Hôm nay,  

Trang Thơ

02/02/202311:09:00(Xem: 4364)
lunes et petites lunes tournez-Louis Soutter (1871-1942)
Lunes et petites lunes tournez -- Tranh Louis Soutter (1871-1942)


QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

đôi chút đầu năm

 

1.

khai bút

đầu năm khai

vỉa hè khai

cột đèn khai

chân tường khai

bờ kè khai

quán nhậu khai

nồng nàn / nồng nặc

câm lặng nín thở

bước nhanh hơn chạy.

 

2.

nàng ngắm đi ngắm lại

bước tới bước lui

vo tròn cảm nhận trong tay

nuốt chửng từng cơn xúc cảm

trầm ngâm trong cõi riêng

rồi gật gù phán như đinh đóng sọ:

 ̶ ̶ ̶  nếu không là tranh tĩnh vật

thì hẳn là tranh động vật

và biết đâu là tranh động cỡn.

 

3.

phần còn lại của hôm nay

chặt khúc chia ba xẻ bảy

mải miết ninh nhừ buổi xế chiều

chập chờn trong nỗi nhớ bất chợt

dàn trải bức tranh thủy mặc

trong nắng có mưa

trong mưa có nắng

trên quảng trường rối mù

xin ngài vô tận huệ bồ tát

chút trí tuệ vượt thoát cõi hoang mang. 

 

-- Quảng Tánh Trần Cầm

 

*

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

Đàn ông đểu lắm

 

Đàn ông các anh đểu lắm!

Hình nào của em cũng khen

Em đã biết mình không đẹp

Nên nghe rất xốn xang lòng.

 

Đàn ông các anh ác quá!

Khen em thì cũng được đi

Sao anh không khen cái tánh

Bao dung nhân hậu nhu mì.

Các anh đi khen nhan sắc

Em biết mình không ra chi

Không phải như mấy cô khác

Con người em rất tự ti.

Đàn ông các anh đểu lắm

Khen, bụm miệng cười hi hi

Đừng giở trò mồm mép ấy

Khen rồi nháy mắt nheo mi

Từ nay các anh khen đểu

Em thề sẽ chẳng thèm nghe

Ra đường gặp anh không ngó

Và tảng lờ bỏ số de

Khen mà trật lất anh ạ

Còn nặng hơn tiếng chửi thề!

(Một cô gái trên facebook

nhờ tôi nói hộ bằng thơ

tôi chỉ là người thông dịch

đừng nhầm, chửi tội cho thơ.)

 

You men are no gentlemen!

 

You men are no gentlemen!

Complimenting all photos of me

I know I’m not pretty

No wonder I’m upset.

You men are despicable!

I mind not your admiration

But praise my personality

The generosity, benevolence and meekness.

Your eulogy of beauty

A contrast to my looks

Unlike other women

I am self-deprecating.

You men are no gentlemen!

Your tributes hid behind the sardonic smiles

The blatant nerve

The accolades followed by the winks

Your taunting homage

Bothered by them I shall not

Nor greet you ever in the streets

Pass by you void of a thought of retreat

The unfounded flattery

Swearing is so much less pathetic than that!

(A woman on Facebook

asked me to expressed her thoughts in poetry

I’m nothing but the messenger

pity the poetry please don’t curse me.)

 

 Sự hấp dẫn của đàn bà

 

Sự hấp dẫn của đàn bà trước tiên là nhan sắc

chứ không phải đức hạnh

Sự hấp dẫn tiếp theo của đàn bà là tài hoa

chứ không phải riêng nhan sắc

Sự hấp dẫn làm nên chất của đàn bà là đức hạnh

chứ không phải chỉ nhan sắc và tài hoa

 

Nhưng cái hấp dẫn nhất của đàn bà

không phải cả ba điều trên mà là sự rung động

bí ẩn của đối tượng trước người đàn bà đó

 

 Điều ấy có đúng với thơ không?

 

The allure of a woman

 

The allure of a woman first off is beauty

not virtue

The following allure of a woman is talent

not just beauty

Virtue is the substance within the allure of a woman

not mere talent and beauty

But the most alluring aspect of a woman isn’t

these three aspects

but their bewildering ability to incite the subject in front of them

Is this not applicable to poetry?

 

Thư mừng sanh nhựt tôi

 

Không biết làm thế nào

các nàng tình cũ xúm lại được với nhau

viết cho tôi lá thư mừng sanh nhựt

những chữ ký quá quen thuộc nối đuôi chen chúc nhau

như dòng người xếp hàng trước tiệm hoa ngày tình nhân rất là đẹp mắt

mỗi chữ hiện ra những động tác, một khuôn mặt, các dáng người

Tôi đếm đi đếm lại hoài dù biết tỏng mười mươi

phân vân vẫn còn thiếu một

Cái người không chúc viễn liên

bằng thư, thơ hay là hoa hoét

chỉ cặm cụi nấu một bữa ăn chờ tôi khen ngon

Chắc lúc này các nàng đang ôm nhau cười giòn

đáng kiếp đáng đời cái anh chàng máu gái

 

Người không chúc nhìn cái bì thư cười mãi

các cô đùa thôi đừng giận nha anh!

họ còn chúc nghĩa là chưa quên được mùi tình

anh vẫn là người hạnh phúc.

em vẫn là người hạnh phúc.

 

My birthday card

 

How did all my lovers

managed to get together

just for my birthday card

the crowding familiar signatures bound in a line

like the lovely rows of people waiting to buy flowers on Valentine’s Day

each word the air of a movement, a face, someone’s curves

I counted them over and over again the hands full of them

bewildered by the one not there

The one person without a happy wish

by card, poetry or flowers

busy making a meal, waiting for my approval

My lovers, they are probably laughing now

good riddance to that womanizer

the one with no wishes looked at the card with a permanent smile

They are just having a bit of fun, don’t be sad!

within it the lingering affection the card sent there you are blessed dear.

I am blessed.

 

-- Nguyễn Hàn Chung
(Người dịch: Nguyễn Thị Phương Trâm)

 

*

 

VĨNH NGỘ

 

Qua phố lạ

 

Về ngang phố lạ chiều nay

Nắng thu vàng võ cuối ngày chưa phai

Đường xa một nỗi u hòai

Hợp tan, tan hợp còn dài u mê.

 

Buồn qua phố lạ trưa hè

Che từng vạt nắng khô se mặt người

Ở đây lạc lõng điệu cười

Bước người hấp tấp, phận đời long đong.

 

Ghé qua phố lạ chiều đông

Mù sương chắn lối, mưa giông ngăn đường

Lòng trần còn nặng tư hương

Mới qua chưa hết nửa đường phù vân.

 

Chiều qua phố lạ mùa xuân

Xô dài bóng nắng phân vân bên đường

Quê một phương, người một phương

Vàng phai mấy độ nắng sương quê người.

 

-- Vĩnh Ngộ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.