Hôm nay,  

Chớ Phản Bội

07/05/200400:00:00(Xem: 6868)
PVM chuyễn ngữ
(Bài này được cháu Phạm Xuân Quang, tức con trai của cố Trung Tá KQ Phạm Văn Hòa, cho phép trích dịch bài đã đăng trên website www.phamxuanquang.com với tựa đề U.S. Mustn't Betray Iraq as It Did South Vietnam. Phạm Xuân Quang cũng đã từng là hoa tiêu của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Muốn đọc bản văn Anh ngữ, xin vui lòng vào trang nhà của Phạm Xuân Quang theo địa chỉ đã nêu)
Vừa quá ngọ ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, một nhóm người Việt Nam tỵ nạn trên đảo Guam hốt hoảng òa lên khóc. Họ tụ tập gần phòng điều hành của trại để nghe ngóng tin tức qua đài BBC. Mẹ tôi cũng trong đám đông đó, phần lớn gồm có phụ nữ và người cao niên. “Cộng sản đã vào Sài Gòn. Thế là xong rồi.” Bản tin của đài phát thanh được loan đi khắp trại thật nhanh chóng.
Nỗi lo sợ khủng khiếp nhất của gia đình tôi đã thành hiện thực vì cha tôi còn kẹt lại ở một nơi nào đó giữa Sài Gòn. Nhưng, lúc bấy giờ tôi mới mười tuổi nên đâu có quan tâm đến mối tai họa đang xảy ra. Cơn nắng nhiệt đới ngày đó đã nung nấu chất mồ hôi mặn thẩm thấu vào da thịt tôi nên mãi sau này kỷ niệm của Việt Nam đã hằn sâu vào tâm não tôi.
Ngày hôm sau, gia đình tôi, may mắn nằm trong một số ít người thoát nạn, rời trại đi đến một cuộc đời mới trên đất nước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chiến tranh đâu đã tàn và máu vẫn còn chảy ở Việt Nam. Ngày đó, Hoa Kỳ đã phản bội chúng tôi (dù cho từ đó đến nay nhiều người đã phản bác), lần duy nhất mà Hoa Kỳ đã bỏ rơi một đồng minh trên chiến trường.
Sau khi vụ tai tiếng Watergate truất phế Tổng Thống Nixon, Tổng Thống Ford đành bó tay dù cho cuối cùng ông có cam kết sẽ hổ trợ Nam Việt Nam trong khi miền Bắc dốc toàn lực vào cuộc tiến chiếm Sài Gòn. Quốc Hội đồng loạt quyết nghị chống lại việc tái hổ trợ dù cho Bắc Việt vi phạm hiệp định ngừng bắn một cách trắng trợn và thô bạo. Ngoại trừ một ít người thuộc Bộ Ngoại Giao, giới quân sự Hoa Kỳ và cơ quan định cư dân tỵ nạn, người Mỹ đã chán ngán. Cuộc chiến đã kéo dài trên một thập kỷ, với 58.235 người Mỹ hy sinh và vô số thiệt hại về vật chất và tâm lý. Về phía Nam Việt Nam có lối 300.000 binh sĩ phải trả cái giá quá đắt. Còn nhân dân Việt Nam thì từ hai đến ba triệu người bị thiệt mạng.

Không phải Hoa Kỳ mà chính người Nam Việt Nam đã thua trận ở Việt Nam. Những người còn kẹt lại phải trả một cái giá nặng nề vì đã thua cuộc lại mất cả đất nước. Cuộc đời của họ hoàn toàn đảo lộn. Sau khi chiến thắng được một tháng, cộng sản khởi sự đưa hàng triệu người, gồm có viên chức chính phủ, nhà giáo và quân đội trước kia vào giam trong các trại “học tập cải tạo”, trong đó có cha tôi.
Ngoại trừ một ít ngoại lệ, những tù nhân này bị giam giữ mà không xét xử, không kết án mà cũng chẳng được ai bảo vệ để khỏi bị những tên cai tù hành hạ. Một tháng biến thành một năm rồi lên đến trên mười năm. Cha tôi bị giam mười hai năm. Những chuyên viên nhân quyền ước đoán khoảng 70.000 người bị hành quyết và hàng nghìn người chết vì lao động khổ cực, bệnh hoạn và thiếu dinh dưỡng trong khi thế giới bên ngoài nào có hay biết gì đến thân phận đau thương của họ.
Sau nhiều năm dưới quyền cai trị của cộng sản, hàng triệu người bắt đầu đào thoát, hầu hết bằng tàu bè. Theo Hội Hồng Thập Tự thì còn có 300.000 người chết ngoài biển cả. Ở nước Cam Bốt láng giềng trên hai triệu người chết trên những “cánh đồng Tử Thần” của Khờ Me Đỏ. Dù cho trong những năm sau chiến tranh người ta còn tiếp tục tìm kiếm người Mỹ bị cầm tù hay mất tích vậy mà phải nhiều năm sau Liên Hiệp Quốc mới chịu điều tra về tệ nạn của các trại học tập cải tạo.
Rồi đây ngày 30 tháng Sáu sẽ đưa người I Rắc về đâu " Suốt một năm qua, từ khi Baghdad được giải phóng đến nay, chiến thắng đã biến thành cảnh trạng bấp bênh bất định. Càng ngày càng dứt khoát là Tổng Thống Bush không thể để cho tình hình dây dưa nữa được. Người Mỹ đã nãn lòng, nhất là những người không tham gia chiến đấu. Nhưng Hoa Kỳ không nên phản bội người I Rắc như đã phản bội Việt Nam. Dù cho thế nào đi nữa thì chiến sĩ của chúng ta cũng phải hoàn thành nhiệm vụ của họ và chỉ rời I Rắc khi nào nước này có thể tự quản với một chính phủ ổn định. Bằng không thì hãy bắt đầu dựng lên trại tỵ nạn cho người I Rắc đã từng đứng về phía chúng ta, dù cho chỉ là một số ít.
Tôi vẫn còn nhớ chuyến bay đưa tôi vào đất Mỹ. Miền nhiệt đới của đảo Guam đã tạm thời cho chúng tôi mường tượng đến đất nước Việt Nam, nhưng chúng tôi cứ vẫn phải tiếp tục đi tới. Khi chiếc vận tải cơ lăn bánh trên phi đạo, tôi nhìn thấy hai hàng phi cơ phản lực màu xanh đậm đang đậu ngay hàng thẳng lối, không một bóng dáng phi hành đoàn mà cũng không có chất bom đạn. Đó là những chiếc B-52 mà người Nam Việt Nam nghĩ rằng sẽ bay sang một chuyến nữa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1969 ông Hồ qua đời, đúng vào Ngày Quốc khánh 2/9 nên lãnh đạo Hà Nội đã “cho ông sống thêm một ngày” vì thế trên các văn kiện của Đảng Lao động lúc bấy giờ, ông Hồ được xem như chính thức sinh ngày 19/5/1890, mất ngày 3/9/1969, hưởng thọ 79 tuổi.
LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao. Cùng thời điển, Nguyễn Phan Quế Mai, ngòi bút Việt nổi tiếng đã đăng trên FB (18/8): “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).” Những sự việc nối tiếp ấy đã dấy lên nhiều thư từ bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa của 19/8 và ngày 2/9 đối với cộng đồng tị nạn. Bài viết dưới đây của tg Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này.
Trong thời gian qua, dư luận chú ý nhiều đến cuộc đối đầu giữa Tòa Bạch Ốc và các đại học danh tiếng như Columbia hay Harvard. Tuy nhiên, cuộc tranh chấp này đã vô tình che lấp vấn đề sâu rộng và nghiêm trọng hơn: chính quyền Trump cùng nhiều tiểu bang đang tiến hành một chiến dịch nhắm vào hệ thống giáo dục công lập K-12
Có lẽ nếu lịch sử, nói chung, có bất kỳ một huyền thoại thuần khiết nào, thì sự vươn mình trỗi dậy của người Mỹ gốc Phi để bước ra khỏi địa ngục, chính là sự thuần khiết nhất. Bởi vì, huyền thoại của họ được viết từ chính nhận thức của lương tri và sức mạnh của trí tuệ. Huyền thoại của họ là ánh sáng phát ra từ bóng tối.
Trong thời đại của những dòng tin tức u ám và bầu không khí chính trị đầy bất an, hành động tập thể và tổ chức vận động ở cấp cơ sở vẫn lặng lẽ tỏa sáng như ánh lửa ấm giữa đêm dài, không chỉ giúp xua tan tuyệt vọng mà còn khơi lên hy vọng thay đổi và tiến bộ. Chính ánh lửa đó đã thôi thúc những người bất đồng với Tổng thống Donald Trump xuống đường. Các cuộc biểu tình trong suốt mùa xuân và mùa hè đã cho thấy sự phản đối mạnh mẽ (không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới) đối với nghị trình của chính quyền Trump, đặc biệt là các nỗ lực nhằm thâu tóm quyền lực và phá hoại các cơ quan và dịch vụ công trọng yếu. Hậu quả từ các chính sách ấy chủ yếu đè nặng lên các cộng đồng vốn đã chịu nhiều thiệt thòi: di dân, người nghèo, người da màu, phụ nữ và cộng đồng LGBTQIA+.
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.