Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Quan Hệ Mỹ - Trung - Việt Sau Hội Nghị APEC 14

25/11/200600:00:00(Xem: 9095)

Quan Hệ Mỹ - Trung - Việt Sau Hội Nghị APEC 14

Tổng Thống Bush và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đến Việt Nam tham dự Hội Nghị APEC, nhưng cả hai đã có những sắp xếp khác, không liên hệ gì đến nội dung bàn thảo của 21 nguyên thủ trong Hội Nghị APEC lần thứ 14 này. Chính vì lý do đó mà người ta thấy là các cơ quan truyền thông của Hà Nội đã loan tải các cuộc đón tiếp và gặp gỡ giữa lãnh đạo Cộng sản Việt Nam với Tổng Thống Bush và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nhiều hơn so với 18 vị nguyên thủ còn lại đã đến Hà Nội từ ngày 17 đến 19 tháng 11 vừa qua. Tại sao"

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào viếng thăm Hà Nội một cách chính thức từ ngày 15 đến 17 tháng 11. Nhưng trước khi họ Đào đến Hà Nội, Đường Gia Triền, Bộ trưởng ngoại giao đã đến Hà Nội trước, từ ngày 11 tháng 11, để thuyết phục lãnh đạo Cộng sản Việt Nam chấp thuận sự đề nghị của Hồ Cẩm Đào, thành lập Ủy ban chỉ đạo quan hệ song phương. Việc thành lập Ủy ban này đã được Bắc Kinh trao bản dự thảo cho Cộng sản Việt Nam hồi tháng 10 với dự kiến là hai phía sẽ cùng ký nghị định thành lập nhân chuyến viếng thăm của Hồ Cẩm Đào. Mục tiêu của Ủy ban chỉ đạo này là để điều hướng sự hợp tác của hai phía trên các quan hệ chiến lược. Do sự thúc đẩy của Hồ Cẩm Đào, Cộng sản Việt Nam đã phải đồng ký nghị định thành lập ủy ban với Trung Quốc vào ngày 16 tháng 11, cử Phạm Gia Khiêm, phó thủ tướng làm Chủ tịch Ủy ban về phía Việt Nam trong khi Đường Gia Triền, làm chủ tịch phía Trung Quốc. Sở dĩ Hồ Cẩm Đào đẩy Cộng sản Việt Nam phải chấp nhận việc thành lập Ủy ban chỉ đạo ngay vào thời điểm tháng 11 này vì muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ rằng Hà Nội vẫn còn trong vòng ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Trong cuộc gặp gỡ với Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết, Hồ Cẩm Đào còn đưa ra bốn đề nghị cho phía Cộng sản Việt Nam suy nghĩ để xúc tiến trong thời gian tới. Bốn đề nghị gồm: 1/Tăng cường hợp tác kinh tế, thuơng mại giữa hai nước; 2/Áp dụng biện pháp mở rộng quy mô thương mại, cải thiện cơ cấu, nâng cao trình độ thương mại và cân đối thương mại hai chiều lên 15 tỷ Mỹ Kim vào năm 2010; 3/Tăng cường hợp tác về một số dự án lớn, trong đó năm dự án ký ngày 16 tháng 11 với tổng trị giá hơn 3,6 tỷ Mỹ Kim; 4/Tăng cường hợp tác kinh tế đa phương, trong đó Trung Quốc sẵn sàng chia sẽ với Cộng sản Việt Nam kinh nghiệm đối phó những thách thức khi gia nhập WTO. Những đề nghị của Hồ Cẩm Đào nói trên và việc thiết lập Ủy ban Chỉ đạo song phương giữa hai chính phủ cho thấy là lãnh đạo Bắc Kinh không muốn buông Việt Nam cho Hoa Kỳ mà cố gắng lôi kéo Cộng sản Việt Nam ngã về phía Trung Quốc trên cả hai lãnh vực kinh tế và quan hệ chiến lược. Những nội dung hợp tác được đưa ra từ Hồ Cẩm Đào cho thấy là Bắc Kinh đã theo dõi rất kỹ các trao đổi giữa Hà Nội với Hoa Thịnh Đốn và không muốn Hà Nội tiếp cận quá gần với Mỹ.

Trong khi đó, trước khi đến viếng thăm Việt Nam từ ngày 17 đến 19 tháng 11, Tổng Thống Bush đã cử Ngoại Trưởng Rise đến Việt Nam cùng lúc Hồ Cẩm Đào đặt chân đến Hà Nội và để cho Cố vấn an ninh quốc gia Stephen Hadley trực tiếp sắp xếp nội dung trao đổi giữa Tổng Thống Bush và Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh thay vì giao cho bà Rise. Sự kiện này cho thấy là bộ tham mưu của Tổng thống Bush đã có những tính toán hai mặt. Một mặt thì trước khi bà Rise lên đường sang Việt Nam, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố bỏ tên Cộng sản Việt Nam ra khỏi danh sách những quốc gia đáng quan tâm (CPC), cũng như thúc đẩy Hạ viện thông qua quy chế PNTR, để đáp lại sự thỏa thuận của Hà Nội trong việc chấp nhận ba yêu sách mà phía Hoa Kỳ đã đưa ra. Đó là:

1/Cộng sản Việt Nam chấp thuận cho Hoa Kỳ giám sát nguồn nhiên liệu của nhà máy hạt nhân tại Đà Lạt để tránh một Bắc Triều Tiên thứ hai tại Đông Nam Á;

2/Tham gia vào hiệp định hợp tác nhằm chận đứng việc phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt;

3/Chấp thuận cho các toán thiện nguyện hòa bình (Peace Corps) của Hoa Kỳ được hoạt động tại Việt Nam. Những điều kiện này rất là bình thường trong quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ với nhiều quốc gia nhưng lại trở thành vấn đề nhạy cảm và nhiều lần Hà Nội lên tiếng từ chối với lý cớ 'tình hình chưa thuận lợi'.

Khi gặp trực tiếp lãnh đạo Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội, Tổng thống Bush đã đề cập về nhu cầu tăng cường hợp tác giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn trong việc giải quyết các mối quan tâm khu vực và toàn cầu. Phía Hoa Kỳ đã đưa ra điều kiện: sẵn sàng viện trợ cho mọi phát triển của Việt Nam đồng thời thúc đẩy đầu tư trọn gói về kinh tế; ngược lại, Cộng sản Việt Nam phải chấp thuận trở thành một đối tác chiến lược với Hoa Kỳ mà cụ thể là sẽ đáp ứng hai yêu cầu: Thứ nhất là tăng cường hợp tác quân sự với Hoa Kỳ trên lãnh vực hải quân và bộ binh. Thứ hai là đồng ý để cho Hoa Kỳ thuê lại một hải cảng dùng làm hậu cần cho các tàu chiến của Mỹ ghé vào tu sửa hay mua tiếp liệu khi di chuyển trên vùng Biển Đông để tiếp tế cho chiến trường Trung Đông. Theo nhiều tin tức tổng hợp thì Hoa Kỳ đang thương lượng với Hà Nội để thuê một hải cảng nằm về phía Bắc cảng Cam Ranh, thuộc miền Trung Việt Nam; nhưng Cộng sản Việt Nam đang do dự vì sợ Trung Quốc phật lòng. Thật ra thì việc cho thuê một hải cảng để cho quân đội ngoại quốc sử dụng làm 'hậu cần' không phải là điều cấm kỵ đối với một quốc gia có chủ quyền và độc lập; nhưng đối với hoàn cảnh của Cộng sản Việt Nam hiện nay, quả là vấn đề khá tế nhị, khi đàn anh phương Bắc cũng đang muốn thuê hải cảng Cam Ranh.

Những nỗ lực của Tổng Thống Bush và Chủ tịch Hà Cẩm Đào nói trên cho thấy là cả hai chính quyền Hoa Kỳ và Trung Quốc đều muốn thúc đẩy nhanh chóng mối quan hệ chiến lược với những toan tính lôi kéo Cộng sản Việt Nam đi vào trong vòng ảnh hưởng của mỗi phía. Nói cách khác, những hợp tác thương mại hay những viện trợ kinh tế cho Việt Nam, được đưa ra từ miệng của ông Hồ Cẩm Đào hay từ Tổng Thống Bush đều giống nhau ở chỗ là nhắm vào việc thúc đẩy hợp tác quân sự để mở rộng thế đối tác an ninh chiến lược trong vùng. Cả hai đã coi vấn đề hợp tác kinh tế với Cộng sản Việt Nam như là 'cây gậy và củ cà rốt', nhằm thúc đẩy sự hợp tác của Cộng sản Việt Nam cho những mục tiêu riêng của Hoa Thịnh Đốn hay Bắc Kinh tại vùng Đông Nam Á. Hiểu rõ vấn đề này, ta thấy là tình hình chính trị tại Việt Nam trong thời gian tới sẽ rất phức tạp. Các lực lượng đấu tranh không cộng sản sẽ không chỉ đối đầu với đảng Cộng sản Việt Nam để giành lại tự do dân chủ cho Việt Nam mà còn phải đối phó trước các toan tính của Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh trong việc sử dụng Hà Nội cho những nhu cầu chiến lược riêng tư. Những toan tính này chắc chắn sẽ đi ngược lại những khát vọng của dân tộc Việt Nam mà chúng ta không thể im lặng.

Tóm lại, quan hệ giữa Cộng sản Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc sau APEC 14 sẽ rất phức tạp vì sự cạnh tranh tạo ảnh hưởng của Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn lên những bước đi chập chững của Hà Nội trong WTO. Với bản chất tham lam, luôn luôn dựa vào thế lực bên ngoài để 'ổn định tình hình nội bộ' người ta thấy ngay là Cộng sản Việt Nam sẽ rất vất vả đối phó nhiều áp lực, đặc biệt là những áp lực bất mãn của dân chúng ngày một rõ nét hơn trong thời gian tới.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
TÓM TẮT Thị trường hữu hiệu vì tổng hợp mọi quyết định trong xã hội để đạt đến mức giá chung phù hợp nhất với các dữ kiện đang có (efficient market theory.) Ngược lại nếu giá cả do nhà nước đơn phương quyết định sẽ sai lệch. Giá cả trong thị trường, giống như bãi đấu thầu, không phải lúc nào cũng hợp lý do mỗi người dự đoán giá sẽ còn tăng hay giảm. Tâm lý hùa theo đám đông và tên khờ cuối cùng (Last Fool Theory) rất tai hại trong Kinh Tế Hành Vi (Behavioral Economics) Kinh Tế Phức Tạp (Complexity Economics) tìm hiểu những tác động từ bên ngoài như đại dịch, chiến tranh, phát minh…lên nền kinh tế.
Trước những nghi ngại “Hoa Kỳ có còn là đồng minh đáng tin cậy hay không?” thì chúng ta có thể khẳng định rằng Mỹ hay bất kỳ quốc gia nào trong khối tự do đều vẫn là những người bạn đồng hành tốt trong hành trình đi tìm tự do và canh tân đất nước, miễn là chúng ta không quên những bài học đã nêu để phát huy tiềm năng của chính mình, bảo vệ quyền lợi quốc gia, và đạt tới mục tiêu tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc.
Bằng chứng: ”Sự bùng phát mạnh của làn sóng Covid-19 lần thứ tư cùng với các đợt giãn cách liên tiếp khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là các địa phương phía Nam. Theo Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 8/2021 là 85,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2020.
Mặc dù rõ ràng là Hoa Kỳ có thể điều hành công việc ra khỏi Afghanistan tốt đẹp hơn, nhưng thảm kịch xảy ra vào tháng này đã kéo dài trong 20 năm. Ngay từ đầu, Mỹ và các đồng minh đã chấp nhận - và không bao giờ xem lại - một chiến lược xây dựng nhà nước từ trên xuống dưới luôn được xem là thất bại như do định mệnh đã an bài. Hoa Kỳ đã xâm chiếm Afghanistan 20 năm trước với hy vọng tái thiết đất nước, nay đã trở thành một tai họa cho thế giới và chính người dân của họ. Trước đợt tăng quân năm 2009, Tướng Stanley McChrystal giải thích, mục tiêu là “chính phủ Afghanistan kiểm soát toàn vẹn lãnh thổ để hỗ trợ ổn định khu vực và ngăn chặn việc sử dụng này cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế.“ Hiện nay, với việc thiệt mạng hơn 100.000 và thất thoát khoảng 2 nghìn tỷ đô la, tất cả nước Mỹ phải thể hiện cho nỗ lực của mình là cảnh của một cuộc tranh giành tuyệt vọng để chạy ra khỏi đất nước trong tháng này - một sự sụp đổ nhục nhã gợi nhớ đến sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Điều sai lầ
Gặp gỡ và nói chuyện nhiều với những người thông dịch viên Afghanistan, tôi mới hiểu thêm rất nhiều về dân tộc họ và biết rằng chính phủ Afghanistan là một chính phủ tham nhũng lan tràn từ cấp thấp cho đến cấp cao, mức độ nào họ cũng có thể ăn hối lộ được, chỉ có người dân thấp cổ bé miệng là khổ. Người Mỹ biết rất rõ nhưng vẫn không làm gì hết. Bản thân chúng tôi khi ra vào đất nước này, cũng phải đóng cho những nhân viên hải quan đủ thứ tiền, mà phải bằng tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 đồng mới tinh, cũ hoặc dính 1 vết mực, họ không nhận và không chịu ký giấy và đóng mộc. Nói để thấy rằng chúng ta, người Mỹ, hy sinh tiền bạc, xương máu cho họ, thật không đáng chút nào. Rút ra khỏi đất nước này là đúng và là một việc phải làm ngay.
Cứ tới cuối tuần, dân Tây réo nhau xuống đường biểu tình chống chương trình chích ngừa dịch vũ hán và, tiếp theo, chống biện pháp kiểm soát có chích hay không bằng «thông hành y tế» (pass-sanitaire), tờ giấy có dấu hiệu đã chích ngừa của Cơ quan Bảo hiểm sức khỏe cấp qua Cơ quan tổ chức chích hoặc y sĩ gia đình hay dược sĩ.
Đầu năm 70, bạn đồng minh Huê kỳ quyết định bỏ rơi VNCH, không thực hiện cam kết rút quân, Việt-nam hóa chiến tranh, mặc nhiên giao Miền nam cho Hà nội. Ngày 30/04/75, quân Bắt Việt tiến vào Sài gòn, ngỡ ngàng. Dân chúng hoảng loạn bỏ chạy. Nhưng 14 năm sau thất bại nhục nhã ở Việt nam, bức tường Bá-linh bổng sụp đổ, kéo theo cộng sản Liên xô xuống hố, giúp Huê kỳ kết thúc cuộc chiến tranh lạnh làm kẻ chiến thắng.
Người Mỹ nói “Nothing is certain but tax and death” (Không ai tránh khỏi thuế và chết). Thuế mang ý nghĩa đặc biệt vì lịch sử nước Mỹ được thành hình từ ngày dân chúng thuộc địa nổi loạn chống nhà nước bảo hộ Anh Hoàng với khẩu hiệu bất hủ “Taxation without representation is tyranny” (Bị đánh thuế mà không được có đại biểu là bạo quyền.) Cho nên mỗi kỳ bầu cử đều tranh luận gay gắt về thuế má – nhưng không chỉ là cải cọ vô bổ vì khi thành luật sẽ theo đó móc từ túi tiền của mỗi người dân nhiều hay ít.
Đảng cộng sản VN cũng “khởi nghiệp” với những tuyên ngôn và khẩu hiệu nghe (tử tế) tương tự. Họ hô hào chống lại áp bức, bất công, kỳ thị … Nhờ vậy, họ vận động được quần chúng - kể cả những thành phần thiểu số, “ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng” - nổi dậy “giành lấy chính quyền về tay nhân dân.” Chả phải vô cớ mà Cách Mạng Tháng Tám vẫn được mệnh danh là “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Chỉ có điều đáng phàn nàn là sau khi “những người tay không” nắm được quyền bính trong tay thì họ (tức khắc) hành xử như một đám côn đồ, đối với tất cả mọi thành phần dân tộc
Người lính Mỹ, trong nhân dáng hiên ngang, với những bước chân chắc nịch, đôi mắt nhìn thẳng và kỹ thuật tác chiến tuyệt vời. Nhưng người lính Mỹ cũng có trái tim biết rung động, biết nhớ thương, biết đau khổ như bạn và tôi. Xin đừng “thần thánh hóa” hoặc đòi hỏi những điều mà người lính Mỹ không thể thực hiện được; vì người lính Mỹ còn phải chu toàn bổ phận đối với người hôn phối, gia đình và người thân. Xin hãy nghĩ đến những trái tim tan vỡ trong mỗi gia đình, khi một người lính Mỹ gục ngã!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.