Hôm nay,  

Cô Đã Trở Về

19/02/200500:00:00(Xem: 8063)
Tôi khai bút sớm vào một buổi chiều hoàng hôn 30 Tết. Nhìn cây mai vàng trước sân chùa năm nay lá nhiều hoa ít, nụ lưa thưa đứng một mình đìu hiu buồn không chịu nở. Chắc mai nhớ bạn là cành đào năm ngoái hoa đỏ thắm hồng trồng cạnh hàng rào, năm nay cây đào đã bị bứt gốc, chặt đi từ lúc nào. Những chậu lan, chậu cúc đâu còn đứng sắp hàng chào đón khách thập phương hai bên lối đi. Khu vườn nhỏ vắng hoa như vắng bàn tay chăm sóc của sư cô. Chỉ có tượng Phật Bà Quan Âm từ bi còn đó để hàng ngày chứng kiến và lắng nghe những niềm đau nỗi khổ của người thế gian.
Cây cỏ hình như cũng khoác một vẻ u sầu, ủ rũ với chủ nhân - Sư cô Như Ngọc - viện chủ chùa A Di Đà. Cô đang ốm nặng. Tôi đang viết về một sư cô đang chiến đấu với tử thần từng giây từng phút vào những ngày cuối năm, khi những tia nắng chiều hoàng hôn sắp tắt, cái lạnh cuối đông đang se sắt lòng người, thấm dần trong làn da, thớ thịt và mọi người ai ai cũng vội vã trở về mái nhà êm ấm chuẩn bị đón giao thừa.
Tôi và chị Hoa Thiện đăng ký…trực chùa vào ngày 30 tết. Cùng với sư cô Hoa Đạo và các Phật tử, mỗi người một tay lo chuẩn bị cúng Ngọ, cúng vong, dọn dẹp, trang trí bông đèn, hoa trái trên bàn thờ Phật, bàn thờ Tổ,v.v… Chùa A Di Đà đã có một khuôn mặt mới, sạch sẽ, khang trang chờ đón Cô trở về…
Đây không phải là một bệnh nhân bình thường, Cô là một nữ tu, một khuôn mặt quen thuộc trong hàng giáo phẩm Phật Giáo tại Orange County, một cái tên không xa lạ với những Phật tử thường xuyên đi chùa, một người phụ nữ hình như được sinh ra để làm việc xã hội không kém gì nam giới, một sư cô làm Phật sự quên mình, không ngơi nghỉ, một trái tim dễ xúc động bằng những giọt nước mắt trước những sự mất mát lớn, một tâm hồn văn học, một cây viết thường xuyên cho tờ Phật Giáo Việt Nam….
Tôi không nhớ rõ tôi có duyên với sư cô và chùa A Di Đà vào năm nào. Chỉ nhớ trong một chuyến đi Lộc Uyển, tôi mượn chị Lệ Hoa $20 mua chiếc áo tràng. Tôi hỏi địa chỉ để trả tiền chị, chị dặn dò đến chùa A Di Đà vào mỗi tối thứ Năm có tụng kinh, chị có mặt đều đặn ở đó. Chị Lệ Hoa là nhịp cầu nối liền giữa tôi và ngôi chùa.
Ngày đó, chùa A Di Đà còn nhỏ hẹp, sơ sài và bừa bộn lắm. Các bác Phật tử thuần thành và nòng cốt khoảng hơn 10 người, đa số là các bác lớn tuổi như bác Mười, bác Hòa, bác Sáu, bác Diệu Tuệ, bác Hoa Đạo…lứa tuổi sồn sồn có chị Hoa Thiện, chị Yến, chị Lệ Hoa, trẻ hơn có Mỹ Anh, Mỹ Hương,… Chùa nhỏ mà vui, không câu nệ, không hình thức, ai cũng lấy cái tình người và tâm đạo đối đãi với nhau. Sau buổi tụng kinh là một màn ăn uống ì sèo, hôm thì cháo khuya, hôm thì bún riêu, thức ăn trong chùa lúc nào cũng dư thừa cho Phật tử nào lỡ bước đến chùa, sư cô lúc nào cũng chu đáo đầy đặn cho những bữa ăn như thế.
Hồi đó, hai chữ hồi đó mới đây mà ngỡ như xa lắm. Các bác còn khỏe, trái tim của chị Lệ Hoa còn đập bình thường đều đặn nên chị tình nguyện làm tài xế đưa đón các bác. Bây giờ, cái vô thường đến mỗi giây, mỗi phút với tất cả mọi người, bác thì đi xa với con, bác thì đau yếu không đến được, bác thì không ai đưa đón, nhân sự càng ngày càng rơi rụng dần. Đó cũng là lúc chùa có thêm nhiều Phật tử mới, sư cô sửa sang lại chánh điện, phòng khách, garage, landscape, ngôi chùa rộng hơn và có một mặt tiền khang trang hơn. Sư cô làm Phật tử tích cực hơn, các thầy, sư cô từ xa về giảng pháp trong những ngày vía lớn, gia đình Phật tử Thiên Ân có chỗ rộng rãi thoải mái hơn để sinh hoạt. Quen thuộc và nổi bật nhất vẫn là hình ảnh cô lúc nào cũng rộn ràng, nhanh nhẹn, tại nhà bếp, cô lo những bữa ăn cho Ôn và các Thầy, tại phòng khách, cô tiếp đón, dặn dò các Phật tử…Trước những công việc Phật sự như thế, ai cũng đều nhắc nhở cô những bữa ăn bị…bỏ quên. Rất ít khi cô có một bữa ăn trọn vẹn, đầy đủ, chu đáo cho cô vì lúc nào cô cũng bận rộn, chạy đua với thời gian, công việc và lo cho người khác.
Tôi được tham dự nhiều chuyến đi Tour hành hương với cô. Có những chuyến đi sáng chiều về trong ngày như tour hành hương thập tự đầu năm, có những chuyến kéo dài một tuần như những chuyến thăm các chùa Bắc Cali Vancouver, các chuyến dự lễ lội Quan Âm ở Texas,v.v…Hình ảnh cô như một nữ tướng ngồi ở ghế đầu tiên sau người tài xế, hướng dẫn, một đoàn quân đa số là các bác lớn tuổi tham dự một cuộc hành quân mà ngày trở về Cali ai nay đều bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến đi dài. Mệt mà vui vì có quá nhiều kỷ niệm vui với cô trong chuyến hành hương.

Tôi nhớ mãi có một lần trong chuyến hành hương thăm Yosemite, trên đường về phải vượt qua các đoạn đường núi quanh co, ngoằn ngoèo, độ dốc càng ngày càng cao, trời tối sầm, mịt mù sương khói, tuyết rơi lả tả ngoài trời, cô nhắc nhở mọi người giữ chánh niệm, chỉ yên lặng và tụng kinh. Ông tài xế nhiều lần muốn ngừng xe để gắn lại sợi giây xích trong bánh xe nhưng tuyết rơi dầy quá, ông tiếp tục lái vượt qua các đoạn đường trơn trượt và dốc cao. Mãi đến khi trời tối, ghé vào tiệm Mac Donald nghỉ ngơi, tôi nói về những cái bánh xe không gắn những sợi giây xích an toàn, cô nhìn tôi mỉm cười nói : "Diệu Loan yên tâm đi mình đi hành hương luôn luôn có long thần hộ pháp và Phật Bà Quan Âm phù hộ độ trì, mình được mọi sự bình an". Cô có một niềm tin tuyệt đối vào sự linh thiêng và cảm ứng của Phật Bà Quan Âm, niềm tin ấy sáng ngời và long lanh trong ánh mắt cô. Cô rất bình tĩnh và cứng cỏi trong những trường hợp như vậy trong khi tôi ngồi trên xe mà hồi hộp tim đập mạnh, chỉ biết nhắm mắt và niệm thầm Quan Thế Âm Bồ Tát theo lời hướng dẫn của cô.
Cô rất ít khi ngồi yên vì bản tính của cô là type người tạm gọi là dynamic, ưa hoạt động. Cô lái xe băng băng với cái xe cà rịch cà tàng trước đây bao phen đã làm cho cô lỡ việc. Với cái xe mới, Cô lặn lội lên Los chăm lo sức khỏe cho ôn, cô đi thăm người bệnh, người chết, cô đi tụng niệm cầu an, cầu siêu. Khi thấy cô đi bác sĩ, ai nhắc nhở đến sức khỏe, cô mỉm cười cô biết mà, cô lo được chỉ vài viên thuốc Contact, cô khỏe lại, vẫn làm việc xông xáo, đề lại, tổ chức, sắp xếp công kia việc nọ… Bệnh tật hình như cũng "chừa" cô ra, hay…sợ cô" Các Phật tử nhắc nhở cô về các bữa ăn, thuốc men, thời tiết. Cô cười cười "Không sao đâu!" Cô khỏe thật thế rồi một ngày nọ Cô phải vào bệnh viện.
Các Phật tử thân cận đã đưa Cô vào bệnh viện Fountain Valley. Lần này, Cô không thể từ chối được vì cô không còn sức để chống đỡ được nữa. Bệnh thổ tả làm cho cô gầy sút người vì tuần lễ cô có ăn uống được gì đâu. Cô lại ăn chay. Trong người cô được nuôi dưỡng bằng giây nước biển. Các bác sĩ thử máu, làm test liên tục vẫn chưa tìm được bệnh. Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê, có lúc cô tỉnh, Cô nhận ra Ôn và các Phật tử, nước mắt cô long lanh chảy dài trên đôi má hóp. Tôi và các chị Phật tử vào thăm, côn còn tỉnh và tâm sự: "Lúc này nằm trên giường bệnh mới thấy không có sức khỏe thì không làm gì được cả." Chùa A Di Đà cần cô trở về để sửa soạn đón Tết Ất Dậu, các tour hành hương đang cần cô hướng dẫn. Các Phật tử an ủi cô và động viên cô tịnh dưỡng, chùa đã có mọi người lo từ A đến Z, mọi người nhắc cô niệm Phật, các Thầy, các Sư Cô và Phật tử tụng kinh hàng tối cầu an cho cô.
Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê. Bệnh cô càng ngày càng trở nặng, các bác sĩ vẫn chưa xác định được đó là bệnh gì dù đã hơn 10 ngày. Trong phòng chăm sóc đặc biệt, trên người cô là các sợi dây nước biển, ống thở, ống đổ thức ăn, ống tiếp máu…Các Thầy, các Sư cô và Phật tử vào thăm cô không tránh khỏi những giọt nước mắt cảm thương. Các bác sĩ đã tìm ra được bệnh và quyết định tiếp máu đồng thời dùng chemotherapy, trị liệu bằng hóa chất sau khi đã xác định được bệnh của cô.
Khi tôi viết những dòng này, sư cô đã mở mắt và tỉnh lại đôi chút. Cô đã bập bẹ các chữ "A Di Đà Phật" mặc dù chữ Phật còn ngọng nghịu, khó khăn trên đôi môi cô. Cô tỉnh lại là một niềm vui lớn cho tất cả các Phật tử quan tâm đến sức khỏe của cô từ trước tết cho đến bây giờ. Mạng sống của tất cả chúng ta đều vô thường, cũng như ai cũng trải qua cầu sinh tử. Cô đang chiến đấu với tử thần và từ cõi chết, cô đã trở về. Cô ơi, năm nay cô 62 tuổi đời, có một bài hát nổi tiếng của thế gian "Sáu mươi năm cuộc đời", 60 là một con số mà mỗi chúng ta phải quan tâm và chịu nhận, còn thừa lại là phần "bonus" của cuộc đời cho chúng ta đó. Cô đang được hồi sinh và từ từ sẽ hồi phục nhưng cô còn đủ và kịp thời gian để chuẩn bị cho mình một sinh hoạt mới, thói quen mới như cô phải…"nice" với sức khỏe của mình, cô phải "ke" các bữa ăn, cô phải bớt làm việc và nếu làm việc thì chỉ làm việc vừa sức, đừng "abuse" sức khỏe nữa, bởi vì nếu thân không khỏe thì không có phương tiện để mình tu mặc dù biết rằng một ngày nào đó cái thân rồi cũng vô thường.
Mỗi tối, các Thầy, các sư cô, các Phật tử đều ít nhiều dành những lời kinh cầu an cho cô nhân dịp đầu năm. Cô đã trở về, nói đúng hơn thần thức của cô đã trở về sau những ngày lang thang đâu đó. Cô có nhớ gì không trong "chuyến đi" này" Những kinh nghiệm của cô, khi nào cô khỏe, cô nhớ lại và kể cho các Phật tử nghe cô đã đi đâu, gặp ai, làm gì, thấy gì trong những ngày mê man ấy" Dù sao đi nữa…Cô đã trở về. Cuộc chiến đấu với bệnh tật rồi liên tục và quyết liệt nhưng Diệu Lan tin rằng Cô là một phụ nữ đầy nghị lực, cô sẽ không lùi bước trước căn bệnh dù có hiểm nghèo. Chung quanh cô và trên hết, những tiếng kinh cầu nguyện "Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát" của các Phật tử luôn luôn bên cạnh cô sẽ vang lên hàng đêm trong các thời công phu tối: - Cô đã trở về.
Kính tặng Sư Cô Như Ngọc
Viện chủ Chùa A Di Đà
Cali ngày 14 tháng 2 năm 2005
Diệu Lan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.
Từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đã thực hiện hàng loạt chuyến công du quốc tế. Đằng sau những chuyến đi đó là các thỏa thuận trị giá hàng tỷ MK, những buổi đón tiếp hoàng gia trang trọng, xa hoa, hay “nỗ lực tìm kiếm hòa bình” giữa khủng hoảng và xung đột. Trong khi Trump công du đến các quốc gia khác, Tòa Bạch Ốc cũng liên tục mở cửa đón tiếp các lãnh đạo từ khắp thế giới. Từ Tổng thống El Salvador Nayib Bukele (thăm Washington vào tháng 4) đến Quốc vương Jordan Abdullah II (đến Hoa Kỳ vào tháng 2), và gần đây nhất là hội nghị thượng đỉnh giữa Trump và Putin diễn ra tại Alaska.
Trong hơn hai thế kỷ qua, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã “trưởng thành” cùng đất nước thông qua các tu chính án. Những sửa đổi mang tính lịch sử như Tu Chính Án 13 (xóa bỏ chế độ nô lệ) hay Tu Chính Án 19 (mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ) là minh chứng rõ ràng cho tinh thần ấy: Hiến Pháp không phải là những điều bất biến, mà là một công trình luôn phát triển cùng thời đại.
Năm 1978, Hồng y Karol Józef Wojtyla, Tổng Giám mục Kraków của Ba Lan, được bầu làm giáo hoàng (John Paul II, Gioan Phaolô II). Năm 1980, thi sĩ Czesław Miłosz, giáo sư gốc Ba Lan tại Đại học Berkeley, được trao giải Nobel Văn chương, là người đầu tiên của trường nhận giải Nobel không phải trong lãnh vực khoa học và ông có những quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Từ đó tôi chú ý đến đất nước Ba Lan nhiều hơn, nhất là chuyến trở về quê hương lần đầu tiên của Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1979.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, vợ chồng sắp bay sang Ý dự đám cưới con gái vào ngày 12. Sáng ấy, ông vẫn dậy 4 giờ rưỡi, tắm, hát điệu music-hall, mặc bộ pin-stripe xanh đậm – ông bắt nhân viên an ninh mang áo cà vạt mỗi ngày; nhiều người khó, ông tự móc tiền mua cho. 8 giờ 15 như lệ, gọi cho Susan. Nửa giờ sau, Susan đang nói chuyện với con thì đầu dây khác reo: “Mở tivi lên!” Tháp phía bắc bốc khói. Bà gọi văn phòng chồng; đồng nghiệp bảo: “Rick đang ngoài hành lang, cầm loa, đưa mọi người ra.” Ở Florida, Dan Hill xem tivi thì điện thoại reo: Rick gọi từ di động. “Tôi đang sơ tán.” Hill nghe ông dùng loa, giọng bình tĩnh, rồi bật hát bài “Men of Harlech”: “Đứng vững, người Cornwall ơi… đừng bao giờ chịu khuất.” Rick nói thêm: Ban quản trị toà nhà bảo ở yên. “Tôi bảo hắn cút đi,” Rick nói. “Những tầng trên điểm trúng sẽ sập, kéo cả nhà xuống. Tôi đưa người của tôi ra.” Vài phút sau, máy bay thứ hai ngoặt trái lao vào tháp nam. Susan bấm gọi; không ai bắt máy...
Về mặt pháp lý và hình sự ở châu Âu, hiện nay không có một Tòa án Hình sự duy nhất nào có thẩm quyền chung cho toàn châu Âu như kiểu “Tòa án Tối cao Hình sự châu Âu”. Tuy nhiên, có một số cơ quan và tòa án có thẩm quyền trong một số lĩnh vực nhất định có liên quan đến hình sự chung cho châu Âu. European Union Agency for Criminal Justice Cooperation, EUROJUST không phải là tòa án mà là cơ quan hợp tác tư pháp hình sự của Liên minh châu Âu, có chức năng hỗ trợ và điều phối hợp tác điều tra và truy tố hình sự xuyên biên giới giữa các quốc gia thành viên. Các tội phạm xuyên quốc gia là khủng bố, buôn ma túy, rửa tiền, tội phạm mạng... Cơ quan này có trụ sở đặt tại The Hague, Hà Lan.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.