai mũi lưỡi thân ý; bờ kia là cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc và được tư lường. Thấy cả 2 bờ đều là Không, thì lìa khổ, sẽ giải thoát. Đây cũng là những câu đầu của bài Bát Nhã Tâm Kinh.)

 

421. Ai quá, hiện, vị lai, không một sở hữu gì, không sở hữu không nắm, Ta gọi Bà La Môn. (Nhân duyên Đức Phật nói bài kệ này là, khi cư sĩ Visakha ở thị trấn Rajagaha đắc Quả A-na-hàm, thì vợ cư sĩ này là bà Dhammadinna xin xuất gia, vào một Ni viện. Chỉ trong thời gian ngắn, Ni trưởng Dhammadinna đắc quả A la hán. Khi Ni trưởng Dhammadinna về thăm thành phố Rajagaha, Đức Phật xác nhận rằng Ni trưởng Dhammadinna đã đắc quả A la hán, và Đức Phật đọc bài kệ này, rằng bậc giải thoát là trong tâm không lưu giữ bất kỳ một pháp nào của quá khứ, hiện tại, và vị lai. Cả 3 thời đều tịch lặng trong tâm người giải thoát.)

 

Trong ba bài kệ có số 277 (thấy các pháp là Vô thường), 278 (thấy các pháp là Khổ), 279 (thấy các pháp là Vô ngã) dẫn trên, đặc tướng của các pháp còn được gọi là Pháp ấn. Chỉ cần thấy tận tường, thường trực một Pháp ấn là sẽ thấy trọn cả ba Pháp ấn, và sẽ giải thoát. Trong khi đó, các bài kệ 46, 93, 348, 367, 385, 421 cho thấy giải thoát sẽ tới khi thấy các pháp là Như huyễn, là Không, là Vô tướng, là lìa cả ba thời. Tất cả các bài kệ vừa dẫn đều mang tinh thần Đốn ngộ của Thiền tông Việt Nam. Nghĩa là, chỉ cần thấy một lóe lên của tâm giải thoát, thì từ đó chỉ bảo nhiệm tâm này. Trong khi đó, các bài kệ 20, 95, 96, 183, 190, 191, 273 là nói lên lộ trình Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, giữ ba nghiệp thân khẩu ý cho thanh tịnh, lìa tham sân si, là con đường tuần tự, liên tục gột rửa lậu hoặc.

 

Trong tác phẩm tiếng Anh "Easy Paths for attaining Nibbāna" (Những con đường dễ thành tựu Niết Bàn) (2) bao gồm 31 bài Kinh trích từ Tạng Pali do các nhà sư Thái Lan sưu tập, đã in hai lần bài kinh SN 35.147 tương ưng với bài kệ Pháp Cú 277 (thấy Vô thường) trong sách, nơi trang 2, và rồi in lại nơi trang 54. Khi in 2 lần trong cuốn sách mỏng đó, không phải là lỗi kỹ thuật, chỉ vì các sư Thái Lan nhấn mạnh tầm quan trọng lời Đức Phật dạy rằng hễ thấy vô thường là đang đi tới Niết Bàn.

 

Bài Kinh SN 35.147 trong Nikaya là tương đương với Kinh SA 219 của Tạng A Hàm. Bài Kinh này rất ngắn, nội dung Đức Phật dạy rằng, hễ thấy vô thường khắp cõi này là đang bước tới Niết Bàn. Bài Kinh SA 219, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng như sau:

 

Tôi nghe như vầy. Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: Nay Ta sẽ nói về con đường đưa đến Niết-bàn. Vậy, thế nào là con đường đưa đến Niết-bàn? Quán sát mắt là vô thường. Quán sát sắc, nhãn thức và cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ được cảm thọ bên trong phát sanh bởi nhân duyên nhãn xúc; chúng cũng đều là vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Đó gọi là con đường đưa đến Niết-bàn.’” (Hết trích)

 

Hình ảnh quán niệm vô thường còn được thể hiện trong Thiền Tông Việt Nam qua bài thơ Trâu Bùn Qua Sông của Tuệ Trung Thượng Sỹ: thấy các pháp tan rã như con trâu bùn lội sông thì sẽ giải thoát. Trâu bùn lội sông còn có  nghĩa là thể nhập pháp ấn vô thường và vô ngã. Đức Phật cũng nói về oai lực của pháp quán niệm vô thường rằng có cúng dường Tam Bảo phước đức cỡ nào cũng không bằng một khoảnh khắc niệm vô thường. Đức Phật dạy trong Kinh AN 9.20, bản dịch của Thầy Minh Châu trích như sau:

 

“...và có ai bố thí trăm vị A-la-hán… và có ai bố thí một vị Độc giác Phật, và có ai bố thí trăm vị Độc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng… và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.” (Hết trích)

 

khi thấy vô thường, tức là thấy vô ngã. Lý luận này được Đức Phật sử dụng trong nhiều kinh, như các Kinh SN18.1, SN22.59, S 22.87. Trong Kinh SN18.1, Đức Phật dạy ngài Rahula rằng: "Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, khi xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?" Tương tự, trong Kinh AN 9.3, Đức  Phật dạy: "Này Meghiya, với Tỷ-kheo có tưởng vô thưởng, tưởng vô ngã được tồn tại."

 

Như bài Kệ Pháp Cú 279 ghi rằng, hễ thấy các pháp vô ngã tức là đang bước tới Niết Bàn. Nơi đây, chúng ta nhận ra lời dạy này trong Kinh SN35.149 nơi Tạng Pali, tương đương bên A Hàm là Kinh SA220. Chú ý rằng, Kinh SA 220 là kế tiếp Kinh SA 219 đã dẫn trên. Do vậy, Đức Phật gọi là con đường tương tợ [tức, tương đương như quán vô thường] đưa tới Niết Bàn. Kinh SA 219, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng như sau:

 

Tôi nghe như vầy. Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: ‘Có con đường tương tợ đưa đến Niết-bàn. Vậy, thế nào là con đường tương tợ đưa đến Niết-bàn? Quán sát mắt chẳng phải ngã. Quán sát sắc, nhãn thức và cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ được cảm thọ bên trong phát sanh bởi nhân duyên nhãn xúc, chúng cũng được quán sát là vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Đó gọi là con đường tương tợ đưa đến Niết-bàn.’” (Hết trích)

 

Trường hợp Kinh SN 12.70 (Susima Sutta), trong khi nhiều nhà phân tích nói rằng 60 vị tăng trong kinh này được Đức Phật công nhận là đã chứng quả A la hán tuy là chưa đắc định (hiểu là chưa đạt sơ thiền), chưa có thần thông, nhưng Thanissaro Bhikkhu viết ghi chú trên mạng Access to Insight rằng có lẽ 60 vị A la hán đó đều đã đắc sơ Thiền.

 

Lời dạy tóm tắt trong Kinh SN 12.70 là: "...cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”... tương tự với thọ, tưởng, hành, thức... Này Susīma, thấy như vậy, vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”..." (Hết trích)

 

Trong khi đó, Kinh Ud.1.10 (còn gọi là Bahiya Sutta) và Kinh SN35.95 (Malunkyaputta Sutta) ghi cùng một lời dạy của Đức Phật. Kinh Ud.1.10 có một điểm đặc biệt: sau khi đạo sĩ ngoại đạo Bahiya tới vấn đạo, nghe Đức Phật dạy xong, khi bước đi trên đường thì bị bò húc chết, lúc đó Đức Phật nói rằng Bahiya đã trở thành A La Hán, nên cái chết là vào Niết Bàn. Trong khi đó, trong Kinh SN35.95, Trưởng lão Malunkyaputta thưa Đức Phật rằng ngài đã già yếu, nên cần xin lời dạy ngắn gọn để giải thoát khẩn cấp. Nơi đây, trích dịch Kinh Ud.1.10 như sau:

 

Thế này, Bahiya, ông nên tu tập thế này: Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya.” (Hết trích)

 

Trong Kinh AN 9.3, Đức Phật dạy rằng: "Meghiya, người nhận ra vô thường sẽ thiết lập sự nhận biết về vô ngã. Người nhận ra vô ngã sẽ hoàn toàn nhổ bỏ được khái niệm về cái gọi là "cái tôi là" -- và  – Niết Bàn có thể thấy được ngay lập tức.” (Câu vừa dẫn là dịch theo Bhikkhu Sujato và Bhikkhu Suddhāso, và đối chiếu vời bản dịch của Thầy Minh Châu, nói rằng thấy vô thường, tức thấy vô ngã, tức khắc nhận ra Niết Bàn.)

 

Cái gần nhất với chúng ta luôn luôn là thân. Đức Phật dạy rằng Thân hành niệm (Niệm thân) sẽ đoạn tận vô minh, sẽ xóa bỏ chấp ngã "tôi là," sẽ nhổ tận gốc các tùy miên tiềm ẩn, sẽ đoạn tận giải thoát. Kinh AN 1.586, dịch như sau: “Này các Tỷ-kheo, khi một pháp được phát triển và trau dồi, vô minh hoàn toàn bị đoạn tận, tri kiến chân chính khởi lên, ngã mạn ‘tôi là’ bị đoạn tận, các khuynh hướng tiềm ẩn bị nhổ tận gốc, và các kiết sử xiềng xích bị đoạn tận. Một pháp nào? Đó là Thân hành niệm."

 

Kinh MN 118 có nhiều lời dạy quan trọng, không thể tóm tắt trong một vài câu được. Nhưng có thể rút một phần ra để ứng dụng trong mọi thời, dù là ngồi gữa chợ, hay trên xe buýt, hay trong lớp học. Trích như sau:

 

"Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập." (Hết trích)

 

Kinh SN 36.7, lời Đức Phật dạy rằng phải thường trực chánh niệm và tỉnh giác, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

 

"Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọquán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.

 

Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác." (Hết trích)

 

Kinh MN 145, Đức Phật dạy, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: "Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Puñña, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ. Này Puñña, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Puñña, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ." (Hết trích)

 

Giữ tâm vô niệm là một pháp thường được dạy trong Thiền Tông Trung Hoa và Việt Nam. Trong Kinh SN 12.40, Đức Phật dạy giữ tâm vô niệm như sau, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không có an trú. Do thức ấy không an trú, không tăng trưởng nên không có thiên về, hướng về. Do không có thiên về, hướng về nên không có đi đến tái sanh. Do không có sự đi đến tái sanh nên không có từ bỏ và sanh khởi. Do không có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.” (Hết trích)

 

Nếu bạn không tu tập Tứ Niệm Xứ, bạn có thể tu tập theo Vô tướng thiền định. Đó là lời Đức Phật dạy trong Kinh SN 22.80. Bản dịch của Thầy Minh Châu trích như sau:

 

Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vô tướng Thiền định được tu tập, làm cho tăng thịnh, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.” (Hết trích)

 

Thế nào là tu tập Vô tướng Thiền định? Khi tu tập Tứ Niệm Xứ, nghĩa là niệm thân, thọ, tâm, pháp, nghĩa là niệm tất cả các tướng của thân và tâm. Ngược lại, tu tập Vô tướng Thiền định có nghĩa là “không tác ý tất cả tướng,” nói cụ thể là “niệm vô tướng,” hay nói theo Thiền Việt Nam là vô tâm hay vô niệm, cũng có thể gọi là “tỉnh thức với tâm không biết.” Trong Kinh SN 41.7, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích lời vấn đáp giữa ngài Godatta và gia chủ Citta (một cư sĩ thượng thủ) như sau:

 

Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô tướng tâm giải thoát… Tham dục (ràga) làm sự đo lường, sân làm sự đo lường, si làm sự đo lường. Đối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối các vô lượng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.” (Hết trích)

 

Đức Phật cũng dạy rằng, nếu hành giả vào được sơ thiền, từ đây quán vô thường, cũng sẽ giải thoát, mà không cần tập các pháp định sâu hơn. Bản dịch của Thầy Minh Châu trong Kinh AN 9.36 như sau:

 

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền. Vị ấy ở đây, đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (Hết trích)

 

Trường hợp, bạn ưa thích tu thiền công án? Người viết đề nghị rằng bạn nên chọn công án Tiếng Vỗ Của Một Bàn Tay. Đây là công án do Thiền sư Bạch Ẩn đưa ra cho học nhân chọn làm câu hỏi để quan sát. Nếu bạn có thì giờ, bạn nên đọc lại quyển 4 trong Kinh Lăng Nghiêm (nên đối chiếu nhiều bản dịch và chú giải cho quyển 4), phần nói về Đức Phật bảo ngài La Hầu La gõ tiếng chuông rồi hỏi, nghe được những gì khi gõ chuông và khi không gõ chuông. Nghĩa là, tánh nghe vẫn hiển lộ thường trực, bất kể khi có tiếng hay không có tiếng, bất kể khi bạn thức hay ngủ. Nhưng bạn đừng bận tâm mọi chuyện lý luận về công án Tiếng Vỗ Của Một Bàn Tay, bạn chỉ cần lắng nghe và đừng tìm câu trả lời nào hết, hãy hồn nhiên như trẻ nhỏ để tỉnh thức với cái nghe. Hãy giữ tâm không biết, mới thực sự là niệm vô thường.

 

Bạn sẽ thấy rằng, ngay khi bạn chú tâm nghe, chính là bạn đang lắng nghe vô thường, nơi đây tất cả tư lường đều biến mất, đều bị cuốn trôi. Nơi khi lắng nghe, bạn sẽ tự động có chánh kiến, vì tất cả những Có và Không đều bị cuốn trôi mất, bạn sẽ tự động đắc giới vì tham sân si đều vắng bặt trong lắng nghe, bạn sẽ tự động đắc định (ít nhất là sơ Thiền) vì tâm tự động “ly dục, ly bất thiện pháp…” và khi đắc cả giới và định, thì ngay ở niệm lắng nghe đó chính là huệ --- nơi kinh gọi rằng tâm bạn đã không còn vướng gì với quá khứ, hiện tại, và tương lai.

 

GHI CHÚ:

(1)  The whole of the Path in 2 sentences or less - Sutta quotes: https://discourse.suttacentral.net/t/the-whole-of-the-path-in-2-sentences-or-less-sutta-quotes

(2) Easy Paths for attaining Nibbāna. https://download.watnapahpong.org/data/static_media/Easy_paths_English_version_29.pdf

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
SEOUL Lee Sun Kyun, nam diễn viên trong bộ phim đoạt giải Oscar của Hàn Quốc "Parasite", được nhà chức trách tìm thấy đã tắt thở trong xe hơi của mình vào sáng ngày 27 tháng 12 giờ địa phương.
Văn phòng U.S. Trade Representative, Katherine Tai, đã thông báo gia hạn thêm miễn trừ thuế quan “Section 301” đối với 352 mặt hàng nhập cảng từ Trung Quốc và 77 danh mục liên quan đến COVID-19 cho đến ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Reuters.
RFA: Chính phủ Việt Nam cam kết tới cuối năm 2099 (tức là, 76 năm nữa) sẽ cải thiện nhân quyền. Bản tin Đài Á Châu Tự Do: Chính phủ Việt Nam cam kết với Liên Hiệp Quốc sẽ cải thiện hồ sơ nhân quyền và một số lĩnh vực khác với hạn thực hiện vào năm 2099, và theo một số nhà hoạt động, Việt Nam hoàn toàn không nghiêm túc khi đưa ra thời hạn này. Trong dịp kỷ niệm 75 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948-2023), Chính phủ Việt Nam đã gửi một văn bản với tám cam kết
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin cho biết quân đội Mỹ đã tấn công lực lượng dân quân Kataib Hezbollah do Iran hậu thuẫn ở Iraq, sau khi căn cứ không quân của Mỹ ở Erbil, miền bắc Iraq bị tấn công vào ngày Giáng sinh, khiến ba lính Mỹ bị thương, một trong số họ nguy kịch.
Một cuộc không kích của Israel bên ngoài thủ đô Damascus của Syria đã giết chết một cố vấn cấp cao của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran. Theo trang Reuters rằng người cố vấn đã chết được gọi là Sayyed Razi Mousavi, chịu trách nhiệm điều phối liên minh quân sự giữa Syria và Iran.
Một chiến lược gia chính trị lập luận rằng ban vận động tranh cử tổng thống của Donald Trump có thể còn hai tuần nữa để hoạt động, vì sau đó là tan rã. Gần đây, Tòa án Tối cao Colorado phán quyết phải xóa tên Trump trên phiếu bầu sơ bộ của Đảng Cộng hòa Colorado vì Trump đã "tham gia nổi dậy" với những kích động của Trump dẫn đến cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1 năm 2021.
Một phụ nữ ở Alabama có hai tử cung đã hạ sinh một cặp bé gái song sinh khỏe mạnh vào đầu tuần này, theo Reuters. Kelsey Hatcher và chồng mình, Caleb, đã chào đón bé Roxi Layla vào tối thứ Ba và bé Rebel Laken vào sáng thứ Tư tại University of Alabama at Birmingham Hospital (UAB).
Các cuộc tấn công của Israel bắt đầu vài giờ trước đêm Giáng sinh và vẫn tiếp tục kéo dài đến ngày lễ Giáng sinh vào thứ Hai (25/12). Người dân địa phương và truyền thông Palestine cho biết Israel đã tăng cường pháo kích cả trên không và trên mặt đất nhằm vào al-Bureij ở trung tâm Gaza, theo Reuters.
Có một Ông Già Noel như thế, mang họ Nguyễn trên đất nước Hoa Kỳ này. Không rõ tôi gọi như thế có bị xem là sai phạm luật đạo gì không, vì tôi không phải tín đồ Công Giáo, nên những so sánh văn chương có thể không thích nghi với luật đạo. Nhưng, nếu gọi Ông Già Noel là người mang những món quà yêu thương tới cho những người tội nghiệp trên trần gian này, thì ông cụ họ Nguyễn đó còn mệt nhọc hơn nữa, vì trong hơn hai thập niên, ngày nào cũng là ngày để ông tặng quà yêu thương, nghĩa là, ngày nào ông cũng thấy là ngày Lễ Giáng Sinh và ông hóa thân ra thành 365 Ông Già Noel để bận rộn trọn năm (Đúng ra, nên trừ các ngày cuối tuần mới chính xác, nhưng như thế là chẳng văn chương gì cả).
Tối 24/12, người dân đổ về khu trung tâm TPHCM, các xóm đạo để đón Noel, nhiều tuyến đường ùn ứ, các điểm vui chơi đông nghẹt người. Từ 18h, khắp các ngả đường hướng về trung tâm TPHCM đông đúc, ùn ứ kéo dài vì người dân đi chơi Noel. Tại phố Nguyễn Huệ, nhà thờ Đức Bà, Diamond Plaza (quận 1)... đông nghịt người.
Nơi Chúa Jesus ra đời thì đầy những chết chóc và thế giới vẫn giữ im lặng, theo ghi nhận tại chỗ của báo USA Today ấn bản sáng Thứ Bảy 23/12/2023. Ghi sau đây là lời của Ola Musleh là người quản lý chương trình của tổ chức nhân đạo quốc tế Dịch vụ Cứu trợ Công giáo (Catholic Relief Services). Cô sống ở Bethlehem cùng chồng và hai con.
Trong các thuật ngữ của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế". Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế.
Cá nhân cựu Tổng Thống Donald Trump đã dựa vào 2 quan chức bầu cử ở Michigan trong nỗ lực khiến họ từ chối chứng nhận kết quả địa phương của cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, theo đoạn ghi âm cuộc trò chuyện mà báo The Detroit News thu được. Tờ báo đưa tin hôm thứ Năm rằng trong một cuộc điện thoại vào ngày 17/11/2020, tổng thống khi đó đã nói với hai quan chức, cả hai đều là thành viên Đảng Cộng hòa của Hội đồng vận động viên quận Wayne, rằng họ sẽ trông “khủng khiếp” nếu chứng nhận kết quả.
Trong thời điểm chiến sự Hamas-Palestine vẫn đang căng thẳng, ở Mỹ hễ người nào nói đến vấn đề nhân đạo với người dân Palestine thường bị chụp mũ là ủng hộ khủng bố. Còn nếu yêu cầu Isarel phải tôn trọng quyền sống của thường dân Gaza, thì sẽ bị xem là “chủ nghĩa bài Do Thái!” Trong một hoàn cảnh như vậy, người Mỹ cần nghe thêm những câu chuyện được kể từ phía Palestine để có cái nhìn hai chiều.
Noel hay Noël có nguồn gốc từ một từ tiếng Pháp cổ, “nael”, có nghĩa là “của hoặc sinh ra vào ngày Giáng Sinh”. Tên này bắt nguồn từ sự ra đời của Chúa Giêsu, được gọi là “natalis die” có nghĩa là “ngày sinh”, sau đó được dùng trong tiếng Anh trung cổ với tên gọi "Nowel". Kể từ thời Trung cổ, theo truyền thống những đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ Giáng Sinh đã được đặt tên Noel. Mặc dù đây là một cái tên phổ biến cho cả nam và nữ, nhưng đôi khi con gái thì được được đánh vần là Noelle. Noel đã được hát bằng tiếng Latin hoặc tiếng Pháp trong nhiều thế kỷ trước khi những người nói tiếng Anh bắt đầu sử dụng từ này để chỉ các bài hát mừng Giáng Sinh vào thế kỷ 18. Việc sử dụng noel (đánh vần là nowell) có nghĩa là "Giáng Sinh" có thể được tìm thấy trong văn bản về truyền thuyết Arthurian vào cuối thế kỷ 14, sử dụng lần đầu tiên: thế kỷ 15 – viết hoa: CHRISTMAS.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.