Hôm nay,  

Cô Đã Trở Về

19/02/200500:00:00(Xem: 7814)
Tôi khai bút sớm vào một buổi chiều hoàng hôn 30 Tết. Nhìn cây mai vàng trước sân chùa năm nay lá nhiều hoa ít, nụ lưa thưa đứng một mình đìu hiu buồn không chịu nở. Chắc mai nhớ bạn là cành đào năm ngoái hoa đỏ thắm hồng trồng cạnh hàng rào, năm nay cây đào đã bị bứt gốc, chặt đi từ lúc nào. Những chậu lan, chậu cúc đâu còn đứng sắp hàng chào đón khách thập phương hai bên lối đi. Khu vườn nhỏ vắng hoa như vắng bàn tay chăm sóc của sư cô. Chỉ có tượng Phật Bà Quan Âm từ bi còn đó để hàng ngày chứng kiến và lắng nghe những niềm đau nỗi khổ của người thế gian.
Cây cỏ hình như cũng khoác một vẻ u sầu, ủ rũ với chủ nhân - Sư cô Như Ngọc - viện chủ chùa A Di Đà. Cô đang ốm nặng. Tôi đang viết về một sư cô đang chiến đấu với tử thần từng giây từng phút vào những ngày cuối năm, khi những tia nắng chiều hoàng hôn sắp tắt, cái lạnh cuối đông đang se sắt lòng người, thấm dần trong làn da, thớ thịt và mọi người ai ai cũng vội vã trở về mái nhà êm ấm chuẩn bị đón giao thừa.
Tôi và chị Hoa Thiện đăng ký…trực chùa vào ngày 30 tết. Cùng với sư cô Hoa Đạo và các Phật tử, mỗi người một tay lo chuẩn bị cúng Ngọ, cúng vong, dọn dẹp, trang trí bông đèn, hoa trái trên bàn thờ Phật, bàn thờ Tổ,v.v… Chùa A Di Đà đã có một khuôn mặt mới, sạch sẽ, khang trang chờ đón Cô trở về…
Đây không phải là một bệnh nhân bình thường, Cô là một nữ tu, một khuôn mặt quen thuộc trong hàng giáo phẩm Phật Giáo tại Orange County, một cái tên không xa lạ với những Phật tử thường xuyên đi chùa, một người phụ nữ hình như được sinh ra để làm việc xã hội không kém gì nam giới, một sư cô làm Phật sự quên mình, không ngơi nghỉ, một trái tim dễ xúc động bằng những giọt nước mắt trước những sự mất mát lớn, một tâm hồn văn học, một cây viết thường xuyên cho tờ Phật Giáo Việt Nam….
Tôi không nhớ rõ tôi có duyên với sư cô và chùa A Di Đà vào năm nào. Chỉ nhớ trong một chuyến đi Lộc Uyển, tôi mượn chị Lệ Hoa $20 mua chiếc áo tràng. Tôi hỏi địa chỉ để trả tiền chị, chị dặn dò đến chùa A Di Đà vào mỗi tối thứ Năm có tụng kinh, chị có mặt đều đặn ở đó. Chị Lệ Hoa là nhịp cầu nối liền giữa tôi và ngôi chùa.
Ngày đó, chùa A Di Đà còn nhỏ hẹp, sơ sài và bừa bộn lắm. Các bác Phật tử thuần thành và nòng cốt khoảng hơn 10 người, đa số là các bác lớn tuổi như bác Mười, bác Hòa, bác Sáu, bác Diệu Tuệ, bác Hoa Đạo…lứa tuổi sồn sồn có chị Hoa Thiện, chị Yến, chị Lệ Hoa, trẻ hơn có Mỹ Anh, Mỹ Hương,… Chùa nhỏ mà vui, không câu nệ, không hình thức, ai cũng lấy cái tình người và tâm đạo đối đãi với nhau. Sau buổi tụng kinh là một màn ăn uống ì sèo, hôm thì cháo khuya, hôm thì bún riêu, thức ăn trong chùa lúc nào cũng dư thừa cho Phật tử nào lỡ bước đến chùa, sư cô lúc nào cũng chu đáo đầy đặn cho những bữa ăn như thế.
Hồi đó, hai chữ hồi đó mới đây mà ngỡ như xa lắm. Các bác còn khỏe, trái tim của chị Lệ Hoa còn đập bình thường đều đặn nên chị tình nguyện làm tài xế đưa đón các bác. Bây giờ, cái vô thường đến mỗi giây, mỗi phút với tất cả mọi người, bác thì đi xa với con, bác thì đau yếu không đến được, bác thì không ai đưa đón, nhân sự càng ngày càng rơi rụng dần. Đó cũng là lúc chùa có thêm nhiều Phật tử mới, sư cô sửa sang lại chánh điện, phòng khách, garage, landscape, ngôi chùa rộng hơn và có một mặt tiền khang trang hơn. Sư cô làm Phật tử tích cực hơn, các thầy, sư cô từ xa về giảng pháp trong những ngày vía lớn, gia đình Phật tử Thiên Ân có chỗ rộng rãi thoải mái hơn để sinh hoạt. Quen thuộc và nổi bật nhất vẫn là hình ảnh cô lúc nào cũng rộn ràng, nhanh nhẹn, tại nhà bếp, cô lo những bữa ăn cho Ôn và các Thầy, tại phòng khách, cô tiếp đón, dặn dò các Phật tử…Trước những công việc Phật sự như thế, ai cũng đều nhắc nhở cô những bữa ăn bị…bỏ quên. Rất ít khi cô có một bữa ăn trọn vẹn, đầy đủ, chu đáo cho cô vì lúc nào cô cũng bận rộn, chạy đua với thời gian, công việc và lo cho người khác.
Tôi được tham dự nhiều chuyến đi Tour hành hương với cô. Có những chuyến đi sáng chiều về trong ngày như tour hành hương thập tự đầu năm, có những chuyến kéo dài một tuần như những chuyến thăm các chùa Bắc Cali Vancouver, các chuyến dự lễ lội Quan Âm ở Texas,v.v…Hình ảnh cô như một nữ tướng ngồi ở ghế đầu tiên sau người tài xế, hướng dẫn, một đoàn quân đa số là các bác lớn tuổi tham dự một cuộc hành quân mà ngày trở về Cali ai nay đều bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến đi dài. Mệt mà vui vì có quá nhiều kỷ niệm vui với cô trong chuyến hành hương.

Tôi nhớ mãi có một lần trong chuyến hành hương thăm Yosemite, trên đường về phải vượt qua các đoạn đường núi quanh co, ngoằn ngoèo, độ dốc càng ngày càng cao, trời tối sầm, mịt mù sương khói, tuyết rơi lả tả ngoài trời, cô nhắc nhở mọi người giữ chánh niệm, chỉ yên lặng và tụng kinh. Ông tài xế nhiều lần muốn ngừng xe để gắn lại sợi giây xích trong bánh xe nhưng tuyết rơi dầy quá, ông tiếp tục lái vượt qua các đoạn đường trơn trượt và dốc cao. Mãi đến khi trời tối, ghé vào tiệm Mac Donald nghỉ ngơi, tôi nói về những cái bánh xe không gắn những sợi giây xích an toàn, cô nhìn tôi mỉm cười nói : "Diệu Loan yên tâm đi mình đi hành hương luôn luôn có long thần hộ pháp và Phật Bà Quan Âm phù hộ độ trì, mình được mọi sự bình an". Cô có một niềm tin tuyệt đối vào sự linh thiêng và cảm ứng của Phật Bà Quan Âm, niềm tin ấy sáng ngời và long lanh trong ánh mắt cô. Cô rất bình tĩnh và cứng cỏi trong những trường hợp như vậy trong khi tôi ngồi trên xe mà hồi hộp tim đập mạnh, chỉ biết nhắm mắt và niệm thầm Quan Thế Âm Bồ Tát theo lời hướng dẫn của cô.
Cô rất ít khi ngồi yên vì bản tính của cô là type người tạm gọi là dynamic, ưa hoạt động. Cô lái xe băng băng với cái xe cà rịch cà tàng trước đây bao phen đã làm cho cô lỡ việc. Với cái xe mới, Cô lặn lội lên Los chăm lo sức khỏe cho ôn, cô đi thăm người bệnh, người chết, cô đi tụng niệm cầu an, cầu siêu. Khi thấy cô đi bác sĩ, ai nhắc nhở đến sức khỏe, cô mỉm cười cô biết mà, cô lo được chỉ vài viên thuốc Contact, cô khỏe lại, vẫn làm việc xông xáo, đề lại, tổ chức, sắp xếp công kia việc nọ… Bệnh tật hình như cũng "chừa" cô ra, hay…sợ cô" Các Phật tử nhắc nhở cô về các bữa ăn, thuốc men, thời tiết. Cô cười cười "Không sao đâu!" Cô khỏe thật thế rồi một ngày nọ Cô phải vào bệnh viện.
Các Phật tử thân cận đã đưa Cô vào bệnh viện Fountain Valley. Lần này, Cô không thể từ chối được vì cô không còn sức để chống đỡ được nữa. Bệnh thổ tả làm cho cô gầy sút người vì tuần lễ cô có ăn uống được gì đâu. Cô lại ăn chay. Trong người cô được nuôi dưỡng bằng giây nước biển. Các bác sĩ thử máu, làm test liên tục vẫn chưa tìm được bệnh. Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê, có lúc cô tỉnh, Cô nhận ra Ôn và các Phật tử, nước mắt cô long lanh chảy dài trên đôi má hóp. Tôi và các chị Phật tử vào thăm, côn còn tỉnh và tâm sự: "Lúc này nằm trên giường bệnh mới thấy không có sức khỏe thì không làm gì được cả." Chùa A Di Đà cần cô trở về để sửa soạn đón Tết Ất Dậu, các tour hành hương đang cần cô hướng dẫn. Các Phật tử an ủi cô và động viên cô tịnh dưỡng, chùa đã có mọi người lo từ A đến Z, mọi người nhắc cô niệm Phật, các Thầy, các Sư Cô và Phật tử tụng kinh hàng tối cầu an cho cô.
Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê. Bệnh cô càng ngày càng trở nặng, các bác sĩ vẫn chưa xác định được đó là bệnh gì dù đã hơn 10 ngày. Trong phòng chăm sóc đặc biệt, trên người cô là các sợi dây nước biển, ống thở, ống đổ thức ăn, ống tiếp máu…Các Thầy, các Sư cô và Phật tử vào thăm cô không tránh khỏi những giọt nước mắt cảm thương. Các bác sĩ đã tìm ra được bệnh và quyết định tiếp máu đồng thời dùng chemotherapy, trị liệu bằng hóa chất sau khi đã xác định được bệnh của cô.
Khi tôi viết những dòng này, sư cô đã mở mắt và tỉnh lại đôi chút. Cô đã bập bẹ các chữ "A Di Đà Phật" mặc dù chữ Phật còn ngọng nghịu, khó khăn trên đôi môi cô. Cô tỉnh lại là một niềm vui lớn cho tất cả các Phật tử quan tâm đến sức khỏe của cô từ trước tết cho đến bây giờ. Mạng sống của tất cả chúng ta đều vô thường, cũng như ai cũng trải qua cầu sinh tử. Cô đang chiến đấu với tử thần và từ cõi chết, cô đã trở về. Cô ơi, năm nay cô 62 tuổi đời, có một bài hát nổi tiếng của thế gian "Sáu mươi năm cuộc đời", 60 là một con số mà mỗi chúng ta phải quan tâm và chịu nhận, còn thừa lại là phần "bonus" của cuộc đời cho chúng ta đó. Cô đang được hồi sinh và từ từ sẽ hồi phục nhưng cô còn đủ và kịp thời gian để chuẩn bị cho mình một sinh hoạt mới, thói quen mới như cô phải…"nice" với sức khỏe của mình, cô phải "ke" các bữa ăn, cô phải bớt làm việc và nếu làm việc thì chỉ làm việc vừa sức, đừng "abuse" sức khỏe nữa, bởi vì nếu thân không khỏe thì không có phương tiện để mình tu mặc dù biết rằng một ngày nào đó cái thân rồi cũng vô thường.
Mỗi tối, các Thầy, các sư cô, các Phật tử đều ít nhiều dành những lời kinh cầu an cho cô nhân dịp đầu năm. Cô đã trở về, nói đúng hơn thần thức của cô đã trở về sau những ngày lang thang đâu đó. Cô có nhớ gì không trong "chuyến đi" này" Những kinh nghiệm của cô, khi nào cô khỏe, cô nhớ lại và kể cho các Phật tử nghe cô đã đi đâu, gặp ai, làm gì, thấy gì trong những ngày mê man ấy" Dù sao đi nữa…Cô đã trở về. Cuộc chiến đấu với bệnh tật rồi liên tục và quyết liệt nhưng Diệu Lan tin rằng Cô là một phụ nữ đầy nghị lực, cô sẽ không lùi bước trước căn bệnh dù có hiểm nghèo. Chung quanh cô và trên hết, những tiếng kinh cầu nguyện "Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát" của các Phật tử luôn luôn bên cạnh cô sẽ vang lên hàng đêm trong các thời công phu tối: - Cô đã trở về.
Kính tặng Sư Cô Như Ngọc
Viện chủ Chùa A Di Đà
Cali ngày 14 tháng 2 năm 2005
Diệu Lan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.