Hôm nay,  

Hè xưa với nhạc sĩ Thanh Sơn

26/05/202210:09:00(Xem: 5137)

Tạp bút

NHẠC SĨ THANH SƠN
Nhạc sĩ Thanh Sơn (trước và sau này).


 

Nhạc sĩ Thanh Sơn, người được giới âm nhạc ở Việt Nam sau này thường gọi ông là “Ông Hoàng của nhạc quê hương”, nhất là với những ca khúc mang âm hưởng của miền Tây sông nước, đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long Nam bộ, như “Hành trình trên đất phù sa”, “Hình bóng quê nhà”, “Hương tóc mạ non”, “Bạc Liêu hoài cổ” “Áo mới Cà Mau”, v.v... Song có lẽ những người lớn tuổi, ở lứa tuổi trên 60 trở lên vẫn nhớ về ông, với những ca khúc đặc sắc về mùa hè, với hoa phượng, mang tâm trạng hoài niệm của tuổi học trò một thời mãi nhớ, bằng những ca từ da diết, nhưng mộc mạc gần gũi, thấm đẫm lòng người như: “ Ba tháng tạ từ”, “Màu áo hoa phượng”, “Lưu bút ngày xanh”, “Hạ buồn”... Đặc biệt là bài hát “Nỗi buồn hoa phượng”. Ca khúc lần đầu tiên được ca sĩ Thanh Tuyền, khi ấy mới hơn 17 tuổi trình bày, được giới sinh viên học sinh lúc bấy giờ rất ưa thích, thuộc lòng cả bài hát, khắc sâu trong tâm trí người nghe, với những hè xưa, rực màu hoa phượng thắm.


nhạc phẩm NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG 

Bài hát lần đầu xuất hiện vào năm 1963, mang tên hai tác giả: Thanh Sơn và Lê Dinh, sau này được nhạc sĩ Thanh Sơn tâm sự, do lúc đó ông chưa có tiếng tăm gì, nên ông đã đem đến để nhờ nhạc sĩ Lê Dinh – khi đó là Chủ sự phòng sản xuất của Đài Phát thanh Sài Gòn – xem qua và góp ý, nên để tôn trọng, ông đã ghi tên nhạc sĩ Lê Dinh là đồng tác giả.

 

Nhạc sĩ Thanh Sơn tên thật Lê Văn Thiện (ông còn có một bút danh khác là Sơn Thảo), ông sinh ngày 1 tháng 5 năm 1938 tại Sóc Trăng, là con thứ mười trong một gia đình có 12 anh chị em. Ông lớn lên với một lòng ưa thích ca hát. Ông học nhạc từ hồi tiểu học với thầy Võ Đức Phấn (em ruột nhạc sĩ Võ Đức Thu). Năm 1955, thầy Phấn mất, ông lên Sài Gòn học nhạc với thầy Lê Thương và nuôi ước mơ trở thành ca sĩ. Tại thành phố này để kiếm tiền sinh sống và nuôi ước mơ ca hát của mình, ông đã làm nhiều công việc như làm thuê, ở mướn.

Đến năm 1959, ông đăng ký tham dự cuộc tuyển lựa ca sĩ của Đài phát thanh Sài Gòn, và đoạt giải nhất, vượt qua những thí sinh cùng dự thi lúc đó mà sau này trở thành những ca sĩ tên tuổi như Phương Dung, Chế Linh, Nhật Thiên Lan. Ban giám khảo cuộc thi cũng là những tên tuổi và có uy tín trong làng nhạc miền Nam như: Dương Thiệu Tước, Võ Đức Thu, Thẩm Oánh, Nghiêm Phú Phi. Sau khi đoạt giải ông được mời đi hát trong ban Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng. Tuy đã trở thành ca sĩ, nhưng ông tiếp tục mày mò học sáng tác nhạc với cuốn “Để sáng tác một ca khúc” của Hoàng Thi Thơ. Những người giúp đỡ ông sáng tác trong giai đoạn này có nhạc sĩ Hoàng Trọng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng. Ông chính thức chuyển hướng từ ca sĩ sang nhạc sĩ sáng tác, với tâm sự: “Được trút hết tâm sự của mình thành lời ca tiếng nhạc mà không phải thể hiện tâm sự của người khác”. Ông mất ngày 04 tháng 4 năm 2012 tại Sài Gòn, vì tuổi già sức yếu. Mộ phần tọa lạc ở nghĩa trang Hoa Viên, tỉnh Bình Dương.

 

Ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” là ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Thanh Sơn, sau ca khúc “Tình học sinh” ra đời năm 1962, song bị... chìm lỉm, chẳng một ai chú ý? Năm 1983, trả lời phỏng vấn của chương trình Paris By Night, nhạc sĩ Thanh Sơn kể về sự ra đời của ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng”, sau 20 năm ra đời, đã được hàng triệu người kể cả miền Bắc sau này ưa thích. Đó là vào năm 1953, ông học chung lớp với người bạn nữ tên là Nguyễn Thị Hoa Phượng, hè năm ấy, người bạn gái cùng gia đình chuyển về Sài Gòn, ông có hỏi cô bạn: “Nếu nhớ nhau mình sẽ làm sao?”, cô bạn mỉm cười trả lời đại ý là “Cứ mỗi năm đến hè, nhớ đến nhau, anh cứ nhìn hoa phượng nở cho đỡ nhớ bởi tên em là Hoa Phượng”. Và đó cũng là “đề tài” mà ông ấp ủ để 10 năm sau, khi đó cô bạn gái ngày xưa chắc đã... vu qui rồi? Hoài niệm và viết nên ca khúc. Bài hát được viết theo điệu Habanera, mở đầu với câu “ Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn...”, mà mùa hè, luôn gắn liền với tuổi học trò, nhiều mơ lắm mộng, và cả những mối tình học trò đầu đời “Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”, cho nên, người nhạc sĩ luôn nhớ “ Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương” và “Màu hoa phượng thắm như máu con tim, mỗi lần hè sang kỷ niệm, người xưa biết đâu mà tìm?” Vâng, “người xưa” đã là dĩ vãng, còn chăng là những hoài niệm không quên của một thuở học trò.

 

Ngày xưa đi học, và cả thời đại 4.0 bây giờ, những cô cậu học trò cuối cấp, mỗi dịp hè đến, nhìn hoa phượng nở và buồn vu vơ, rụt rè trao nhau những quyển tập xinh xắn, dễ thương, thường được gọi là “Lưu bút”, để ghi vào đó những kỷ niệm của những ngày cùng chung đèn sách và cả những “thầm yêu trộm nhớ”, vu vơ, lãng mạn của lứa tuổi mới lớn, học trò. Nhạc sĩ Thanh Sơn lại có thêm ca khúc “Lưu bút ngày xanh” qua tiếng hát Phương Dung, Hoàng Oanh, đã “hớp hồn” bao thế hệ học trò với những hoài niệm da diết một thời: “Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi nhắc lại câu chuyện buồn. Trường còn kia ôi mái đổ tường rêu nơi kỷ niệm êm ái...” Đó là những kỷ niệm “dìu nhau đến sân trường, cùng đuổi bướm hái hoa cuối đường”, mà chắc chắn tuổi học trò, ai cũng có lần gặp phải. Bao nhiêu là kỷ niệm cứ ùa về, tạo thành “Biết bao nhiêu buồn vui gói trọn theo tuổi đời” rồi “Tình đẹp như trang giấy, kết vần thơ như nụ hoa trắng” rất tuyệt vời trong trí tưởng tượng của lứa tuổi học trò thời ngây thơ trong trắng. Và khi đã rời xa, xa lắm, nhắc lại để thấy “Khiến lòng tôi buồn buồn...” Cái buồn buồn, chắc rằng ai cũng có, và chỉ có nhạc sĩ Thanh Sơn, mới là người phát hiện ra một nét tinh tế và rất đẹp của lứa tuổi mộng mơ trong mỗi dịp hoa phượng nở, hè về để ông viết tiếp ca khúc “Màu áo hoa phượng” cho những hè xưa đã trở thành kỷ niệm: “Tiếng ve nức nở hè đến đây rồi...” và “Áo em tím ẩn một nét u buồn” mà “Bây giờ em bên tôi. Ngày mai thành cố nhân rồi!” Đã có bao “cố nhân”, mỗi khi nghe tiếng ve kêu vang, nhìn hoa phượng thắm mà bồi hồi những nỗi niềm riêng, khó diễn tả bằng lời, chỉ biết nhờ âm điệu của bài hát, nguôi ngoai nỗi lòng xưa, trở thành tri âm, tri kỷ với dòng nhạc hè trác tuyệt của nhạc sĩ Thanh Sơn?

 

Danh hiệu “Ông Hoàng” về nhạc hè, hoa phượng, học trò, có lẽ không có nhạc sĩ nào trong giới nhạc sĩ Việt Nam hiện nay có thể sánh cùng ông về những đề tài đầy chất hoài niệm cho rất nhiều thế hệ học trò này.

 

Trần Hoàng Vy

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.