Căn phòng chứa đựng mọi khoảnh khắc

21/07/202300:00:00(Xem: 1398)

tranh-Ann-phong
Tranh của họa sĩ Ann Phong.

 

Tháng 7. Mùa hè đang gửi đến đây một sứ giả vô cùng dễ thương. Phượng tím. Đi đâu chợt cũng bị màu tím thơ mộng ấy níu mắt nhìn, làm dịu đi cái nóng chói chan. Bạn đang ở đâu, buổi sáng rực nắng đi chơi hay chiều mệt nhoài sau giờ làm việc, hay tối, hay khuya, hàn huyên bạn thiết, hoặc giả nói chuyện một mình, tất cả những tâm trạng thời gian đó, bạn sẽ tìm thấy được trong Căn phòng chứa đựng mọi khoảnh khắc, nơi các nhà thơ Hoàng Trúc Ly, Duy Thanh, Nguyễn Thùy Song Thanh, Tomas Transtromer, Âu Thị Phục An, Chiêu Anh Nguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trương Đình Phượng, Inrasara, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Xuân Thiệp, đọc cho bạn nghe những vần thơ mang âm hưởng chói chan của mặt trời mùa hạ, hoang mạc gai xương rồng, mật ngọt của thiên nhiên… Và ai biết đâu, trong màu tím đầy dẫn dụ kia, dư âm nồng nàn của một tình yêu, đã xa, bỗng nhẹ về trên gió, trên hạt mưa đi lạc mùa, trên tiếng cười gã làm thơ bên góc phố và trong âm thanh vỡ của tiếng đàn gã nhạc sĩ lang thang… Những khoảnh khắc ấy, đủ gọi trăm năm…(NTKM)

 

***

 

ÂU THỊ PHỤC AN

 

Gõ Cửa

tình nhân bỏ đi

nắng quay quắt nóng

cơn hừng hực vàng quái con đường 

38 độ

 

cánh cửa đóng lại

những gian dối đóng lại

mùa hè bay theo gót chân vội vàng

bụi bặm bay lên thành phố nắng 

 

kẹt giữa những cuồng ngông

rền vang âm thanh 

ta cô đơn trước cánh cửa lòng 

không còn rộng mở

 

tiếng rúc rích của gió

cũng không còn êm êm vuốt ve 

những trưa hè quấn quít

 

gõ mãi cánh cửa quá khứ

chỉ rơi xuống chân nổi buồn

người bỏ lại.

 

***

 

TOMAS TRANSTROMER

  

Những Bí Mật Trên Đường

 

Ánh sáng chiếu vào khuôn mặt của một người đang ngủ.

Giấc mơ của anh ta càng trở nên sống động

nhưng anh ta không thức giấc.

 

Bóng tối dội vào khuôn mặt của một người đang bước đi

giữa những người khác dưới những tia nắng nôn nóng và chói chan.

 

Trời bỗng nhiên tối sầm, như một trận mưa rào.

Tôi đứng trong một căn phòng chứa đựng mọi khoảnh khắc –

một viện bảo tàng bướm.

 

Và mặt trời vẫn còn chói chan như lúc trước.

Những chiếc cọ nóng nảy của nó đang vẽ thế giới.

 

(Cao Thu Cúc dịch)

 

***

 

INRASARA

 

Ngụ Ngôn Loài Xương Rồng

 

Khi những trận gió cuồng nộ của mùa hạ đã xa

và cơn mưa ngọt lịm của mùa thu chưa tới

Đêm tối tràn qua bãi trống cánh đồng đến nằm vạ trên ngọn đồi chỏng chơ

Vuốt nốt mi mắt nhợt nhạt của chiều ngủ muộn trong khoảng rừng thưa

Còn tiếng cánh dơi vỗ vào thành đêm, tiếng rì rầm của đất

Còn dáng khẳng khiu của bụi xương rồng kiên trì góp nhặt

Những giọt nắng tàn ban ngày để thắp sáng về đêm.

 

Vệt sáng mỏng manh chỉ sáng lên khi thế giới đã thẫm đen

Côi cút dưới chân đồi quê hương sống đời ẩn ngữ.

 

Ngày tháng làm tha phương bao lần đối mặt với cô đơn bùng vỡ

Bị đè dưới sức nặng ngôn từ hay chìm nghỉm vũng lầy áo cơm

Ánh sáng nâng đỡ tôi trên bàn chân – bóng tối – con đường

Cả lúc chân trời dường vắng mặt.

 

Dáng khẳng khiu luôn treo phía trước tôi như thách thức

Vẫy gọi tôi về phía con đường.

 

Khi những cụm mây trắng mùa thu bị đánh bạt bởi trận giá buốt đầu đông

Trên vừng trán cha mới thấp thoáng niềm vui vụ gặt thịnh mùa mà trong mắt mẹ đã xám sẫm nỗi lo hư mất

Những lãng đãng bóng chiều tuổi thơ, cờ ngô kiêu hãnh hay mang mang nỗi buồn câu hát

Những đứa con quê hương đi lìa cuống rốn quê hương.

 

Còn dáng khẳng khiu của cây xương rồng ở lại trên triền đồi mãi phát sáng về đêm.

 

***

 

CHIÊU ANH NGUYỄN

 

Tháng Bảy Mồ Côi

 

Tháng bảy

Chập chờn mưa

Sài gòn buồn ngạo nghễ

Bông hồng trắng cho ngày tang lễ

Tiễn tình yêu mồ côi

Giọt long lanh trên ngón thon dài

Mong manh nỗi nhớ

Chạng vạng nấm mồ

Phủ dây leo…

những chùm hoa li ti màu lửa

Bốc cháy lân tinh

Đường quanh co nuớc xoáy ngược dòng

Cuốn trôi một vòng tái sinh

Chấp cánh

Sài gòn đào mồ chôn nỗi buồn lóng lánh

…tháng bảy mồ côi…

 

***

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

 

Tháng Bảy Và Hoa Larkspur

 

Không biết mùa hoa tím có về trên mỏm đá xưa

nơi bờ biển một lần. Anh và em

cùng đàn phi yến xôn xao mật hạ

larkspur nồng nàn

hư huyễn một mầu hoa

biển dập dồn những ước mơ bé dại

say theo mép sóng

những dấu chân cát ngẩn ngơ. Anh và em

muốn giữ lại

giây phút trẻ thơ của nụ hôn tím

của vòng tay ôm mùa hè ngút biển

và tháng bảy sẽ không trôi qua

màu tím ấy sẽ không tàn 

phải không anh?

 

Khi đàn phi yến đã bay đi

Larkspur chỉ còn là những hạt lệ. Bên ghềnh đá

chờ anh và em

tháng bảy như cây cọ buồn

Vẽ ngùi theo mắt gió…

 

Khi tháng bảy rụng xuống. Biển chìm vào đêm

Những cánh hoa bay xa

bỏ lại thánh đường cô đơn mùa hè âm vang tiễn biệt…

 

***

 

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

 

Những Âm Thanh Tan Vỡ (Trích đoạn 1)


từng cánh mây rụng. hoảng hốt
ai nghe thấy tôi không?
im lặng.
tiếng đập cánh buồn bã của bầy mối non
làm run rẩy bức tường đêm. 
những nốt nhạc soi mình vào câu từ dang dở
bài hát về cuộc hành hương của đàn rắn đuôi chuông
lạc đường trên sa mạc.
ai nghe thấy tôi không?
im lặng.
gã nhạc sỹ lang thang tựa đầu vào chiếc đàn 
lắng nhịp thở mưa 
những nhánh hoa khuya giật mình
làn hương nhợt nhạt đơm trên những bàn tay gió
lẻn vào giấc mơ những kẻ không nhà
dưới gầm cầu 
bầy chuột nằm nhớ về những đóa sao xanh.

 

***

 

NGUYỄN XUÂN THIỆP

 

Buổi Chiều. Tiếng Cười Trên Góc Phố

 

buổi chiều. và tiếng cười

rơi. trên góc phố quen

 

dường như

những giọt nắng đã rực rỡ

trong mùa hè qua

và những giọt nắng tàn phai

màu tím. chiều nay

 

giấc mơ nào đã chết

 

có gã làm thơ

đi tìm

vầng trăng. trong cỏ rối

thơm mùi hoa cúc dại

 

phải rồi

từ lúc xa phương đông

là biết đời đã trễ. những chuyến tàu

cánh cổng sân ga. đóng lại

 

trời dallas. chiều nay

mặt trời thắt cổ

những con chim đen

đeo đầy những đường dây điện

cùng cất tiếng. gọi mùa về

mùa đã gẫy cánh. phương xa

 

ôi. dallas

nơi tôi đã đến. đã ở mười năm. đã viết văn làm báo

và sẽ ra đi

vầng trăng sau cơn bão

còn lại bao lâu. những bài thơ. lúc chia tay

không ai vẫy chào. không giọt lệ

 

và buổi chiều. tiếng cười trên góc phố

tiếng cười

như thủy tinh. vỡ

dường như. dường như. rất quen

 

***

 

PHẠM THIÊN THƯ

 

Bài 96 (Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng)

 

Gối tay nệm cỏ nằm say

Gõ vào đá tụng một vài biến kinh

Mai sau trời đất thái bình

Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

 

***

 

HOÀNG TRÚC LY (1933-1983)

                                                 

Mưa Chiều Nay

 

Mùa mưa nghe trời ướt mắt xanh

Gió thổi mưa xưa hờn kinh thành

Hôm nay lưu luyến về bên ấy

Em lạnh lùng không khi nhớ anh

 

Ngày quen em phượng nở môi son

Chiều tiễn đưa lá rụng dép mòn

Từ mang ly biệt vào năm tháng

Thao thức cho bằng mấy núi non    

 

***

 

DUY THANH (1931-2019)

 

KHÚC 2 (Trích từ bài Sầu Tám Khúc)

 

Thời tiết nào có đổi thay hay chỉ đổi thay ở mình. Có điệu nhạc nào bay từ không gian những hành tinh nào thế nhỉ. Mà em hát điệp khúc gì, anh vẫn nghe mà vẫn không thấy gì, hay âm nhạc chính là em. Bây giờ anh mới muốn hôn em, từ đầu ngón chân bé bỏng. Những búp chân hồng, những búp ngón tay. Cái khoảng cách diệu kỳ lạ lùng như tiếng nấc. Anh uống màu hơi thở hoàng hôn. Cả với em. Cùng tiếng hát nhiệm màu.

 

Trên những mái nhà thành phố là màu tím trời đêm.

Trên những linh hồn lang thang là nụ cười sa mạc.

 

***

 

NGUYỄN THÙY SONG THANH (1939-2022)

 

Như Vậy Cũng Đủ

 

Thiên nhiên ngọt rót vào tai lời mật

Cười lên nghe đời vỡ giọt bi ai

Bình yên như núi đá giấu ngậm ngùi

Quên khoảnh khắc thác trào cơn nức nở

 

Bàn tay đã hôn cõi lòng đã nhớ

Nỗi buồn cũng lộng lẫy đủ trăm năm

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cõi thơ Viên Linh là cõi nhân sinh đầy hệ lụy của định mệnh. Định mệnh của một dân tộc điêu linh, lưu lạc. Định mệnh của con người bé nhỏ và yếu ớt trong dòng chảy cuồng lưu của kiếp sống. Định mệnh của tình yêu mệt mỏi, chán chường và bất trắc. Thơ Viên Linh là một biểu hiệu cho Con Người như là một hữu-thể-tại-thế với tất cả những khổ đau và hoan lạc. Ông vừa tạ thế hôm cuối tháng Ba vừa rồi, Việt Báo trân trọng đăng lại một số ít thơ của ông như một nén tâm hương gửi đến người Thi Sĩ quá cố.
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền và đã bị cầm tù trong nhiều năm. Năm 1998, Hòa Thượng được tổ chức Human Rights Watch tặng giải thưởng về nhân quyền Hellmann-Hamett Awards. Hòa Thượng là Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa Thượng thông thạo tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Hòa Thượng được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật, được coi là nhà sư uyên bác nhất của Phật giáo Việt Nam, đã soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển.
Đó là tựa đề một bài viết của nhà thơ Phan Tấn Hải, và đây là kết của bài: “Chữ nghĩa không vô ích. Chúng ta trong cõi này hãy rủ nhau làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ, in thơ, hát thơ… Nếu chúng ta không đủ sức nương vào thơ để ngộ nhập tri kiến Phật, và nếu chúng ta cũng không có đủ sức mạnh của hát thơ để chữa sản nạn như thời Vua Hùng Vương, ít nhất thơ cũng giúp chúng ta giảm được những đau đớn của trần gian này, kể cả khi buộc phải nghe tới bốn dòng thơ ly biệt tương tự của Cha Rồng và Mẹ Tiên thời lập quốc dân tộc Việt Nam (Ta là giống Rồng / Mình là giống Tiên / Thủy thổ khắc nhau / Không ở cùng được.) Nàng thơ ơi, hãy cứu lấy trần gian này. Hãy biến tất cả những trận mưa bom trên trần gian này thành các trận mưa thơ…” (Phan Tấn Hải, Thơ sẽ chữa lành thế giới
Ta về một cõi tâm không / Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn / Còn yêu một thuở đi hoang / Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya / Ta đi dẫm nắng bên đèo / Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều / Nguyên sơ là dáng yêu kiều / Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ / Còn đây góc núi trơ vơ / Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao
Nhà văn Jon Fosse vừa đoạt giải Nobel Văn chương về kịch nghệ năm nay, 2023. Ngoài ra, ông cũng nổi tiếng trong lãnh vực thơ và truyện. Tác phẩm của ông được dịch ra khoảng 50 ngôn ngữ. Tìm hiểu về mục đích sáng tác, ông cho biết, “I hope they can find a kind of peace in, or from, my writing.” (Tôi hy vọng người đọc có thể tìm thấy sự bình an trong các tác phẩm của tôi.) Tác phẩm nổi tiếng với nội dung sâu đậm của ông là dãy “Septology”. Đây là một từ vựng mới, có ý nghĩa là một loạt bảy cuốn sách. Có lẽ, Septology phát xuất từ “Heptalogy” mà ví dụ rõ rệt nhất là dãy tác phẩm Harry Potter.
Mùa thứ ba trong năm đã chớm về. Autumn ngoài nghĩa mùa thu, còn mang nghĩa ẩn dụ là chỉ lúc xế chiều, lúc ngày sắp tàn, là mùa mà ban ngày ngắn và dần lạnh hơn. Bên cạnh hình ảnh biểu tượng là mùa lá rụng, lại cũng là mùa phần lớn trái cây được thu hoạch, vì gắn với đời sống thiên nhiên này mà từ rất lâu văn hóa Tây phương đã nhân cách hóa mùa thu là người phụ nữ trẻ đẹp đầy sức sống với mái tóc gắn đầy lá hoa quả chín, là hình ảnh vừa nên thơ vừa chứa đựng sức sống diệu kỳ của mùa gặt hái.
Nhà phê bình văn học Trung Quốc đời nhà Thanh, Viên Mai, có nói, “Làm người không nên có cái tôi, nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”. Thi hào Tagore cho rằng, “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ảnh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong”. Cả hai nhận định này đều đề cao cái Tôi-làm-Thơ, và cách biểu hiện những thuộc tính về Tôi ấy như thế nào trên ngôn từ thơ. Có hai yếu tố không ai phủ nhận được là cảm xúc và sáng tạo, chính hai yếu tố này định hình phong cách của nhà thơ. Cảm xúc thực được chuyển tải qua thi ngữ, thi ảnh mới mẻ, cá biệt, thì thơ càng có sắc thái nổi bật để lại dấu ấn riêng trong lòng người đọc, dường như không quá để nói rằng điều này định đoạt sinh mệnh một bài thơ. Thơ chỉ thực sự sống khi nó phản ảnh được bản ngã độc đáo của nhà thơ.
Một mùa hè, khi chàng vẫn còn trẻ, chàng đứng bên cửa sổ và tự hỏi họ đã đi đâu, những người đàn bà ngồi bên biển, ngắm nhìn, chờ đợi một điều gì đó không bao giờ đến, gió nhẹ phả vào da họ, gửi những lọn tóc xoã ngang môi họ. Họ đã ngã xuống từ mùa nào, họ đã lạc lối từ ý niệm nào của nét yêu kiều? Đã lâu rồi kể từ khi chàng nhìn thấy họ trong vẻ lộng lẫy đơn độc, trĩu nặng trong nỗi biếng lười, dệt nên câu chuyện buồn về niềm hy vọng bị bỏ rơi. Đấy là mùa hè chàng lang thang trong màn đêm kỳ vĩ, trong biển tối, như thể lần đầu tiên, để tự toả ra ánh sáng của chính mình, nhưng những gì chàng toả ra là bóng tối, những gì chàng tìm thấy là đêm.
… Đã bao năm rồi, biết bao nhiêu nước chảy qua cầu, có quá nhiều điều để không thể nào quên. Ngay trong tù đày, những hình ảnh hồi tưởng chưa bao giờ là cuộc duyệt binh vĩ đại đầy màu sắc và ồn ào của ngày Quân Lực; mà luôn luôn là những bước chân diễn hành thầm lặng của một tiểu đội lính vô danh ở ngày giờ cuối cùng của một thành phố trước khi mất tên Sài Gòn. Người chuẩn úy ấy bây giờ ở đâu, trong một trại cải tạo nào, còn sống hay đã chết, số phận những người lính can đảm kỷ luật tới giờ phút chót ấy bây giờ ra sao, cũng không ai được biết. Liệu có thêm được một dòng chữ nào giữa những trang quân sử viết dở dang để nói về cuộc diễn binh kỳ lạ cấp tiểu đội mang biểu tượng hào hùng của quân lực ở ngày giờ cuối cùng trước khi cả toàn quân tan hàng rã ngũ... (Ngô Thế Vinh, trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn.)
LTS: “19 Hè 72” là một bài trường ca của nhà thơ Ngu Yên viết về chiến tranh Việt Nam với những hình ảnh thống khổ và chết chóc đau thương do chiến tranh gây nên. Và để tri ân người lính Việt Nam Cộng Hòa. Khác với những trường ca thường thấy trước đây, nhà thơ đã kết hợp một cách sáng tạo giữa thi ca với tài liệu từ những trang bút ký, hình ảnh chiến tranh, ca khúc, thậm chí quân sử, để thơ không chỉ là những câu chữ thuần túy nữa, mà là một bức tranh linh động và xúc động khiến người đọc không khỏi bồi hồi khi đọc, dù những điều được nhắc đến trong bài thơ xảy ra cách nay đã trên nửa thế kỷ. Việt Báo trân trọng giời thiệu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.