Hôm nay,  

XUÂN TRONG THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN

17/02/201300:00:00(Xem: 3828)
nguyen-chi-thien
Nói về thơ Nguyễn Chí Thiện, thường người ta chỉ chú ý tới những ngôn từ khô khốc, lạnh lùng, đanh thép để hài tội cộng sản của ông. Điều này có thể hiểu được. Bởi vì ngay từ đầu thập niên 80, khi mấy trăm bài thơ được ông liều mình ném vào tòa đại sứ Anh ở Hànội và sau đó được phổ biến rộng rãi trong các cộng đồng VN tị nạn ở hải ngoại thì hầu hết mọi người khi nói tới thơ của ông không mấy ai không bị ám ảnh bởi những vần thơ chống cộng quyết liệt mà mấy bài “chửi” Hồ Chí Minh với danh xưng “thằng”, “nó” là điển hình. Trong bài viết cuối cùng đọc tuyển tập thơ văn của tôi được post lên Diễn Đàn Thế Kỷ và ĐCV Online khoảng một tháng trước ngày phải vào bệnh viên, chính ông đã thừa nhận: “…hầu hết thơ tôi được ghi lại trong cảnh tù đầy, mang nặng những đau thương, uất nghẹn của thân phận những con người đang phải sống dưới ách thống trị bạo tàn, cay nghiệt của tập đoàn cộng sản. Nó là những hiện thực trần trụi, đơn sơ, không có tu từ văn chương…”.

Cũng vì thế, ngoại trừ những ai có cơ duyên gần gũi tác giả Hoa Địa Ngục (HĐN), hoặc chịu khó nghiền ngẫm thơ ông, ít người biết hoặc chú ý tới khía cạnh tình cảm của nhà thơ họ Nguyễn. Và do đó đã có những ngộ nhận cho rằng ông là người khô khan, lạnh lùng, thậm chí vô cảm!

Thực tế có đúng như vậy không?

Nhân dịp Tết Tân Tỵ một lần nữa lại trở về với người Việt ly hương, chúng ta thử tìm vào những ngõ ngách riêng tư trong thơ Nguyễn Chí Thiện để coi ông đã sống, cảm và suy nghĩ ra sao trong những dịp Đông tàn, Xuân tới.

Tác giả HĐN qua đời ngày 02-10-2012, thọ 73 tuổi. Trừ đi 17 năm sống ở hải ngoại (1995 – 2012), nhà thơ họ Nguyễn có 56 năm sống trên quê hương. Và với 56 tuổi đời ấy, chế độ lao tù Hànội đã cướp đi của ông 27 năm trường, tức gần phân nửa. Đọc thi phẩm HĐN, chúng ta biết ông làm thơ từ năm 1958 với bài Mắt Em, lúc 19 tuổi. Như thế, hầu hết thơ ông được viết trong thời gian ở tù và khoảng ngót 10 năm tự do nửa vời giữa ba chặng bị giam giữ. Chi tiết này khá quan trọng. Nó giúp người đọc phát hiện một nét khác trong cõi thơ Nguyễn Chí Thiện: Hình bóng Mùa Xuân trong thơ ông.

(Tưởng cần mở dấu ngoặc ở đây để nhấn mạnh rằng: những vần thơ Xuân của nhà thơ họ Nguyễn tuy đầy ắp nỗi cảm hoài, cho người thưởng ngoạn nghe, nhận được đến tận cùng những rung động dạt dào toát ra từ đáy hồn thi sĩ, nhưng không phải vì thế mà làm giảm đi mục tiêu tối hậu mà ông muốn gửi vào thơ. Đó là mục tiêu chủ nghĩa Marx.)

Trong phần Những Ghi Chép Vụn Vặt, đoạn 68 trang 435 HĐN, tác giả ngậm ngùi vẽ ra những biến động lớn nơi tâm hồn ông trong mười năm, giữa tuổi 16 và tuổi 26. Ở tuổi trăng tròn, hồn thơ phơi phới, lòng người trai mới lớn rộn ràng chào đón những đóa hoa muôn sắc đua cười trong nắng. Nhưng khi bước vào Mùa Xuân thứ 26, sau ba năm rưỡi ở tù lần thứ nhất, trước mắt và trong hồn người thơ chỉ còn là cảnh tượng hoa tàn, nắng nhạt!

“Tuổi tôi, Xuân ấy, Xuân mười sáu,
Đời nắng vàng hoa mơ cưới thơ
Tuổi tôi, Xuân tới, Xuân hăm sáu,
Nhạt nắng, tàn hoa, thơ khóc mơ!”


Năm 1961, lần đầu Nguyễn Chí Thiện bị kết án hai năm tù vì trong một lần dạy giúp người bạn 2 giờ môn sử địa ông đã cải chính một chi tiết bóp méo lịch sử quan trọng trong sách giáo tế ông đã bị giam ba năm rưỡi, cho tới năm 1964 mới được thả. Như thế ông đã trải qua ba Mùa Xuân trong nhà tù cộng sản riêng trong đợt giam lần này. Sau đây là trích đoạn mấy bài thơ Xuân của tác giả HĐN sáng tác trong thời khoảng ấy. Tất cả nói lên tâm trạng ngậm ngùi, uất nghẹn của nhà thơ trước cảnh Xuân về trong ngục tù cộng sản.

“Ngày Xuân tới hồi sinh muôn vật,
Sao lòng ta khô héo chẳng tươi màu?
Ta nhớ khi xưa –Ôi thuở ban đầu!
Bao náo nức, bao niềm mơ, nỗi ước!


Đêm nay, Giao Thừa
Ngoài sân gió nổi
Lá bàng rơi, xơ xác cành khô…
Sương rắc bụi mờ
Ta ngồi viết mấy vần thơ
Giãi niềm oan khổ!”
(1961 – trang 81/82 HĐN)
“Xuân này chẳng khác những mùa Xuân
Chỉ thấy đôi chân nặng bước dần
Đường sống không còn xa lắm nữa
Nên mừng? nên tiếc? phân vân……”
(Xuân Này Chẳng Khác - 1961 trang 87/88 HĐN)


Theo nhịp chuyển đổi của tiết mùa, Xuân vẫn tới đúng kỳ, đúng hạn. Trong khi ấy, nhìn ra chung quanh non nước vẫn bao trùm một màu tang tóc, người thơ không khỏi đau đớn, xót xa.

“Khắp non sông vang nhịp đàn Xuân sáng,
Lòng nặng nề khôn mở đón Xuân sang.
Xuân ước mơ, mơ ước đóng băng rồi,
Thắm nở đào hoa, sắc lòng tím ngắt
Sáng biếc mây trời, tối sầm ánh mắt
Giữa đời buồn, Xuân vẫn tới Xuân ơi!

Xuân thắm tươi, Xuân của Đất, của Trời,
Xuân xám ngắt, Xuân của người, của nước!
(Khắp Non Sông - 1964 trang 119 HĐN)


Trong thời gian ở tù lần thứ hai, Nguyễn Chí Thiện đã trải qua cả chục cái Tết xa nhà, xa nơi chôn nhau cắt rốn, xa người thân thuộc, ngày ngày phải đối diện với cảnh sống đói rét, lầm than và những cực hình do bọn cai tù cộng sản giáng xuống.

Ngoài kia, mùa Xuân của Đất của Trời, của vạn vật cỏ hoa vẫn rực rỡ thắm tươi, nhưng mùa Xuân của Quê Hương Việt Nam, mùa Xuân của kiếp sống lao tù vẫn giấu mặt với những sắc màu ảm đạm, thê lương! Buồn cho vận nước ngửa nghiêng, nhìn vào cuộc đời vô vọng của chính mình cũng như của đồng bào mình, người thơ phẫn hận kêu lên.

“Nơi đây không có mùa Xuân,
Có chăng chỉ có tuổi Xuân chôn vùi.
Nơi đây cay đắng đủ mùi,
Sắn dăm ba khẩu, trộm vùi giấu lưng!
Thương Xuân không kẻ đón mừng,
Đành cam lạnh lẽo xó rừng đắng cay!
Xuân ơi trót đến chốn này,
Mời Xuân: khẩu sắn… cùng say với tù!…”


Dưới mắt và trong hồn người thơ không còn gì trớ trêu, mai mỉa hơn cảnh Xuân về mà lòng người hờ hững! Hờ hững, không đón mừng Xuân chỉ vì “tù nhân thi sĩ” quá nghèo lại mang thân tù tội, nên chỉ còn biết “Mời Xuân: khẩu sắn… cùng say với tù!”

Dù vậy, người thơ vẫn chưa nguôi niềm hy vọng.

“Ngày mai tan lớp mây mù
Đón xuân tù hứa sẽ bù cho Xuân”
(Nơi Đây - 1974 trang 229/230)


Đấy là hoạt cảnh thê lương của một mùa Xuân lơ láo trở về trên những kiếp sống tù đày nơi quê hương ta hôm nay. Là người đã ra tù vào khám trong suốt mấy chục năm trường, -từ những năm đầu thập niên 60 qua những năm dài của cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu, tới thời gian sau khi cộng sản chiếm được miền Nam-, hơn ai hết, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã cảm thông được trọn vẹn nỗi nhục nhằn, cay đắng của những tù nhân lương tâm trong bàn tay sắt của cộng sản. Họ đã phải kéo lê kiếp sống thú vật trong những nhà tù được dựng lên khắp nước nhất là tại những vùng núi rừng độc địa ở biên thùy Hoa Việt. Khẩu phần hàng ngày là miếng sắn củ khoai, những hạt bo bo khô cứng, trong khi phải lao động triền miên đầu tắt mặt tối… thì Xuân qua, Tết đến chỉ làm nổi bật thêm cái hoạt cảnh thê lương của kiếp sống đọa đày mà thôi.

Trong tình huống ấy, những mùa Xuân tươi thắm, rộn ràng năm cũ chỉ còn là vang bóng, là những giấc mơ không trọn trong lòng người thơ.

“Ôi làm sao sống lại
Những mùa xuân ngất ngây
Những mùa xuân không bao giờ còn thấy
Để ta tận hưởng cảnh xum vầy

Như những thâm tình ruột thịt
Không thể nào quên nổi, thiết tha!
Kìa, Mẹ Cha ta
Anh, chị, bạn bè

Tiếng pháo mừng xuân ngơ ngác
Xã hội đảo điên xơ xác
Rơm rác nở hoa

Bao mùa xuân thăm thẳm trôi qua…”
(Ngày Tết - 1984 trang 322/23/24/25 HĐN)


Hoa Địa Ngục

Hoa địa ngục tưới bằng xương máu thịt
Trộn mồ hôi chó ngựa, lệ ly tan
Hoa trưởng sinh trong tù bệnh, cơ hàn
Hương ẩm mốc, mầu nhở nham, xám xịt.


Tiếng Vọng Từ Đáy Vực

Trong muôn ngàn tiếng muốn tìm ra
Tiếng nào thiết tha
Tiếng nào trung thực
Hãy lắng nghe tiếng vọng từ đáy vực.


Không Có Chỗ

Không có chỗ trên con tàu quả đất
Tôi là người hành khách bơ vơ
Lỡ chuyến, lầm ga, mất cắp, bây giờ
Tôi ủ rũ trên sàn toa lạnh ngắt
Cái toa đen dành cho súc vật.
Bốn bức rào nứa
Cứa vào mùa Xuân
Một cách bất nhân!
Mùa Xuân máu ứa!
Nước mắt là mưa Xuân!
Máu người là nắng Xuân!
Rớt rãi là nhựa Xuân!
Mồi hôi là mồ Xuân!
(Ghi chép vụn. Các đoạn 47/48/49 trang 429/30 HĐN)


Thật không còn sự so sánh nào mỉa mai, cay đắng và thê thảm hơn. Mùa Xuân của trời mây, cỏ hoa, non nước vẫn bước những bước hồn nhiên, lơ láo trở về trong khi dưới mắt và trong hồn của người thơ tù ngục chỉ thấy toàn là nước mắt, rớt rãi, mồ hôi… và máu! những thứ đã trở thành mưa Xuân, nắng Xuân và nhựa Xuân dưới khung trời Xã Hội Chủ Nghĩa!

Những đợi chờ, những mơ ước cùng với thời gian mòn mỏi trôi qua trong khi vận nước vẫn chìm sâu trong đêm tối và đời sống con người, dù trong nhà tù hay giữa đời thường, vẫn chỉ là tổng hợp của những lầm than, đói rách, khổ đau!

“Và cứ thế, năm tàn Xuân tới,
Hè qua Thu, ủ rũ Đông về!
Tuổi Xuân trôi, đời vẫn tơi bời!
Trong đói khổ lao tù, thất thế!
(Ghi chép vụn. Đoạn 97 trang 441)

Có những mùa xuân chửa về đã hết
Tôi một mình tìm ngõ tối lang thang
Tiếng pháo từ nơi phố xá nhạt vàng
Nghe lạnh lẽo như vọng từ cõi chết!
(Chi chép vụn.. Đoạn 65 trang 434)

Tim vắng vẻ thường bộn bề u uất
Mỗi độ Xuân về trên mảnh đất đau thương
Nhớ cảnh, nhớ người, nhớ khói, nhớ hương
Nhớ không khí yêu thương, ngàn đời đã mất!
(Ghi chép vụn. Đoạn 209 trang 467-68)


Đấy là tiếng lòng của người thơ tù ngục Nguyễn Chí Thiện. Đấy cũng là những tiếng khóc đau thương tuyệt vọng của tuổi trẻ Việt Nam dưới triều đại cộng sản lên ngôi trong hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi chúng thôn tính được một nửa lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17 sau tháng 7 năm 1954. Biết bao thế hệ trẻ đã bị dồn vào ngõ cụt của cuộc đời. Trong tình huống đau thương, tuyệt vọng ấy, cảnh năm tàn Xuân tới chỉ càng làm cho họ thấy rõ hơn nỗi bất hạnh của mình mà thôi.

Hôm nay, tác giả HĐN đã thật sự ra đi. Ông đã thật sự rũ bỏ mọi khổ đau trần thế để đi về miền miên viễn. Nhưng những vần thơ Xuân của ông vẫn đang gợi lên trong tâm hồn đồng bào ông một nỗi cảm hoài da diết trong khi mừng Xuân ly hương thứ 37.

Trần Phong Vũ

Nhấn Vào Đây Để Tải Tập Tin PDF

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm hiểu văn hóa của một đất nước không thể không nghiên cứu đến những tác phẩm hội họa, Nguyễn Gia Trí là một trong những tên tuổi hàng đầu của hội họa Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1908 tại một làng quê nghèo bên sông Hồng, thuộc Tràng An, Thường Tín,
Chủ biên Xuân Việt Báo viết về một tác phẩm sơn mài của Nguyễn Gia Trí, nổi trôi cùng gia đình ông trong những biến động của đất nước....
Tác giả Lê Thị, người nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2012 vừa qua chính là Calvin Trần, nhà thiết kế thời trang gốc Việt nổi tiếng trong dòng chính. Những khán giả từng bật đài Bravo xem chương trình The Ultimate Collection ở mùa thứ Hai, điều hợp bởi nàng siêu mẫu Iman và nhà thiết kế thời trang danh tiếng Isaac Mizrahi, hẳn đều đã từng trải qua những giây phút rất "Calvinism".
Lần đầu tiên, chuyện Thi Sĩ và Nàng Thơ thành phim Đại học Havard xuất bản The Essential Tagore, 2011
Với trên dưới 200 tác phẩm đa dạng, đặc biệt nhào trộn những hiện thực, ảo giác, pha trộn chuyện kể dân gian với lịch sử xa xưa cũng như cận đại, nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn (Mo Van) đã giành được giải Nobel văn học 2012.
Được đề cử vào Giải Phim độc Lập về Tâm Linh dành cho thể loại phim ngoại quốc năm 2012 và là một trong chín cuốn phim đã lọt vào danh sách đề cử phim ngoại quốc ngắn của giải Oscar năm 2013, phim “War Witch” do đạo diễn Kim Nguyễn thực hiện có đề tài đặc biệt, nhức nhối.
Paula Jeanine là ca sĩ, nhạc sĩ và thi sĩ, giảng viên tại nhiều đại học danh tiếng. Năm 2009, Paula Jeanine được University of Oklahoma vinh danh sự đóng góp của bà trong lãnh vực múa.
Trong năm 2013 này, để ghi nhớ 50 năm biến cố 1963, vụ đảo chính giết Tổng thống Diệm, đưa tới việc cáo chung nền Cộng Hoà tại miền Nam, chúng ta có thể tìm đọc một cuốn sách mới vừa được phát hành đúng vào dịp năm mới Quý Tỵ 2013, cuốn Vietnam Labyrinth – Allies, Ennemies and Why the U.S. Lost the War (Việt Nam mê cung - Đồng minh, Kẻ thù và Tại sao Hoa Kỳ thất trận).
Nhìn lại năm con Rồng vừa qua, biến cố chính trị lớn nhất dĩ nhiên là Đại Thắng Mùa Thu lần thứ hai của TT Obama. Cuộc bầu cử đã chiếm trọn trang nhất của tất cả các báo suốt từ đầu năm đến cuối năm.
Có phải Bố đã nói với các con rằng các con của Bố tuyệt vời ra sao Rằng tiếng chân của các con từ xa bắt nhịp cho ngày của bố khởi hành rằng khi các con cười ánh mặt trời ùa vào sưởi ấm căn phòng?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.