Hôm nay,  

Một Đêm Mơ… Về Bống!

1/1/202221:21:00(View: 4449)

Tùy bút

ca-bong-trung-kho-tieu

 

1.

 

Có lẽ trong những câu đố dân gian Việt Nam, câu đố này là dễ trả lời nhất? “Con gì cô Tấm quí yêu/ Cơm vàng, cơm bạc, sớm chiều cho ăn?”Và trong những sản vật có ở sông, biển quê nhà, thì những loài thủy sản có trong câu ca dao sau là ngon nhất? “Ầu ơ! Ví dù cá bống đánh đu/ Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu!” Thêm một câu ca dao nữa để khẳng định mức độ “quen thuộc”, dân dã mà cũng rất ngon của loài cá là câu trả lời của câu đố trên: “Ta về ta lấy cần câu/ Câu con cá bống nấu canh tập tàng”. (Chính xác có lẽ là “nấu rau tập tàng” vừa vần với câu lục ở trên, vừa cụ thể loại “rau tập tàng”, nhưng có lẽ ca dao muốn mọi người dễ hiểu nên mới có cụm từ “canh tập tàng”, mà cũng nên hiểu “rau tập tàng”là đủ thứ loại rau có ở quanh nhà, vườn quê như rau sam, mồng tơi, dền, bồ ngót… “Con tập tàng thì khôn, rau tập tàng thì ngon” là vì thế!) Lan man, vòng vo một chút, tôi trở lại cái con cá… trong mơ là con cá bống.

 

2.

 

Quê tôi có con sông Trà Khúc, hồi ấy tôm cá còn nhiều lắm, nhất là con cá bống, một trong những đặc sản của Quảng Ngãi mà người xa quê đã đặt câu ca dao là: “Anh đi, anh nhớ quê nhà/ Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu”. Cá bống kho tiêu, mới nhắc thôi đã nghe ruột gan cồn cào. Cái nhớ cái thèm đã trào dâng, nghe râm ran cả vị giác! Khứu giác và cả… thị giác?


Vì sao ư, vì cái màu vàng ươm như mật, ngả sang cái màu nâu hổ phách của con cá bống kho rim, quéo lại cùng với gia vị, tạo nên cái màu bắt mắt, hấp dẫn… mũi, hít hà vì cay thơm, ngọt béo, tan dần trên lưỡi, trong miệng, với chén cơm gạo trắng thơm ngon, bốc khói vào một ngày mưa phùn lạnh lẽo của miền Trung mới cảm hết cái hương vị độc đáo, đặc sắc của quê nhà, càng thương ghê lắm bàn tay mẹ, tay chị tảo tần, chịu thương chịu khó, tuyệt vời trong nghệ thuật ẩm thực, bình dân, mà nhớ mãi chẳng quên. Cá bống Quảng Ngãi có thể đúng bài, đúng điệu, phải là cá bống cát với cái tên chữ là “Trà giang sa ngư”, các loại khác thịt không ngon bằng, thêm chút cầu kỳ trong chế biến như nước mắm phải là loại ngon của Kỳ Tân, đường phải dùng loại đường trắng An Thới và tỏi Lý Sơn mới trở thành một đặc sản không ở nơi nào có được. Với công nghệ chế biến thực phẩm hiện đại như hiện nay, cá bống kho tiêu của xứ Quảng cũng đã được “công nghiệp hóa”, cho vào keo, hũ xuất bán vào tận Sài Gòn, có khi người xa quê, thèm miếng ăn quê nhà cũng bớt nhớ nhung cái vị “chẳng ở đâu giống” này.

 

3.

 

Các con tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam lại thèm và mê mệt con cá bống trứng, đặc sản của vùng sông nước Chín Rồng, khi mà lượng mưa ở phương Nam bắt đầu nhiều hơn, nước từ nguồn đổ về con nước ngầu đỏ phù sa mà người dân quen gọi là “con nước son”, tầm vào cuối tháng Sáu đầu tháng Bảy âm lịch. Theo con nước phù sa là những giề lục bình dập dềnh trôi nổi, trên là mây trời biếc xanh, dưới những cụm rễ là vô số những con cá bống trứng chỉ nhỉnh hơn ngón tay út một chút mà chất đầy bụng trứng. Những con cá bống trứng này đánh bắt và kho bằng mẻ đất với các gia vị mắm, muối, hành, tiêu, ớt thì cực kỳ bắt mắt và … dẫn cơm, ăn đến no cứng bụng vẫn còn thòm thèm cái vị ngọt, béo của thịt cá, của trứng cá quả đúng như dân gian thường nói là “ngậm mà nghe”tất cả mọi hương vị của vùng Châu thổ Cửu Long vốn luôn hào sảng bởi chim trời cá nước. Người sành ăn, hoặc vào các nhà hàng đặc sản, mẻ kho cá bống trứng bao giờ cũng được chăm chút bằng nước thắng đường Caramel để cá có chất màu đẹp, bóng và hấp dẫn. Muốn cá tăng thêm vị ngọt, ngon, thơm, người ta thêm vào ít thịt ba rọi thái mỏng, bỏ ớt siêm rừng, hành lá, tiêu, ăn với nồi “cơm niêu” là sẽ nhớ mãi. Những Việt kiều xa quê, lâu ngày trở về quê cha đất tổ, được đãi một bữa cơm với món đặc sản cá bống trứng kho tiêu thú vị gấp trăm lần những cao lương mỹ vị Tây, Tàu khác.

 

4.

 

Có nhiều loại cá bống khác nhau, tùy thuộc vào sông, suối, biển. Vùng nước ngọt, nước mặn, nước lợ… như cá bống mú, bống cát, bống sao, bống đá, bống dừa, bống mít, bống lon mây, bống kèo, bống thòi lòi…Trong đó, bình dân, rẻ tiền có lẽ là cá bống kèo, loại… tệ nhất là bống thòi lòi, thứ cá chuyên sống ở nơi có nhiều sình lầy, thịt nhão và tanh, ít người câu bắt! Do môi trường nước ngày nay đang dần bị ô nhiễm, nhiều loại cá bống đặc sản có nguy cơ biến mất và tuyệt chủng. Con cá bống… thượng hạng của quê nhà có khi đã ghi tên vào… sách đỏ. Nhiều đêm tôi nằm ngủ và bỗng mơ về phía…bống! “Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta/ Đừng ăn cơm hm, cháo hoa nhà người…”

 

Trần Hoàng Vy

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.