Hôm nay,  

Cưỡi Cọp Iraq

19/10/200300:00:00(Xem: 6444)
Việc Hội đồng Bảo an LHQ thông qua nghị quyết do Hoa Kỳ đề nghị về Iraq với tỷ lệ 15-0 chỉ là một thắng lợi tượng trưng. Đáng chú ý hơn ở bên cạnh là dường như chính quyền Bush đã có một chiến lược tại Iraq. Thà trễ còn hơn không.
Hoa Kỳ vào Iraq vì nhiều mục tiêu và trong khi dư luận còn tranh cãi về mục tiêu phụ là giải trừ võ khí tàn sát WMD, người ta có thể quên hai mục tiêu chính. Đó là 1) lật đổ một chế độ hung đồ nằm tại một khu vực hung hãn nhất để tiêu diệt mọi khả năng hợp tác của các quốc gia trong khu vực với khủng bố al-Qaeda, và 2) qua việc lật đổ chớp nhoáng, gây chấn động tâm lý trong thế giới Hồi giáo, rằng Hoa Kỳ không là cọp giấy vì thiếu ý chí, hoặc đánh trống bỏ dùi vì những hục hặc nội bộ....
Cuối cùng, Hoa Kỳ đã lật đổ chế độ Saddam Hussein như sấm sét rồi thủ vai ông phỗng trước một vụ tấn công tập thể từ mọi phía: dư luận báo chí Mỹ, Âu châu, Hồi giáo, các lãnh tụ ngoại quốc muốn cho George W. Bush một bài học, các chính khách Dân chủ đang kiếm phiếu, các nhóm tàn quân của chế độ Saddam Hussein, các tổ khủng bố Hồi giáo xâm nhập từ bên ngoài vào Iraq. Bên trong chính quyền, người ta thấy cảnh hục hặc giữa Quốc phòng với Ngoại giao, nạn cận thị của CIA, và nói chung, sự thụ động của ông Bush. Tình trạng đó đã kéo dài quá lâu, từ tháng Năm đến tháng Chín.
Cảm giác chung của dư luận là chính quyền Bush có phản ứng Cộng hòa điển hình: táo bạo lỳ lợm vì tin vào một đạo lý chính đáng nhưng chậm ứng phó trước nghịch cảnh. Phản ứng ù lỳ đó khiến Bush 41, thân phụ đương kim tổng thống, bị thất cử năm 1992, và có thể khiến Bush 43 đang cầm quyền cũng sẽ thất cử.
Từ cuối tháng Chín, tình hình bắt đầu đổi khác và chính quyền Bush dường như đang khởi sự một cuộc tổng phản công khi thấy tỷ lệ ủng hộ sụt dưới 50%. Tuần qua, ông Bush nói thẳng với quần chúng chứ không qua cái lọc của truyền thông tả khuynh và tỷ lệ ủng hộ bắt đầu nhích lên khỏi lằn ranh tâm lý đó. Đáng lẽ, toàn quyền Paul Bremer cũng phải học phép Donald Rumsfeld trong màn đầu của cuộc chiến Iraq là đích thân hoặc cho đại diện trình bày gần như mỗi ngày về tình hình Iraq, không để dư luận tìm hiểu qua sự tường thuật có thiên lệch của truyền thông cánh tả. Thà trễ còn hơn không, cuộc phản công về thông tin đã bắt đầu, do chính ông Bush khởi xướng, được Phó Tổng thống Dick Cheney tiếp tục, và ban tham mưu an ninh và đối ngoại có thể thực hiện tiếp trong những ngày tới.
Về đối ngoại, việc Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ủng hộ nghị quyết do Mỹ soạn thảo và tu sửa có nói lên một sự thật ai cũng hiểu, kể cả Pháp, Nga và Đức trong những thảo luận giờ chót của lãnh đạo trước khi ủng hộ nghị quyết, kể cả Trung Quốc và nhất là Syria: Hoa Kỳ sẽ còn ở lại Iraq rất lâu và lời hứa hẹn sẽ tổ chức bầu cử trễ lắm vào ngày 15 tháng 12 chỉ là lời hứa hẹn. Các xứ đó suy tính rằng vì Hoa Kỳ sẽ ở lại Iraq, nếu bác bỏ dự thảo nghị quyết của Mỹ thì chỉ làm suy yếu Liên hiệp quốc và mất phần ăn trong việc tái thiết Iraq, khi dầu hỏa đã được bơm khỏi lòng đất để xuất cảng và nhiều dự án trùng tu đang chờ đợi. Nghị quyết vì vậy được thông qua mà chả có nước nào hứa hẹn góp quân bình định với Mỹ, cho nên thực chất chỉ là một thắng lợi hình thức, không cần thiết nhưng có ích về ngoại giao và tuyên truyền cho Hoa Kỳ.
Nhưng đó chỉ là phần nổi, phần chìm là thực tế ở tại chỗ.
Sau khi đạt thắng lợi quân sự thần kỳ, Donald Rumsfeld đã trải ba tháng gần như tê liệt, trừ phản ứng thiếu bình tĩnh trước việc tái phối trí trách nhiệm về Iraq vào tuần trước. Ông không thể không biết là sau đợt tấn công ban đầu, tình hình sẽ đổi khác vì tàn dư của chế độ Hussein và các nhóm khủng bố sẽ đánh tỉa lực lượng chiếm đóng để phá hoại việc bình định và cản trở hai mục tiêu chính yếu ban đầu: kiểm soát Iraq và tác động vào tâm lý Hồi giáo. Ông ta có thể biết mà không cho dư luận thấy rằng mình biết đối phó. Chẳng riêng Rumsfeld mà cả nội các của Bush lẫn bộ chỉ huy quân sự tại Iraq đều gây ra ấn tượng đó.

Việc tái phối trí cơ cấu tiến hành kế hoạch bình định Iraq và A Phú Hãn có thể là một điển hình của sự chống đỡ: khi cần cho chìm xuồng một việc gì đó thì người ta lập ra ủy ban liên bộ, liên ngành, để giải quyết. Với bốn phụ tá cho Cố vấn An ninh Condoleezza Rice là cấp chuyên viên cao cấp nhưng không có uy tín chính trị, Ủy ban Ổn định Iraq sẽ không có thực quyền và mọi việc đều tập trung vào quyết định của chính ông Bush. Tuy nhiên, ít ra thì dư luận cũng bớt thấy cảnh trống đánh xuôi kèm thổi ngược giữa các cơ quan hữu trách.
Ở tại chỗ, sự kiện lực lượng chiếm đóng bị đánh tỉa làm trung bình mỗi ngày một binh lính Mỹ bị tử thương không phải là bài toán quân sự nguy ngập. Nhưng đó là bài toán chính trị trầm trọng vì tạo ra ấn tượng là Hoa Kỳ lúng túng, một ấn tượng đi ngược mục tiêu tâm lý đối với thế giới Hồi giáo để gián chỉ (can ngăn) mọi cám dỗ khủng bố. “Hoa Kỳ đang bị sa lầy tại Iraq”, truyền thông hàng ngày nói đến điều đó và dư luận bắt đầu nghĩ như vậy. Khi các nước Hồi giáo lân bang cũng nghĩ như vậy, như trường hợp của Syria và Iran, hai xứ đó mặc nhiên dung túng khủng bố, cuối cùng chẳng ai sợ Mỹ và chẳng ai tin vào quyết tâm hay khả năng lãnh đạo của chính quyền Bush nữa. Dù chưa ra đòn tấn công vào lãnh thổ Mỹ và có khi hết khả năng ra đòn như đã hăm dọa, al Qaeda vẫn đạt thắng lợi.
Cho nên, bài toán Iraq của Hoa Kỳ có hai vế phải cùng giải quyết: bình định bên trong và hăm dọa bên ngoài trong khi chính quyền mở chiến dịch thông tin tuyên truyền về sự thật ở tại chỗ. Chiến lược vừa manh nha có thể là giải trừ khủng bố ngoại nhập trong khi khoanh vùng để ổn định Iraq.
Thứ nhất, Hoa Kỳ không che dấu việc sát cánh cùng Do Thái tiêu diệt các nhóm khủng bố Palestine và Hồi giáo tại Syria, bằng cách giữ im lặng khi Do Thái đột kích Syria hôm mùng năm và khi Do Thái cho biết mình có võ khí nguyên tử và sẵn sàng sử dụng. Điều đó khiến Syria đảo ngược lập trường đã đảo lộn trước đấy: sau tháng Năm thì hứa hẹn hợp tác với Mỹ chống khủng bố, khi thấy Mỹ lúng túng thì chế độ Damascus dung túng khủng bố xâm nhập Iraq, giờ đây đành lại ủng hộ nghị quyết của Mỹ. Syria phải làm trò ảo thuật này vì bị ba mặt giáp công là Do Thái, Turkey và Hoa Kỳ.
Thứ hai, việc Turkey đồng ý gửi quân vào bình định Iraq trước khi có nghị quyết Liên hiệp quốc, cho thấy nghị quyết này vô giá trị, sức mạnh hay sự thuyết phục của Mỹ mới đáng kể. Quyết định đó, do Quốc hội Turkey biểu quyết với đa số áp đảo, cũng là tín hiệu cho Syria và cả Iran.
Thứ ba, sau vụ xung đột nội bộ giữa hai phe Shiite do Iran chi phối bên sau, cuối cùng phe Shiite chống Mỹ tuyên bố sẽ không thành lập một chính quyền riêng tại Iraq. Đồng thời, Iran cũng nghĩ đến việc thương thảo với Mỹ trên hai hồ sơ, một là võ khí nguyên tử hai là việc góp phần bình định Iraq.
Sau cùng, tại Saudi Arabia, chính quyền Hoàng gia Saudi cũng đã chuyển lập trường. Họ truy lùng khủng bố thực tình hơn, họ vừa đồng ý cho tổ chức hội nghị về Nhân quyền hôm 14 và công bố kế hoạch bầu cử đại diện chính quyền cấp địa phương vào năm tới. Vụ Iraq quả là có gây chấn động cho chế độ bảo thủ nhất trong vùng, xưa nay là một đồng minh chí thiết của bộ Ngoại giao Mỹ mà cũng là một hậu cứ đáng kể cho khủng bố. Áp lực của Mỹ đang tạo ra nhiều thay đổi tại Saudi Arabia, như tại Turkey, Syria và Iran.
Tổng kết lại, cục diện Iraq không thể là “vũng lầy Việt Nam” như dư luận ưa nói, vì các lực lượng phiến loạn không có hành lang hay hậu cứ phát triển hình thái chiến tranh phá hoại hiện nay thành chiến tranh du kích để mở rộng thành chiến tranh tiêu hao làm soi mòn ý chí của Mỹ. Nhưng, Iraq vẫn có thể là một thất bại vì nạn du kích chính trị trong nội tình nước Mỹ trước sự hoài nghi và chán chường của công chúng. Thất bại tại Iraq là một chiến thắng của khủng bố, là điều chính quyền Bush không thể chấp nhận. Ông chọn cọp dữ Iraq làm gương và đã cưỡi lên lưng cọp thì không thể xuống.
Vì vậy, sau bốn tháng tê liệt, lúng túng, ông bắt đầu nhúc nhích với một chiến lược mới là giải trừ các hậu cứ khủng bố ở vòng ngọai vi và củng cố việc tái thiết bên trong để Iraq là thí điểm minh chứng quyết tâm và khả năng của Mỹ đối với al-Qaeda. Thà trễ còn hơn không, quả như vậy. Nhưng, chiến lược này có thể giải trừ được khủng bố hay chăng thì người ta còn phải chờ. Những chỉ dấu kiểm nghiệm rõ nhất sẽ là tình hình ở các lân bang với Iraq.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bát Nhã Tâm Kinh của Phật học có câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Từ “sắc” trong câu kinh dùng để chỉ vật chất và những gì có hình tướng. Còn “không” là cái không bao giờ xẩy ra. Từ “không” được nhắc đến nhiều trong đạo Phật chính là “Chân Không Diệu Hữu”. Như vậy, “sắc tức thị không, không tức thị sắc” là nói đến “thật tướng” của vạn pháp và đấy chính là “vô tướng”, từ “cái không” do nhân duyên hợp lại thành “cái có”. Và, ngược lại, từ “cái có” tất yếu trở về “cái không”. Chu kỳ ấy là bất diệt, cứ tiếp nối nhau đến vô tận. Đó là cách tiếp cận theo triết học tôn giáo hay siêu hình học. Nhìn từ nhãn quan vật lý học, “cái có” có thể đến từ “cái không” được không? Theo thuyết Big Bang thì có vẻ là như thế. Vật chất tồn tại như ta nhìn thấy – hàng tỉ tỉ dải thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ tỉ ngôi sao, mỗi ngôi sao là một hệ thái dương có thể có nhiều hành tinh, mỗi hành tinh là một thế giới như quả đất chúng ta đang sinh sống – đến từ “cái không có gì”,
Nhân Lễ Tưởng Niệm Nhị vị Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Nguyễn Văn Bông được tổ chức ngày hôm nay 13/08/2023 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng tiểu bang Victoria-Úc, Ban Tổ Chức có nhờ tôi chia sẻ đề tài “Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nhà hoạt động chính trị chân chính”, dưới đây là một số điều tôi được biết về cuộc đời chính trị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
✱ Đs Anh/Đs Lodge: Đề xuất của Hồ Chí Minh về một hiệp định đình chiến - Nhu đã đáp lại rằng đề xuất này "không thực tế" nhưng có thể trở thành thực tế trong ba hoặc bốn tháng tới và đang được nghiên cứu. ✱ Báo Espresso, Italia: Ông Nhu sẵn lòng từ bỏ viện trợ Mỹ nếu đó là cái giá phải trả để loại bỏ sự hiện diện của người Mỹ - Nhu cho biết Việt Nam có thể tồn tại mà không cần người Mỹ - Ông Nhu phản ứng phẫn nộ khi người Mỹ muốn ông rời khỏi đất nước. ✱ Nhà báo M.West,Úc: Ông Nhu nói rằng ông muốn tất cả, lặp lại, tất cả các cố vấn Mỹ đều phải rời đi - Không có người Mỹ, chúng ta có thể thắng chiến tranh trong hai hoặc ba năm - Hiện nay trong ngoại giao Mỹ ở Việt Nam, không có đạo đức. ✱ Đại sứ Lodge: Chúng ta nên xem xét việc rút quân là một khả năng ngày càng gia tăng. Sự bắt đầu của việc rút quân có thể gây ra một cuộc đảo chính...
Một nhóm khoa học giả quốc tế đã thấy bằng chứng lâu đời nhất về cà ri bên ngoài Ấn Độ và cho thấy ý nghĩa lịch sử của hành trình mà các thành phần gia vị này đã trải qua để đến đó. Các nhà nghiên cứu từ Úc, Việt Nam và Trung Quốc đã tìm thấy món ăn này – được biết đến với hương vị cay nồng của đất, có nguồn gốc từ Nam Á và hiện đã phổ biến trên toàn cầu – có lẽ đã được đưa đến bàn ăn của người Việt Nam hơn 1800 năm trước nhờ mạng lưới thương mại hàng hải.
Ở Hoa Kỳ, khi ai đó qua đời, thường thì họ sẽ được ướp xác, đặt trong quan tài và chôn cất tại nghĩa trang (thổ táng), hoặc mang đi hỏa táng, phần tro cốt sẽ được trả lại cho gia đình, người thân. Tuy nhiên, thổ táng và hỏa táng nay đã không phải là các lựa chọn duy nhất. Ngày càng có nhiều nhà tang lễ, cả các công ty khởi nghiệp và tổ chức vô vụ lợi, cung cấp cho mọi người những nghi thức khác nhau dành cho người đã khuất. Trong tương lai, bối cảnh nghi thức tang lễ sẽ đa dạng hơn…
Đã mấy năm nay, một nhóm tên "Sinh viên tranh đấu cho được nhập học công bằng" (Students for Fair Admissions) kiện Đại Học Harvard về tình trạng mà họ cho là bất công lúc xét các ứng viên Á châu nộp đơn vào trường đại học ưu tú này của Mỹ. Nhóm này cho rằng Harvard thực hành “affirmative action” (hành động khẳng định) và "racial balancing" (quân bình chủng tộc) trong quá trình quyết định ai được nhận ai bị từ chối. Nếu không, theo họ, nếu chỉ căn cứ trên thành tích học tập (academics) tỷ lệ sinh viên Á châu được nhận sẽ là 43% tổng số, hay ít lắm 26% nếu xét thêm về hoạt động ngoại khóa, thể thao hay gia đình quen biết với trường ("legacy"); chứ không thấp như mức 18.7% như hiện nay.
Cuộc chiến trên đất nước chúng ta chấm dứt đã gần nửa thế kỷ và được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Bài nầy xin trở lại vấn đề gọi tên cuộc chiến để hiệu đính và bổ túc thêm bài trước cách đây khá lâu của cùng người viết.
Các nhà quan sát đương thời có thể khá ngạc nhiên khi biết rằng nguồn gốc của cụm từ “affirmative action” – cụm từ chứa đầy ý nghĩa trong bối cảnh chính trị ngày nay – có vài phần bí ẩn. Nói rộng ra, Affirmative Action (tạm dịch là Chính Sách Nâng Đỡ Người Thiểu Số) đề cập đến các chính sách và thực tiễn được thiết kế để tăng cơ hội cho các nhóm người thiểu số như người da màu trong lịch sử. Trong tuần này, quyết định của Tối Cao Pháp Viện (TCPV) về chính sách “affirmative action” sẽ đem đến những thay đổi đáng kể trong tương lai tuyển sinh ở các trường đại học trên khắp Hoa Kỳ. Vào ngày 29 tháng 6, TCPV đã ra phán quyết rằng các trường cao đẳng và đại học tư thục cũng như công lập không còn được coi chủng tộc là một yếu tố xem xét trong tuyển sinh, đảo ngược tiền lệ pháp lý trong suốt 45 năm qua.
Các diễn biến cực kỳ sôi động về nội chính và bang giao quốc tế trong cuộc chiến tranh Đông Dương làm cho Hoa Kỳ thay đổi chiến luợc chống Cộng Sản từ hình thức trung dung sang ủng hộ Pháp. Vì sao Hoa Kỳ phát triển chính sách này lên cực điểm?
Nước Việt Nam được quốc tổ Hùng Vương sáng lập với quốc hiệu đầu tiên là Văn Lang. Các vị vua kế tiếp nhau đều lấy hiệu là Hùng Vương cả, chỉ phân biệt các đời vua theo con số thứ tự. Đến đời Hùng Vương thứ 18 thì một phiên thuộc là Thục Phán nổi lên đánh bại nhà vua và chiếm mất ngôi vào năm 257 trước Tây Lịch (TL). Thục Phán xưng hiệu là An Dương Vương, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Loa Thành (Phong Khê, Phúc Yên)...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.