Hôm nay,  

GÁNH NẶNG DI DÂN HAY GÁNH NỢ TÔI MANG?

21/05/201910:21:00(Xem: 7279)
(Một vài cảm nghĩ về các đề nghị cải tổ di trú ở HK hiện nay: Thấy người, lại nhớ đến ta)!
                                          
Có thể nói rằng suốt hơn 40 năm qua, ngoại trừ một số vị đã sống ở ngoại quốc trước tháng Tư, 1975, còn thì hầu hết người Việt tỵ nạn chúng ta đều đã hơn một lần phải mang ơn một sắc dân, một đất nước, hay một chủng tộc khác. Nói riêng, chỉ nội gia đình tôi thôi, thì ông bố đã vượt biển đến Hồng Kông, được họ giúp đỡ năm bẩy tháng rồi sau đó qua định cư tại Bỉ quốc. Ít lâu sau, hai cậu em trai của tôi đang lênh đênh chờ chết ngoài đại dương thì được tầu chở dầu của Kuwait cứu vớt, họ cũng nuôi cho sống tạm vài tháng, rồi chuyển qua trại tỵ nạn ở Hy Lạp, trước khi được tôi bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Thấy các anh vượt thoát thành công, hai cô em gái cũng bắt chước “vượt biên”, nhưng bằng đường bộ, cuối cùng bị nhóm tổ chức người “đồng hương” lừa đảo, bỏ rơi giữa đường, lạc lõng trong những khu rừng già thăm thẳm. Nhưng cũng may, nhờ vào lòng từ tâm của những người nông dân Cam Bốt tốt bụng, họ đã không những che chở cho hai cô em tôi cùng mấy người bạn tránh bị bọn Khmer Đỏ tra tấn, bóc lột, hãm hiếp, mà còn hướng dẫn cả đoàn đến được trại tỵ nạn đường bộ Nong Chan ở Thái Lan một cách an toàn. Và dĩ nhiên tại đây, các em tôi cùng những người Việt tỵ nạn, không ít thì nhiều đã dang tay nhận sự cứu giúp của dân chúng và chính quyền Thái Lan, họ đã cho thức ăn, quần áo và quan trọng hơn cả là niềm hy vọng để...sống!
Tôi mới chỉ đơn cử có 3 trường hợp của gia đình mình thôi mà xem như đã mang ơn đến hơn 7 chủng tôc, hay 7 quốc gia khác nhau. Đấy là chưa kể đến mấy người em khác đã đến Indonesia, Mã Lai v..v.. sau đó, đặc biệt là mấy đứa em tinh thần thuộc nhóm “người Việt còn lại” bị kẹt ở Phi Luật Tân gần 25 năm, và nếu không được những người dân làng Palawan nghèo khổ ở thị trấn Puerto Princesa mở rộng vòng tay cưu mang và giúp đỡ thì có lẽ bây giờ nhiều đồng bào của chúng ta đã chết trong vùng kinh tế mới khi bị đất nước này cưỡng bức hồi hương theo lệnh Liên Hiệp Quốc!
Inline image
Đồng bào tỵ nạn VN tại trại cấm Hong Kong 

Thậm chí ngay cả khi chương trình ODP được thành lập để giúp người tỵ nạn VN ra đi một cách “có trật tự” trong đó có mẹ tôi và cậu em trai lớn, thay vì phải liều chết vượt biển. ODP hay Orderly Departure Program còn bao gồm các chương trình phụ (sub-programs) như Re-Education Detainee, mà chúng ta thường gọi là ”HO”, McCain Children (con trên 21 tuổi của quý vị tù nhân cải tạo), HR (Humanitarian Resettlement) hoặc Amerasian (diện định cư những người Con Lai Việt Mỹ) v..v... Tất cả đều phải đi qua các trại chuyển tiếp và ở đó một thời gian để làm thủ tục định cư hoặc hướng dẫn về đời sống mới như Phanat Nikhom (Thái Lan), hoặc Bataan (Phi Luật Tân) v..v...
Trong lúc đó người Việt tỵ nạn được những quốc gia tự do như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Hòa Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ v..v.. nhận cho định cư, hầu hết các tổ chức cộng đồng chỉ vừa mới thành lập nên hoạt động còn rất yếu ớt, thế nhưng lòng yêu nước, thương đồng bào thì vô cùng mạnh mẽ. Nhiều cuộc vận động để yểm trợ phong trào kháng chiến, để tranh đấu cho quyền tỵ nạn của các thuyền nhân, cũng như để chống cưỡng bức hồi hương đã nổi lên ở khắp mọi nơi.
Riêng tại Hoa Kỳ, tôi còn nhớ lúc đó cộng đồng chúng ta mới có một vị “dân cử” duy nhất là ông Tony Lâm, nhưng chỉ là nghị viên của một địa phương nhỏ, vì thế mỗi khi đi vận động hành lang tại quốc hội liên bang chúng ta đều phải nhờ vào lòng từ tâm của quý vị dân biểu hoặc nghị sĩ chính nguồn. Ngoài các ông Chris Smith, Howard Berman, bà Zoe Lofgren cùng hai vị dân biểu ở quận Cam mà cộng đồng chúng ta hay gõ cửa là ông Ed Royce và Dana Rohrabacher hoặc bà Thượng Nghị Sĩ Dianne Feinstein, thì còn 4 vị dân biểu gốc Mễ Tây Cơ, nhưng rất sốt sắng đó là bà Grace Napolitano đơn vị 32, ông Xavier Becerra đơn vị 34, bà Linda Sanchez đơn vị 38, và bà Loretta Sanchez thuộc đơn vị 46.
Về phía hội đoàn, mặc dù lúc đó người Việt chúng ta có mặt trong tổ chức Southeast Asia Resource Action Center (SEARAC) mà giáo sư Lê Xuân Khoa làm chủ tịch, nhưng vẫn không có các thành viên nào là dân cử liên bang, vì thế các cơ quan thiện nguyện phải nhờ vào sự tiếp tay của các tổ chức di dân khác. Và có lẽ ngoài các hội cộng đồng VN, thì sự hỗ trợ mạnh mẽ và thành công nhất mà chúng ta nhận được trong các cuộc vận động cho việc định cư thuyền nhân, chương trình “HO”, McCain, HR , hoặc chống cưỡng bức hồi hương v..v.., là nhờ vào sự giúp đỡ của ba tổ chức: APALC tức Asian Pacific American Legal Center, CHIRLA (The Coalition for Humane Immigrant Rights of Los Angeles), cùng NALEO viết tắt của chữ National Association of Latino Elected Officials. Hai cơ quan sau này thuộc cộng đồng người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ, nhưng hoạt động rất hăng hái và ảnh hưởng mạnh mẽ tại lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ, đặc biệt vì họ có nhiều thành viên là dân biểu và nghị sĩ liên bang, nên đã thay chúng ta đối đầu cũng như tranh luận trong các cuộc bỏ phiếu hàng năm cho ngân quỹ cùng tỷ lệ người tỵ nạn VN được nhận vào định cư ở nước Mỹ.
Kể ra như vậy thì ít nhiều gì đồng bào tỵ nạn mình cũng mang ơn cộng đồng Latino một phần nào, và chắc chắn những người đã sẵn lòng giúp đỡ thì sẽ chẳng bao giờ họ chờ mong để nhận lại một điều gì ngoài những lời chúc ơn lành của Thượng Đế! Ấy thế mà tôi cũng được chứng kiến tấm lòng nhớ ơn và trọng nghĩa của bao nhiêu người Việt tỵ nạn. Rất nhiều gia đình được người Mỹ bảo lãnh, nay đời sống đã ổn định, con cái thành công, họ trở lại tìm những người bảo trợ năm xưa để đền ơn, đáp nghĩa. Nhóm “người Việt còn lại” bị thế giới lãng quên ở Phi Luật Tân ngày nào, sau khi được Hoa Kỳ, Canada và Na Uy định cư chừng vài năm họ đã quyên góp để xây trường học cho những dân làng đã từng cưu mang họ. Kỷ niệm 40 năm viễn xứ, cá nhân tôi được hân hạnh tham dự buổi gây quỹ “Thank You Australia” do cộng đồng người Việt tại Mebourne, Úc Châu tổ chức và họ đã trao một chi phiếu hơn nửa triệu Úc Kim cho bệnh viện nhi đồng Royal Children Hospital tại địa phương này. Và dĩ nhiên còn nhiều sinh họat tương tự và ý nghĩa như vậy diễn ra ở khắp mọi nơi.
Tôi còn nhờ mình đã gần khóc khi đọc câu kết luận qua bài báo mà ký giả George Will viết về chị Dương Nguyệt Ánh trên tuần báo Newsweek năm 2007. Ông nói “Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một xu, lại còn thêm cả tiền lời....”! Đọc xong bài báo đó tôi chợt nghĩ đến mình, đến bố tôi, và các em tôi. Chị Dương Nguyệt Ánh cùng gia đình được nước Mỹ nhận định cư ngay sau tháng Tư 1975, cũng như Thiểu Tướng Lương Xuân Việt, hoặc ông cựu phụ tá Bộ Trưởng Tư Pháp Đinh Việt, tác giả bộ luật Patriot Act. Họ đã may mắn có cơ hội đóng góp, phục vụ và gián tiếp “trả ơn” cho xứ sở này. Thế còn tôi, làm sao để có thể “đền ơn” cho tất cả những đất nước, những chủng tộc, những sắc dân đã rộng tay giúp đỡ bố tôi, các em tôi, đồng bào tôi, hay chính bản thân tôi! Dù còn sống thì bố tôi làm được gì để trả nợ Hồng Kông hay nước Bỉ? Làm sao để hai cậu em tôi trả ơn cho những người thủy thủ Kuwait đã cứu mình thoát chết? Làm sao mà mấy cô em tôi gặp lại được những người dân Cam Bốt tử tế năm xưa? Có lẽ sẽ chẳng bao giờ gia đình tôi có thể trả nổi một phần nhỏ nào của những món nợ đó chứ đừng nói đến “tiền lời”!  
Inline image
LS Đinh Việt, phụ tá Tổng Trưởng Tư Pháp HK

Có lần ngồi tâm sự với mẹ tôi khi bà còn sinh tiền, cụ bảo: “đừng nghĩ xa xôi, hãy cứu giúp những người cùng hoàn cảnh, nhưng bất hạnh hơn mình, tức là con đã gián tiếp ‘trả ơn’ cho những người đã giúp con ngày trước”!
Tôi chợt nghĩ, ừ nhỉ, mình còn có đến hơn một ngàn đồng bào ty nạn đang vất vưởng ở Thái Lan! Rồi tôi thầm nhủ, sẽ cố gắng để trả nợ và không quên lời mẹ dặn.
Xin cám ơn quý vị đã đọc và giúp phổ biến bài viết này,  cám ơn những chia sẻ cùng tấm lòng nhân ái của quý vị, quý anh chị và các bạn.
Nam Lộc  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.