Hôm nay,  

Thư Gửi Kerry

04/03/200400:00:00(Xem: 6512)
Thượng nghị sĩ John Kerry đã thắng lớn trong vòng sơ tuyển vừa qua. Tất nhiên, nhiều người phải có lời mừng. Sau đây là lá thư của một cựu chiến binh Mỹ gửi cho ông...
Vì người viết bị bận nhiều việc riêng nên chỉ có thể đóng góp vài hàng về cuộc tranh cử tổng thống tại Mỹ, bằng cách dịch lại lá thư của một cựu Trung tá Mỹ gửi Nghị sĩ Kerry. Lá thư được nhà tư vấn về truyền thông Jay Briant giới thiệu cho độc giả Mỹ trên Internet. Jay Bryant theo đảng Cộng hòa, thường xuất hiện trên chương trình "All Things Considered" của National Public Radio (NPR), một đài phát thanh có uy tín, hay bị phe bảo thủ công kích là nhiều khi thiên tả.
Tác giả lá thư, cựu Trung tá Lục quân Glenn Lackey, được Jay Bryant giới thiệu là người có kinh nghiệm về chiến trường đấu khẩu là Quốc hội Mỹ, vì từng làm chánh văn phòng cho một Dân biểu Liên bang trong một thời gian ngắn. Trước đó, ông tham chiến tại Việt Nam, Somalia và vùng Vịnh (năm 1991). Jay Bryant có báo trước là Trung tá Glenn Lackey nói rất thẳng.
Sau đây là lá thư, được người viết phỏng dịch cho độc giả người Việt:
Thưa ông Kerry:
Sau khi chỉ qua Việt Nam có vỏn vẹn bốn tháng, năm 1971, ông điều trần trước Quốc hội nguyên văn như sau về những gì ông đã chứng kiến: "Họ (binh lính Mỹ) trực tiếp hãm hiếp, xẻo tai, chặt đầu, lấy giây điện thoại cột bộ phận sinh dục cho chạy điện, chặt tay chân, cho nổ tung thân thể, bắn loạn vào thường dân, tàn phá làng mạc, bắn hạ chó mèo để chơi, bỏ thuốc độc vào lương thực và nói chung làm tan hoang nông thôn miền Nam."
Gieo rắc vậy trong thửa ruộng của nông dân để gặt hái điều lành ("). Tôi đã qua một năm tại Việt Nam thời 1968-1969 trong một đơn vị tác chiến. Tôi là lính liên lạc và quan sát pháo binh trong một đại đội bộ binh và chứng kiến chiến trận hàng ngày cho đến khi bị thương. Từ nhà thương ra, tôi được điều vào một đơn vị trọng pháo. Tôi thấy những người lính can trường chiến đấu và tử trận; tôi thấy những người lính quả cảm và tử tế chia hết khẩu phần ăn của họ cho các em nhỏ bị đói; họ xây cất nhà thờ, chung góp cho cô nhi viện, lặng lẽ khóc khi thấy những ngôi làng bị quân Bắc Việt tàn phá, nhưng tôi không bao giờ thấy bất cứ gì gọi là gần giống như những tội ác chiến tranh mà ông ngẫu nhiên chứng kiến khi đi giang thuyền qua các làng xã. Nếu ông thấy sự tàn ác mà không trình lại thì ông bị tội đồng lõa và toa rập. Nếu ông khai gian thì rõ là bất xứng với chức vụ chỉ huy ở bất kỳ cấp nào. Sự kiện nghiêm trọng nhất mà bản thân tôi chứng kiến là một thiếu úy trẻ đã chụp lấy tay một phụ nữ Việt Nam trong khi lục soát một ngôi làng. Một sĩ quan từng trải hơn mà không là thượng cấp đã đánh viên thiếu úy đó lăn xuống đất và nói, có lẽ hơi dữ dằn, rằng người đàn bà ấy đáng tuổi mẹ và bà phải được đối xử với sự kính trọng. Vậy đó, Kerry, đây là lời thú của tôi - tôi không trình lại vụ này.

Tôi có con, con tôi có con. Chúng có thể vấp phải những điều ông nói, như người ta có thể đạp vào cứt chó. Tôi không thú chút nào với ý nghĩ là phải giải thích rằng "kinh nghiệm" của ông là một sự dối trá trắng trợn, hoặc ông thuộc vào thành phần dưới 1% những cựu chiến binh ở Việt Nam đã vi phạm tội ác và tàn độc trong chiến tranh. Trong cả hai trường hợp thì lời điều trần của ông đã phương hại lớn cho Thượng nghị viện, cho tiểu bang Massachussetts của tôi, cho Quân đội mà tôi đã vinh dự phục vụ trong 27 năm, và cho cả quốc gia mà ông đang đòi lãnh đạo.
Có đúng rằng ông đã đơn phương ngăn cản việc Thượng viện biểu quyết đạo luật H.R. 2833, là Đạo luật Nhân quyền tại Việt Nam năm 2001 đã được Hạ viện thông qua với số phiếu biểu quyết là 410-1" Có nhiều người tin rằng việc chúng ta không quyết liệt lên tiếng về vấn đề đó đã khiến hàng ngàn dân Thượng tại Việt Nam bị mất mạng. Còn lập trường của ông là thế nào về H.R. 1587, Đạo luật Nhân quyền tại Việt Nam năm 2003 (của Hạ viện)" Ông có ủng hộ một đạo luật tương tự tại Thượng viện không" Có đúng rằng ông là Chủ tịch Ủy ban Quân vụ đặc trách về MIA/POW và trong vai trò đó, ông đã tranh đấu mạnh để giới hạn ngân khoản dành cho việc điều tra dấu vết và truy tìm hài cốt (của các chiến binh Mỹ)" Tôi tin rằng ông cũng là người đã kiên trì, quyết liệt và ồn ào vận động cho việc bình thường hóa bang giao với Việt Nam. Có phải chăng là người anh em con chú con bác của ông, ông Forbes, Tổng quản trị của Collier International, vừa ký một hợp đồng trị giá bạc tỷ với Hà Nội" Có đúng theo lời đồn, rằng ông lỡ quẳng lại qua hàng rào Tòa Bạch Ốc những huy chương "dày công" chiến đấu mới có, do phản ứng bồng bột của tuổi thanh niên, hay, còn đúng hơn, là ông đã vứt huy chương của một người bạn cùng phòng"
Tôi quen hàng tá cựu chiến binh thiện nghệ. Không một ai ủng hộ ông, và họ có lý do chính đáng. Họ đã phục vụ trong danh dự và đắc lực và đều tin rằng ông thì không. Tôi có biết nhiều anh hùng thời chiến, còn ông, xin thưa, ông không được vậy.
Glenn Lackey.
Người viết xin dịch nhanh và xin miễn phê bình.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.