Chính quyền Trump hiện đang liên tục mở rộng việc sử dụng các công cụ giám sát, thường dưới danh nghĩa chống gian lận, ngăn chặn tội phạm, phát hiện di dân không có giấy tờ. Nhưng những công cụ đó, từ việc truy cập dữ liệu DMV, nhận dạng khuôn mặt, khám xét điện thoại di động, thỏa thuận chia sẻ dữ liệu… hiện đang vượt xa những gì mà chính quyền mô tả là “thực thi luật nhập cư.”
Mạng lưới kiểm soát kỹ thuật số này đặt mọi công dân Hoa Kỳ dưới sự giám sát chưa từng có. Bằng cách thu thập và liên kết chéo thông tin cá nhân, người dân có nguy cơ bị chính quyền theo dõi vì mục tiêu chính trị, đánh cắp danh tính và dữ liệu cá nhân. Bắt đầu với cái cớ giám sát di dân bất hợp pháp, nhưng tương lai có thể là tất cả mọi người. Trong một buổi họp báo trên mạng do American Community Media tổ chức vào đầu tháng 9, các chuyên gia đã bàn thảo về những nguy cơ mà người dân Hoa Kỳ đang phải đối mặt.
Vào tháng 5, một thẩm phán liên bang từ chối một lệnh cấm tạm thời nhằm ngăn chặn việc chia sẻ dữ liệu cá nhân giữa IRS, Bộ Nội An (DHS), và Cơ Quan Thực Thi Di Trú Và Hải Quan (ICE). Điều này đã bật đèn xanh cho IRS lần đầu tiên chính thức cung cấp thông tin người nộp thuế cho ICE chỉ với một biên bản ghi nhớ. Ngay sau khi vụ chia sẻ thông tin này diễn ra vào tháng 4, Ủy viên IRS Melanie Krouse (do Trump bổ nhiệm) đã từ chức để phản đối.
Nicole Alvarez, nhà phân tích cấp cao về chính sách công nghệ tại Center For American Progress, phát biểu rằng những hành động như vậy của chính quyền không chỉ vi phạm quyền riêng tư mà còn làm xói mòn niềm tin vào các thể chế công. Khi người dân chia sẻ thông tin cá nhân với một cơ quan chính phủ, họ tin rằng theo luật định thông tin sẽ chỉ được sử dụng cho một mục đích cụ thể. Bà cảnh báo việc chính phủ tập trung dữ liệu cá nhân sẽ hình thành một "tháp canh kỹ thuật số”. Hệ thống giám sát khổng lồ này không chỉ đe dọa các cộng đồng di dân, mà có thể là tất cả công dân Hoa Kỳ.
Kể từ khi tổng thống Trump ban hành sắc lệnh hành pháp ngày 20 tháng 3 nhằm xóa bỏ các kho dữ liệu thông tin riêng lẻ, tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, một số vụ kiện đã được đưa lên tòa án. Những người phản đối cáo buộc một cơ sở dữ liệu liên bang thống nhất như vậy sẽ vi phạm Đạo Luật Quyền Riêng Tư năm 1974. Luật này ngăn chận các cơ quan liên bang chia sẻ lý dữ liệu cá nhân; qui định dữ liệu thu thập chỉ được dùng theo mục đích của từng cơ quan, nhờ vậy bảo đảm không một bộ phận chính phủ nào có thể truy cập tất cả hồ sơ của một cá nhân cùng một lúc.
Khi người dân biết chính phủ sử dụng thông tin cá nhân của mình một cách kém minh bạch, họ sẽ tìm cách từ chối cung cấp thông tin. Họ có thể trốn thuế. Họ có thể bỏ qua việc chăm sóc y tế cần thiết cho bản thân hoặc con cái. Và khi người dân không còn tin vào hệ thống công quyền, hệ thống sẽ trở nên yếu kém, bất công và kém dân chủ hơn.
Bà Alvarez lo ngại giám sát di dân chỉ là cái cớ. Lịch sử cho thấy các công cụ giám sát được tạo ra hiếm khi giữ nguyên trạng thái ban đầu. Một khi các hệ thống giám sát được khai triển, phạm vi giám sát sẽ dần mở rộng. Cuối cùng tất cả mọi người dân đều có thể trở thành đối tượng giám sát.
Một báo cáo của Trung Tâm Georgetown vào năm 2022 về công nghệ và quyền riêng tư cho thấy ICE đã sử dụng giám sát kỹ thuật số để theo dõi cuộc sống của nhiều người dân Hoa Kỳ. Một báo cáo vào năm 2024 sau nghiên cứu này lần đầu phân tích chuyên sâu về việc DHS mở rộng chương trình lấy mẫu DNA từ hàng nghìn người mỗi ngày để phục vụ công tác cảnh sát và truy tố hình sự, đồng thời bổ sung các mẫu này vào cơ sở dữ liệu pháp y của cảnh sát liên bang. Emerald Tse, cộng sự viên tại Trung tâm Georgetown, cho biết cơ quan thực thi pháp luật có thể tìm kiếm hồ sơ trong cơ sở dữ liệu này để xác định những người đã phạm tội trong quá khứ. Tuy nhiên, chính phủ liên bang cũng thu thập DNA từ di dân như thể họ có thể phạm tội trong tương lai.
Từ năm 2008 đến năm 2021, chi tiêu cho công nghệ giám sát của ICE đã tăng từ 71 triệu đô la lên 388 triệu đô la mỗi năm. Tổng cộng ICE đã chi 2.8 tỷ trong 14 năm qua. Trong bài phát biểu tại cuộc Triển Lãm An Ninh Biên Giới thường niên vào tháng 4, Bộ trưởng DHS Kristi Noem kêu gọi tăng cường hợp tác trao đổi dữ liệu của chính phủ với các công ty công nghệ tư nhân, đặc biệt là để giám sát hoạt động trên mạng xã hội của người nhập cư.
Vào năm 2017, dưới nhiệm kỳ đầu của tổng thống Trump, tổ chức Electronic Frontier Foundation (EFF) và Liên Minh Tự Do Dân Sự Hoa Kỳ đã đại diện cho 11 du khách — bao gồm 10 công dân Hoa Kỳ và một thường trú nhân hợp pháp — đệ đơn kiện ICE và CBP (Cơ Quan Hải Quan Và Bảo Vệ Biên Giới), vì họ bị khám xét thiết bị điện tử cá nhân tại biên giới mà không có trác lệnh. Trong lời khai, các nhân viên ICE và CBP thừa nhận rằng họ khám xét thiết bị của một du khách không đang bị điều tra hoặc bị tình nghi, mà vì nghĩ rằng du khách có thể có thông tin giá trị về một người khác đang bị theo dõi.
Năm 2019, cũng dưới thời chính quyền Trump, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bắt đầu yêu cầu gần như tất cả người xin visa — cả di dân và không di dân — phải cung cấp tất cả tên sử dụng trên mạng xã hội trong năm năm trước đó. Vào Tháng 3 năm 2025, Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS) đề nghị mở rộng phạm vi giám sát mạng xã hội không chỉ với người xin visa, mà còn với những người xin tị nạn và người xin nhập tịch.
Rõ ràng chính quyền hiện đang tăng phạm vi giám sát người dân của mình. Họ nhắm mục tiêu và bắt giữ nhiều người bất kể tình trạng nhập cư. Họ sử dụng các công cụ giám sát để đàn áp quyền tự do ngôn luận, trừng phạt những người bất đồng chính kiến. Những điều trước đây chỉ xảy ra ở những quốc gia độc tài toàn trị nay bắt đầu được xác lập bởi chính quyền Mỹ, quốc gia đứng đầu khối dân chủ tự do của thế giới. (VB)
Ảnh: American Community Media
Gửi ý kiến của bạn



