Hôm nay,  

Cưỡi Cọp Iraq

19/10/200300:00:00(Xem: 6475)
Việc Hội đồng Bảo an LHQ thông qua nghị quyết do Hoa Kỳ đề nghị về Iraq với tỷ lệ 15-0 chỉ là một thắng lợi tượng trưng. Đáng chú ý hơn ở bên cạnh là dường như chính quyền Bush đã có một chiến lược tại Iraq. Thà trễ còn hơn không.
Hoa Kỳ vào Iraq vì nhiều mục tiêu và trong khi dư luận còn tranh cãi về mục tiêu phụ là giải trừ võ khí tàn sát WMD, người ta có thể quên hai mục tiêu chính. Đó là 1) lật đổ một chế độ hung đồ nằm tại một khu vực hung hãn nhất để tiêu diệt mọi khả năng hợp tác của các quốc gia trong khu vực với khủng bố al-Qaeda, và 2) qua việc lật đổ chớp nhoáng, gây chấn động tâm lý trong thế giới Hồi giáo, rằng Hoa Kỳ không là cọp giấy vì thiếu ý chí, hoặc đánh trống bỏ dùi vì những hục hặc nội bộ....
Cuối cùng, Hoa Kỳ đã lật đổ chế độ Saddam Hussein như sấm sét rồi thủ vai ông phỗng trước một vụ tấn công tập thể từ mọi phía: dư luận báo chí Mỹ, Âu châu, Hồi giáo, các lãnh tụ ngoại quốc muốn cho George W. Bush một bài học, các chính khách Dân chủ đang kiếm phiếu, các nhóm tàn quân của chế độ Saddam Hussein, các tổ khủng bố Hồi giáo xâm nhập từ bên ngoài vào Iraq. Bên trong chính quyền, người ta thấy cảnh hục hặc giữa Quốc phòng với Ngoại giao, nạn cận thị của CIA, và nói chung, sự thụ động của ông Bush. Tình trạng đó đã kéo dài quá lâu, từ tháng Năm đến tháng Chín.
Cảm giác chung của dư luận là chính quyền Bush có phản ứng Cộng hòa điển hình: táo bạo lỳ lợm vì tin vào một đạo lý chính đáng nhưng chậm ứng phó trước nghịch cảnh. Phản ứng ù lỳ đó khiến Bush 41, thân phụ đương kim tổng thống, bị thất cử năm 1992, và có thể khiến Bush 43 đang cầm quyền cũng sẽ thất cử.
Từ cuối tháng Chín, tình hình bắt đầu đổi khác và chính quyền Bush dường như đang khởi sự một cuộc tổng phản công khi thấy tỷ lệ ủng hộ sụt dưới 50%. Tuần qua, ông Bush nói thẳng với quần chúng chứ không qua cái lọc của truyền thông tả khuynh và tỷ lệ ủng hộ bắt đầu nhích lên khỏi lằn ranh tâm lý đó. Đáng lẽ, toàn quyền Paul Bremer cũng phải học phép Donald Rumsfeld trong màn đầu của cuộc chiến Iraq là đích thân hoặc cho đại diện trình bày gần như mỗi ngày về tình hình Iraq, không để dư luận tìm hiểu qua sự tường thuật có thiên lệch của truyền thông cánh tả. Thà trễ còn hơn không, cuộc phản công về thông tin đã bắt đầu, do chính ông Bush khởi xướng, được Phó Tổng thống Dick Cheney tiếp tục, và ban tham mưu an ninh và đối ngoại có thể thực hiện tiếp trong những ngày tới.
Về đối ngoại, việc Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ủng hộ nghị quyết do Mỹ soạn thảo và tu sửa có nói lên một sự thật ai cũng hiểu, kể cả Pháp, Nga và Đức trong những thảo luận giờ chót của lãnh đạo trước khi ủng hộ nghị quyết, kể cả Trung Quốc và nhất là Syria: Hoa Kỳ sẽ còn ở lại Iraq rất lâu và lời hứa hẹn sẽ tổ chức bầu cử trễ lắm vào ngày 15 tháng 12 chỉ là lời hứa hẹn. Các xứ đó suy tính rằng vì Hoa Kỳ sẽ ở lại Iraq, nếu bác bỏ dự thảo nghị quyết của Mỹ thì chỉ làm suy yếu Liên hiệp quốc và mất phần ăn trong việc tái thiết Iraq, khi dầu hỏa đã được bơm khỏi lòng đất để xuất cảng và nhiều dự án trùng tu đang chờ đợi. Nghị quyết vì vậy được thông qua mà chả có nước nào hứa hẹn góp quân bình định với Mỹ, cho nên thực chất chỉ là một thắng lợi hình thức, không cần thiết nhưng có ích về ngoại giao và tuyên truyền cho Hoa Kỳ.
Nhưng đó chỉ là phần nổi, phần chìm là thực tế ở tại chỗ.
Sau khi đạt thắng lợi quân sự thần kỳ, Donald Rumsfeld đã trải ba tháng gần như tê liệt, trừ phản ứng thiếu bình tĩnh trước việc tái phối trí trách nhiệm về Iraq vào tuần trước. Ông không thể không biết là sau đợt tấn công ban đầu, tình hình sẽ đổi khác vì tàn dư của chế độ Hussein và các nhóm khủng bố sẽ đánh tỉa lực lượng chiếm đóng để phá hoại việc bình định và cản trở hai mục tiêu chính yếu ban đầu: kiểm soát Iraq và tác động vào tâm lý Hồi giáo. Ông ta có thể biết mà không cho dư luận thấy rằng mình biết đối phó. Chẳng riêng Rumsfeld mà cả nội các của Bush lẫn bộ chỉ huy quân sự tại Iraq đều gây ra ấn tượng đó.

Việc tái phối trí cơ cấu tiến hành kế hoạch bình định Iraq và A Phú Hãn có thể là một điển hình của sự chống đỡ: khi cần cho chìm xuồng một việc gì đó thì người ta lập ra ủy ban liên bộ, liên ngành, để giải quyết. Với bốn phụ tá cho Cố vấn An ninh Condoleezza Rice là cấp chuyên viên cao cấp nhưng không có uy tín chính trị, Ủy ban Ổn định Iraq sẽ không có thực quyền và mọi việc đều tập trung vào quyết định của chính ông Bush. Tuy nhiên, ít ra thì dư luận cũng bớt thấy cảnh trống đánh xuôi kèm thổi ngược giữa các cơ quan hữu trách.
Ở tại chỗ, sự kiện lực lượng chiếm đóng bị đánh tỉa làm trung bình mỗi ngày một binh lính Mỹ bị tử thương không phải là bài toán quân sự nguy ngập. Nhưng đó là bài toán chính trị trầm trọng vì tạo ra ấn tượng là Hoa Kỳ lúng túng, một ấn tượng đi ngược mục tiêu tâm lý đối với thế giới Hồi giáo để gián chỉ (can ngăn) mọi cám dỗ khủng bố. “Hoa Kỳ đang bị sa lầy tại Iraq”, truyền thông hàng ngày nói đến điều đó và dư luận bắt đầu nghĩ như vậy. Khi các nước Hồi giáo lân bang cũng nghĩ như vậy, như trường hợp của Syria và Iran, hai xứ đó mặc nhiên dung túng khủng bố, cuối cùng chẳng ai sợ Mỹ và chẳng ai tin vào quyết tâm hay khả năng lãnh đạo của chính quyền Bush nữa. Dù chưa ra đòn tấn công vào lãnh thổ Mỹ và có khi hết khả năng ra đòn như đã hăm dọa, al Qaeda vẫn đạt thắng lợi.
Cho nên, bài toán Iraq của Hoa Kỳ có hai vế phải cùng giải quyết: bình định bên trong và hăm dọa bên ngoài trong khi chính quyền mở chiến dịch thông tin tuyên truyền về sự thật ở tại chỗ. Chiến lược vừa manh nha có thể là giải trừ khủng bố ngoại nhập trong khi khoanh vùng để ổn định Iraq.
Thứ nhất, Hoa Kỳ không che dấu việc sát cánh cùng Do Thái tiêu diệt các nhóm khủng bố Palestine và Hồi giáo tại Syria, bằng cách giữ im lặng khi Do Thái đột kích Syria hôm mùng năm và khi Do Thái cho biết mình có võ khí nguyên tử và sẵn sàng sử dụng. Điều đó khiến Syria đảo ngược lập trường đã đảo lộn trước đấy: sau tháng Năm thì hứa hẹn hợp tác với Mỹ chống khủng bố, khi thấy Mỹ lúng túng thì chế độ Damascus dung túng khủng bố xâm nhập Iraq, giờ đây đành lại ủng hộ nghị quyết của Mỹ. Syria phải làm trò ảo thuật này vì bị ba mặt giáp công là Do Thái, Turkey và Hoa Kỳ.
Thứ hai, việc Turkey đồng ý gửi quân vào bình định Iraq trước khi có nghị quyết Liên hiệp quốc, cho thấy nghị quyết này vô giá trị, sức mạnh hay sự thuyết phục của Mỹ mới đáng kể. Quyết định đó, do Quốc hội Turkey biểu quyết với đa số áp đảo, cũng là tín hiệu cho Syria và cả Iran.
Thứ ba, sau vụ xung đột nội bộ giữa hai phe Shiite do Iran chi phối bên sau, cuối cùng phe Shiite chống Mỹ tuyên bố sẽ không thành lập một chính quyền riêng tại Iraq. Đồng thời, Iran cũng nghĩ đến việc thương thảo với Mỹ trên hai hồ sơ, một là võ khí nguyên tử hai là việc góp phần bình định Iraq.
Sau cùng, tại Saudi Arabia, chính quyền Hoàng gia Saudi cũng đã chuyển lập trường. Họ truy lùng khủng bố thực tình hơn, họ vừa đồng ý cho tổ chức hội nghị về Nhân quyền hôm 14 và công bố kế hoạch bầu cử đại diện chính quyền cấp địa phương vào năm tới. Vụ Iraq quả là có gây chấn động cho chế độ bảo thủ nhất trong vùng, xưa nay là một đồng minh chí thiết của bộ Ngoại giao Mỹ mà cũng là một hậu cứ đáng kể cho khủng bố. Áp lực của Mỹ đang tạo ra nhiều thay đổi tại Saudi Arabia, như tại Turkey, Syria và Iran.
Tổng kết lại, cục diện Iraq không thể là “vũng lầy Việt Nam” như dư luận ưa nói, vì các lực lượng phiến loạn không có hành lang hay hậu cứ phát triển hình thái chiến tranh phá hoại hiện nay thành chiến tranh du kích để mở rộng thành chiến tranh tiêu hao làm soi mòn ý chí của Mỹ. Nhưng, Iraq vẫn có thể là một thất bại vì nạn du kích chính trị trong nội tình nước Mỹ trước sự hoài nghi và chán chường của công chúng. Thất bại tại Iraq là một chiến thắng của khủng bố, là điều chính quyền Bush không thể chấp nhận. Ông chọn cọp dữ Iraq làm gương và đã cưỡi lên lưng cọp thì không thể xuống.
Vì vậy, sau bốn tháng tê liệt, lúng túng, ông bắt đầu nhúc nhích với một chiến lược mới là giải trừ các hậu cứ khủng bố ở vòng ngọai vi và củng cố việc tái thiết bên trong để Iraq là thí điểm minh chứng quyết tâm và khả năng của Mỹ đối với al-Qaeda. Thà trễ còn hơn không, quả như vậy. Nhưng, chiến lược này có thể giải trừ được khủng bố hay chăng thì người ta còn phải chờ. Những chỉ dấu kiểm nghiệm rõ nhất sẽ là tình hình ở các lân bang với Iraq.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được một nụ cười trên môi một người VN lưu vong vào tháng 4 hàng năm không dễ dàng. Cả 30 ngày của tháng tư, "những ngày mây xám giăng trên đỉnh trời", hình ảnh những người đã bỏ mình cho 20 năm tự do của miền Nam, những người mãi mãi nằm lại dưới đáy đại dương , không đặt chân được bến bờ tự do hiện về trong ký ức của chúng tôi rõ mồn một như mới hôm qua.
Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership -- Six Studies in Wold Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành năm 2022, (trang 149-63). Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này. Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young có phát hiện một sự thật khác: Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại.
Một quy hoạch vùng cho hệ thống cao tốc đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước đã được phê duyệt, thực ra công trình giao thông này đã đến với dân chậm mất vài thập niên vì quy hoạch này đã sớm phải là một trong những ưu tiên cao nhất quốc gia...
Trong cuộc chiến 1954-1975 giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam, khi tình hình càng ngày càng căng thẳng và bất lợi cho Nam Việt Nam, thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, một nước cộng sản, mở cuộc vận động ngoại giao nhằm tránh sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Đây là một diễn biến khá bất thường, nên để tìm hiểu việc nầy, xin quay trở lại chủ trương ngoại giao của CHND Trung Hoa từ năm 1954 về vấn đề Đông Dương.
✱ ĐS Martin: Tôi nói, tôi có cảm giác rằng nếu ông không có quyết định sớm, các tướng lãnh của ông sẽ yêu cầu ông ra đi - tôi đoán là ông ta sẽ sớm ra đi bằng cách này hay cách khác. Nếu các tướng lãnh của ông ta cho thêm vài ngày nữa - và rằng nếu ông không hành động sớm, các sự kiện sẽ ập đến với ông. ✱TT Thiệu: Cái bản văn hiệp định đó là bản văn hiệp định Hoa Kỳ bán miền Nam Việt Nam cho cộng sản – tôi nói với ông Ngoại trưởng Kissinger lúc đó nếu như ông chấp nhận bản hiệp vì lý do riêng tư tôi không biết, nể nang nhau, đổi chác nhau, đem quyền lợi sinh mạng của dân tộc miền Nam này ra bán – chớ tôi là người Việt Nam, tôi không chấp nhận - Nếu tôi không có thiện chí đàm phán thì làm sao hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 được ký kết? Mặc dù thỏa thuận đó là một thỏa thuận què quặt, tôi phải chấp nhận nó. ✱ TT Thiệu: Người Mỹ... thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường...
Rõ ràng là các gen của quý vị và vợ/chồng của quý vị sẽ xác định giới tính của con cái quý vị. Nhưng quý vị có biết rằng gen xác định giới tính mà quý vị truyền lại cho con cái có thể đã được truyền lại từ ông của chúng không?
Có phải bạn rất đỗi ngạc nhiên về tiêu đề của bài viết này? Có thể bạn nghĩ rằng chắc chắn có điều gì đó không ổn trong câu chuyện này, bởi vì lịch sử về cuộc đời của đức Phật xưa nay không hề thấy nói đến chuyện đức Phật đi tới Châu Âu và Châu Phi. Bạn nghĩ không sai.
✱ CIA: Thiếu tướng Phan Văn Phú, đã gặp TT Thiệu ngày hôm qua (16.3.1975) và thất bại trong nỗ lực thuyết phục tổng thống gửi thêm viện binh đến cao nguyên miền Trung. ✱ Tướng Phú: Tổng Thống Thiệu đã chà đạp danh dự tôi khi ông công khai đổ lỗi cho tôi về chuyện mất Cao nguyên Trung phần ✱ Tướng Trưởng: Lệnh của Tổng Thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân Đoàn I vào ngày 13 tháng 3, và rút Quân Đoàn II vào ngày 14 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới. ✱ TT Thiệu: Vì thiếu đạn dược, chúng tôi phải kiếm từng viên đạn. Chúng tôi đã mất nhiều xe tăng và đại bác. Hoa Kỳ không thực hiện những thay thế như đã cam kết - vì thế, chiến cụ của chúng ta đã bị giảm dần: đó là lý do tại sao chúng ta thua cuộc.
Quá trình hoạt động căn bản của trí óc luân chuyển trong bốn giai đoạn: tiền ý thức (preconscious), ý thức (conscious), tiềm thức (subconscious), và vô thức (unconscious). Từ ngữ ‘ý thức’ có nguồn gốc từ ngôn ngữ Latin ‘biết’ và ‘nhận thức’. Ý thức là biết về nhận thức sự tồn tại và suy nghĩ của một người. Theo định nghĩa của tâm lý gia Sigmund Freud, ý thức chứa tất cả những suy nghĩ, ký ức, cảm xúc và mong muốn mà chúng ta nhận thức được tại bất kỳ thời điểm nào. Đây là quá trình xử lý tinh thần mà chúng ta có thể suy nghĩ và nói về nó một cách hợp lý.
Cựu Tổng Thống Jimmy Carter (Dân Chủ) nhậm chức vào ngày 20-1-1977, hai năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Người tiền nhiệm của ông là cố Tổng Thống Gerald Ford đã chứng kiến Saigon thất thủ trong cơn hỗn loạn. Carter là người trách nhiệm lèo lái nước Mỹ thời hậu chiến trong khi chiến tranh lạnh sôi động khắp nơi trên thế giới. Sau Việt Nam, năm nước khác lần lượt trở thành cộng sản, gia nhập vào trục Mặc Tư Khoa – Băc Kinh, như Lào (1975), Campuchia (1975), Angola (1975), Nicaragua (1979), Grenada (1979). Tuy nhiên, đợt bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản sau chiến tranh Việt Nam ít hơn đợt một với 12 nước đi theo XHCN xẩy ra sau khi Thế Chiến II chấm dứt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.