Cái-tôi trong thơ

18/08/202300:00:00(Xem: 1524)
 
Minh-họa-Đinh-Cường
Minh họa Đinh Cường
 
Nhà phê bình văn học Trung Quốc đời nhà Thanh, Viên Mai, có nói, “Làm người không nên có cái tôi, nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”. Thi hào Tagore cho rằng, “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ảnh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong”. Cả hai nhận định này đều đề cao cái Tôi-làm-Thơ, và cách biểu hiện những thuộc tính về Tôi ấy như thế nào trên ngôn từ thơ. Có hai yếu tố không ai phủ nhận được là cảm xúc và sáng tạo, chính hai yếu tố này định hình phong cách của nhà thơ. Cảm xúc thực được chuyển tải qua thi ngữ, thi ảnh mới mẻ, cá biệt, thì thơ càng có sắc thái nổi bật để lại dấu ấn riêng trong lòng người đọc, dường như không quá để nói rằng điều này định đoạt sinh mệnh một bài thơ. Thơ chỉ thực sự sống khi nó phản ảnh được bản ngã độc đáo của nhà thơ.
   
Mời bạn đọc thơ của các nhà thơ: Federico Garcia Lorca, Thanh Tâm Tuyền, Emily Dickinson, Elinor Wylie, Duy Thanh, Tuệ Mai, Trương Đình Phượng, Tần Vy, Vi Thùy Linh, Nhã Thuyên, Lưu Mêlan, Wislawa Szymborska, để thấy nơi thế giới nội tại của họ sừng sững một cái Tôi Tự Do, Cô Độc, Quyết Liệt, và điều khiến người ta chấp nhận cái Tôi Ngạo Nghễ ấy, là họ luôn có cái nhìn tự hỏi và tra vấn về mình, đó là hành trình tiến đến sự hoàn thiện, đấy là cái “bên trong” mà Tagore nhắn nhủ, từ đó cái Tôi trở nên vừa độc lập vừa chan hòa trong những mối tương quan ngoại tại. – NTKM.
 
***
 
FEDERICO GARCIA LORCA (1898-1936)
 
Tôi muốn trở thành thi sĩ,
từ đầu đến chân,
sống và chết với thơ.
 
Ngu Yên dịch (Trích trong Thơ Toàn Tập của Federico Garcia Lorca.)
 
*
 
THANH TÂM TUYỀN
 
“Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi vì người vào trong đất đai của tôi.
Người hoàn toàn tự do/ để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ. Người hoàn toàn tự-do và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ”…
(Lời mở đầu tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc).
 
Phục sinh (trích đoạn)
 
Tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
Thanh Tâm Tuyền
Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
Tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
Cho đứa nhỏ linh hồn
Sợ chó dữ
Con chó đói không màu
 
Tôi hét tên tôi cho nguôi giận
Thanh Tâm Tuyền
Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
em bé quàng khăn đỏ ơi
này một con chó sói
thứ chó sói lang thang
 
Tôi thèm sống như thèm chết
giữa hơi thở giao thoa
ngực cháy lửa
tôi gọi khẽ
em
hãy mở cửa trái tim
tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
trong sạch như một lần sự thật 
 
*
 
EMILY DICKINSON (1830-1886)
 
Tôi là kẻ vô danh tiểu tốt! Bạn là ai?
 
Tôi là kẻ vô danh tiểu tốt!
Bạn là ai?
Cũng là kẻ vô danh tiểu tốt?
Ồ, ta sẽ thành đôi bạn tri âm
nhưng nhớ đừng cho ai biết
vì người ta sẽ trục xuất chúng mình!
 
Chán biết bao
phải là ông nọ bà kia 
được mọi người biết tiếng
Như con ễnh ương 
suốt ngày
phải nói tên mình
cho một bãi lầy ái mộ.
 
(Đỗ Tư Nghĩa dịch)
 
*
 
ELINOR WYLIE (1885-1928)
 
Xin đừng ai vì chút hy vọng nhân từ
 
Xin đừng ai vì chút hy vọng nhân từ
lẫn lộn tâm hồn tôi
với hình ảnh của sơn dương và chim ó 
Tôi chẳng phải thế đâu – từ bản chất.
 
Là con người, tôi ra đời cô độc
Là đàn bà, tôi bị đời bao vây
Tôi đã vắt ra từ đá khô
chút dưỡng chất
để nuôi mình.
 
Dưới những chiếc mặt nạ bạo tàn và khắc nghiệt
tháng năm trôi – thẳng tắp một hàng
Nhưng chẳng có điều chi đáng cho tôi sợ hãi
Và chẳng có điều chi
thoát khỏi nụ cười tôi.
 
(Đỗ Tư Nghĩa dịch)
 
*
 
DUY THANH (1931-2019)
 
Chân Dung (trích từ Sầu Tám Khúc)
 
hai cánh tay trần trụi giơ lên
cặp mắt mở tròn không chớp
có nghe những tiếng kêu rừng rú trên làn da
như thú dữ chạy dài ngàn khuya lửa cháy
hãy nhìn lên nhìn lên sẽ thấy
chiếc đầu kia gối trên những ngôi sao lạ bồng bềnh
hai cánh tay ruỗi dài thẳng mãi
và mồm kia cứ mãi nín câm.
 
*
 
TUỆ MAI (1928-1982)
 
Đêm Tôi

dòng thương nét nhớ miên man
tôi năm dấu chữ trên trang thư tình
tim dồn nhịp chấm âm thanh
lửa người hồn khói lênh đênh tưởng vời

sầu mi giọt đọng thương hoài
tôi viên thuốc ngủ đưa người qua đêm
còn không môi nóng môi mềm
tôi ly nước cạn đứng yên góc bàn

nhạc mềm ru bước tình lang
tôi trăng giữa tháng cười vàng đêm xanh
chợ đời vui quá đi anh
tôi bìa tạp chí mang hình phấn son

bụi tung ngã rẽ đường còn
tôi giày da cũ đế mòn lạc đôi
đêm mờ làng cũ xa xôi
tôi con đom đóm vờn soi ao bèo

người tình duyên quấn quít theo
tôi cây thay lá trên đèo còn trông
bạn bè ngủ giấc buồn chung
tôi trao cánh vạc thinh không thốt lời...

*
 
WISLAWA SZYMBORSKA (1923-2023)
 
Bầu trời (trích đoạn)
 
Những mảnh trời đặc sệt, loãng tan và lởm chởm
những vùng trời rực nắng, nhẹ bay
những làn gió thổi ngang trời và bao đụn lúa.
Bầu trời ở khắp mọi nơi
ngay dưới làn da, cả trong bóng tối.
 
Tôi ăn bầu trời, tôi thải bầu trời.
Tôi là bẫy trong bẫy
một cư dân được phép ngụ cư
một cái ôm được ôm
câu hỏi trong trả lời câu hỏi.
 
Sự phân chia thành trái đất, bầu trời
đó chẳng phải là cách đúng
của tư duy về sự vẹn toàn
nó chỉ cho phép sống
với một địa chỉ chính xác hơn, dễ tìm hơn
nếu như tôi bị tìm.
Những dấu hiệu của riêng tôi
đó là sự đắm say và thất vọng.
 
(Tạ Minh Châu dịch)
 
*
 
TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG
 
Tranh chân dung
 
Bạn cố định nghĩa những nỗi buồn của bạn
Khi một sợi tóc lìa mái đầu
Hay một sáng thức dậy, soi gương, bạn thấy trán mình thêm nếp nhăn
Vào những chiều bạn ngồi trên ban công
Ngắm từng đám mây tử nạn phía chân trời
Hằng đêm bạn vẫn hay ngồi bên cửa sổ
Khung cửa sổ đã khá cũ, ám mùi của những tháng năm cay đắng
Và bạn lắng nghe hương của loài hoa dại ngoài mảnh vườn nhỏ
Tâm sự
Rồi bỗng một hôm loài hoa đó qua đời sau một trận bão lớn
Đêm đêm chỉ còn bạn với bóng tối, và tiếng côn trùng buốt nhói.
 
Bạn đã cố trải lòng mình với những con chữ
Và bạn nghĩ
Dòng sông tâm tư của bạn sẽ có người đến tát cạn muộn phiền
Nhưng
Bạn chợt nhận ra
Khi bạn mở cánh cửa tâm hồn
Có nghĩa là
Sẽ có rất nhiều nỗi niềm xâm lược trái tim bạn.
 
Bạn đã cố tô vẽ cảm xúc của bạn
Bằng cơ man sắc màu
Nhưng
Bạn biết
Mọi nỗi buồn hay hạnh phúc chỉ có một khuôn mặt.
 
*
 
TẦN VY
 
Trong đêm
 
Tôi nhắm mắt làm bóng tối
Buồn tỉnh khô trên mặt dửng dưng
Tình ái đảo điên vô tình từ biệt
Áng bụi mờ trăng hiển hiện mù khơi.
 
Cuối góc phố một vì sao băng
Ước vọng âm thầm và bất lực
Trong linh hồn trong cảm nghĩ đầy sự điên cuồng
Đêm trống rỗng như một lỡ làng không còn ai tiếp nối.
 
Ngoại trừ hy vọng như mật đắng
Mơ hồ níu kéo bước chân đi
Mỗi người là một giới hạn của mình
Tình mong manh loãng tan cùng gió.
 
Trong cõi trú của hồn từng tiếng kêu thất thanh
Nỗi rạo rực của từng dự định
Đổi thay tâm hồn tôi cùng tiếng nói tương lai
Tôi an ủi mình bắt đầu làm lại.
 
*
 
VI THÙY LINH
 
Sinh năm 1980
 
Hoa mẫu đơn e lệ nở
Khai mạc đêm từ Linh
Những đứa bé ùa về đòi chào đời
Bắt đầu vẽ chân dung Mẹ

Trong bóng tối mới tinh, vẫn bài ca hoang dã
Tôi ứa máu những câu thơ cầu siêu
Rách cằm ngã đêm đơn độc

Khe khẽ hoa Thuỳ Linh nở
Xuất thần một cuộc yêu chưa từng thấy
Cơn mơ hoang tàn cháy

Phía sau bạo liệt tham vọng
Chứa đầy yếu đuối và ước mơ bình yên, được yêu
Chờ mãi chưa linh ứng
Buông thõng chiêm bao thiếu nữ

Đỉnh yêu độc đạo
Thơ chất con đường lửa
Phóng sinh ký ức ngàn năm bất lực
Xoá bỏ ức chế yếm thế luân chuyển
*
 
NHÃ THUYÊN
 
Dấu vết của khoảng trống
 
chuyến tàu qua thị trấn mỗi sáng và chiều kể tôi nghe câu chuyện về sự bất động của con đường. chẳng lẽ đây không là sự thật: tôi là đường ray, nằm đó và ảo tưởng mình chuyển động, những chuyến tàu chạy trên thân thể tôi úp sấp, gió phiêu giạt, hơi thở bập bềnh theo nhịp thở của đất. tôi đọc những ký hiệu tạo thành từ vệt tàu lăn qua để lại trên da thịt. bài thơ, dấu vết trầm tích trên đường ray, in dấu và xói mòn bởi ánh sáng, gió và những bất trắc, những dấu vết đắm đuối với chốn không người, những dấu vết trôi nổi, tự huỷ và vô hình trước khi người đọc đến.

bây giờ thị trấn đang chiều tà, mặt trời rút máu, chữ o tròn đỏ nhợt dần trong khoảng trống, cái miệng ngáp. tôi đã rung lên dữ dội đôi lần một ngày và giờ, tôi âm u đếm những dao động tắt dần trên da thịt để dụ dỗ giấc ngủ.
 
*
 
LƯU MÊLAN
 
Tôi
 
Tôi đã sợ tên tôi là một quả mìn
giết chết tôi
bất kể đêm ngày bất kể nơi đâu
những chiếc lá dương xỉ non cuốn cong lại
và một con sâu đang đục một thân cây thông lớn
những trảng đất bị rữa
những thân người chết cháy
 
Tôi đã sợ tên tôi là một biểu tượng của mù loà
trái tim như một liều thuốc độc
bơm ánh sáng vào nó
và những huyễn tưởng mà sự thật không đánh lừa nổi
chiếu vào tôi như một nhát súng
 
Ngày thì đang trôi qua
đôi cánh của quỷ vươn dần
và mùa mưa cũng sắp đến
 
Chỉ em đang dối lừa tôi.
 
Tôi đã tưởng tên tôi là một niềm kiêu hãnh của hạnh phúc
giờ thì nó biến mất tôi cháy một nửa còn lại với những cặn bã tàn
 
Tôi đi giữa những bờ vực và dưới kia
tên tôi là một hình nhân đang nhìn sâu vào bóng nó cô độc
nơi nó vừa tìm ra một mảng đen kỳ lạ
không tên và sự sống mà tôi vừa chiếu vào.
 
*
 
TAGORE
 
Thuyền giấy
 
Ngày lại ngày, tôi thả thuyền giấy của tôi từng chiếc xuống dòng khe chảy xiết
Tôi viết to và đậm tên tôi và tên làng tôi trên mạn thuyền
Tôi hy vọng có người ở nơi nào xa lạ bắt được thuyền và biết rõ tôi là ai…
… Đêm về tôi giúi mặt vào cánh tay và mơ thấy thuyền giấy của tôi trôi miên man dưới ánh sao khuya…
 
(Cao Huy Đỉnh dịch).
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cõi thơ Viên Linh là cõi nhân sinh đầy hệ lụy của định mệnh. Định mệnh của một dân tộc điêu linh, lưu lạc. Định mệnh của con người bé nhỏ và yếu ớt trong dòng chảy cuồng lưu của kiếp sống. Định mệnh của tình yêu mệt mỏi, chán chường và bất trắc. Thơ Viên Linh là một biểu hiệu cho Con Người như là một hữu-thể-tại-thế với tất cả những khổ đau và hoan lạc. Ông vừa tạ thế hôm cuối tháng Ba vừa rồi, Việt Báo trân trọng đăng lại một số ít thơ của ông như một nén tâm hương gửi đến người Thi Sĩ quá cố.
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền và đã bị cầm tù trong nhiều năm. Năm 1998, Hòa Thượng được tổ chức Human Rights Watch tặng giải thưởng về nhân quyền Hellmann-Hamett Awards. Hòa Thượng là Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa Thượng thông thạo tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Hòa Thượng được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật, được coi là nhà sư uyên bác nhất của Phật giáo Việt Nam, đã soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển.
Đó là tựa đề một bài viết của nhà thơ Phan Tấn Hải, và đây là kết của bài: “Chữ nghĩa không vô ích. Chúng ta trong cõi này hãy rủ nhau làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ, in thơ, hát thơ… Nếu chúng ta không đủ sức nương vào thơ để ngộ nhập tri kiến Phật, và nếu chúng ta cũng không có đủ sức mạnh của hát thơ để chữa sản nạn như thời Vua Hùng Vương, ít nhất thơ cũng giúp chúng ta giảm được những đau đớn của trần gian này, kể cả khi buộc phải nghe tới bốn dòng thơ ly biệt tương tự của Cha Rồng và Mẹ Tiên thời lập quốc dân tộc Việt Nam (Ta là giống Rồng / Mình là giống Tiên / Thủy thổ khắc nhau / Không ở cùng được.) Nàng thơ ơi, hãy cứu lấy trần gian này. Hãy biến tất cả những trận mưa bom trên trần gian này thành các trận mưa thơ…” (Phan Tấn Hải, Thơ sẽ chữa lành thế giới
Ta về một cõi tâm không / Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn / Còn yêu một thuở đi hoang / Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya / Ta đi dẫm nắng bên đèo / Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều / Nguyên sơ là dáng yêu kiều / Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ / Còn đây góc núi trơ vơ / Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao
Nhà văn Jon Fosse vừa đoạt giải Nobel Văn chương về kịch nghệ năm nay, 2023. Ngoài ra, ông cũng nổi tiếng trong lãnh vực thơ và truyện. Tác phẩm của ông được dịch ra khoảng 50 ngôn ngữ. Tìm hiểu về mục đích sáng tác, ông cho biết, “I hope they can find a kind of peace in, or from, my writing.” (Tôi hy vọng người đọc có thể tìm thấy sự bình an trong các tác phẩm của tôi.) Tác phẩm nổi tiếng với nội dung sâu đậm của ông là dãy “Septology”. Đây là một từ vựng mới, có ý nghĩa là một loạt bảy cuốn sách. Có lẽ, Septology phát xuất từ “Heptalogy” mà ví dụ rõ rệt nhất là dãy tác phẩm Harry Potter.
Mùa thứ ba trong năm đã chớm về. Autumn ngoài nghĩa mùa thu, còn mang nghĩa ẩn dụ là chỉ lúc xế chiều, lúc ngày sắp tàn, là mùa mà ban ngày ngắn và dần lạnh hơn. Bên cạnh hình ảnh biểu tượng là mùa lá rụng, lại cũng là mùa phần lớn trái cây được thu hoạch, vì gắn với đời sống thiên nhiên này mà từ rất lâu văn hóa Tây phương đã nhân cách hóa mùa thu là người phụ nữ trẻ đẹp đầy sức sống với mái tóc gắn đầy lá hoa quả chín, là hình ảnh vừa nên thơ vừa chứa đựng sức sống diệu kỳ của mùa gặt hái.
Tháng 7. Mùa hè đang gửi đến đây một sứ giả vô cùng dễ thương. Phượng tím. Đi đâu chợt cũng bị màu tím thơ mộng ấy níu mắt nhìn, làm dịu đi cái nóng chói chan. Bạn đang ở đâu, buổi sáng rực nắng đi chơi hay chiều mệt nhoài sau giờ làm việc, hay tối, hay khuya, hàn huyên bạn thiết, hoặc giả nói chuyện một mình, tất cả những tâm trạng thời gian đó, bạn sẽ tìm thấy được trong Căn phòng chứa đựng mọi khoảnh khắc, nơi các nhà thơ Hoàng Trúc Ly, Duy Thanh, Nguyễn Thùy Song Thanh, Tomas Transtromer, Âu Thị Phục An, Chiêu Anh Nguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trương Đình Phượng, Inrasara, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Xuân Thiệp, đọc cho bạn nghe những vần thơ mang âm hưởng chói chan của mặt trời mùa hạ, hoang mạc gai xương rồng, mật ngọt của thiên nhiên…
Một mùa hè, khi chàng vẫn còn trẻ, chàng đứng bên cửa sổ và tự hỏi họ đã đi đâu, những người đàn bà ngồi bên biển, ngắm nhìn, chờ đợi một điều gì đó không bao giờ đến, gió nhẹ phả vào da họ, gửi những lọn tóc xoã ngang môi họ. Họ đã ngã xuống từ mùa nào, họ đã lạc lối từ ý niệm nào của nét yêu kiều? Đã lâu rồi kể từ khi chàng nhìn thấy họ trong vẻ lộng lẫy đơn độc, trĩu nặng trong nỗi biếng lười, dệt nên câu chuyện buồn về niềm hy vọng bị bỏ rơi. Đấy là mùa hè chàng lang thang trong màn đêm kỳ vĩ, trong biển tối, như thể lần đầu tiên, để tự toả ra ánh sáng của chính mình, nhưng những gì chàng toả ra là bóng tối, những gì chàng tìm thấy là đêm.
… Đã bao năm rồi, biết bao nhiêu nước chảy qua cầu, có quá nhiều điều để không thể nào quên. Ngay trong tù đày, những hình ảnh hồi tưởng chưa bao giờ là cuộc duyệt binh vĩ đại đầy màu sắc và ồn ào của ngày Quân Lực; mà luôn luôn là những bước chân diễn hành thầm lặng của một tiểu đội lính vô danh ở ngày giờ cuối cùng của một thành phố trước khi mất tên Sài Gòn. Người chuẩn úy ấy bây giờ ở đâu, trong một trại cải tạo nào, còn sống hay đã chết, số phận những người lính can đảm kỷ luật tới giờ phút chót ấy bây giờ ra sao, cũng không ai được biết. Liệu có thêm được một dòng chữ nào giữa những trang quân sử viết dở dang để nói về cuộc diễn binh kỳ lạ cấp tiểu đội mang biểu tượng hào hùng của quân lực ở ngày giờ cuối cùng trước khi cả toàn quân tan hàng rã ngũ... (Ngô Thế Vinh, trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn.)
LTS: “19 Hè 72” là một bài trường ca của nhà thơ Ngu Yên viết về chiến tranh Việt Nam với những hình ảnh thống khổ và chết chóc đau thương do chiến tranh gây nên. Và để tri ân người lính Việt Nam Cộng Hòa. Khác với những trường ca thường thấy trước đây, nhà thơ đã kết hợp một cách sáng tạo giữa thi ca với tài liệu từ những trang bút ký, hình ảnh chiến tranh, ca khúc, thậm chí quân sử, để thơ không chỉ là những câu chữ thuần túy nữa, mà là một bức tranh linh động và xúc động khiến người đọc không khỏi bồi hồi khi đọc, dù những điều được nhắc đến trong bài thơ xảy ra cách nay đã trên nửa thế kỷ. Việt Báo trân trọng giời thiệu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.