Hôm nay,  

Tới Ngày 19/5, Nhìn Lại: HCM Làm Công An Aên Lương Của Nông Hội Và Quốc Tế CS

18/05/201900:00:00(Xem: 4832)
Nguyễn Thị Cỏ May

 

Khi nói «19/5 là ngày sanh của Hồ Chí Minh» là tự thừa nhận một sự dối trá có chủ ý của chính ông ấy. Ngày sanh dối trá, ngày cách mạng tháng 8 dối trá, ngày độc lập 2/9 cũng dối trá vì tất cả đều chỉ nhằm gạt mọi người cho mục đích phục vụ cộng sản và tham vọng cá nhơn của Hồ.

Nhiều giấy mực đổ ra để viết về con người đó, về tiểu sử, nhưng những bóng đen dày đặc, những mâu thuẩn, vẩn còn phủ kín quá khứ.  Hồ Chí Minh có thói quen thâm căn cố đế che dấu sự thật về đời tư và những sanh hoạt của mình.  Về tên gọi, bí danh, bút danh, …Hồ Chí Minh có tới 174 danh xưng khác nhau vừa được cán bộ đảng suu tầm được.  Vẫn còn hơn 30 tên nữa cũng của ông nhưng chưa xác nhận được những tên này được dùng váo lúc nào, trong trường hợp nào (Báo điện tử đảng cộng sản).  Người có nhiều tên nhứt thế giới, tới nay chắc chưa có ai bằng.  Một hiện tượng thật không bình thường nhưng chưa thấy cán bộ đảng viên cộng sản có ai thắc mắc và đặt thành vấn đề? Hay họ cho phải như vậy mới phù hợp với bác vì bác là con người vĩ đại mà?

Cũng vì mục đích che dấu sự thật về mình, Hồ Chí Minh thường viết về chính ông hoặc về những hoạt động của ông bằng ngôi thứ ba.

Còn năm sanh của ông cũng vô cùng phức tạp, tuy tất cả đều do chính tay ông viết khi khai: như các năm 1892, 1894, 1895 và riêng năm 1890 xuất hiện và trở thành ngày sanh chánh thức từ ngày D’Argenlieu đổ bộ lên Hà nội theo thỏa hiệp án do chính ông ký ngày 6/3/1946 với chánh phủ pháp.

Nay nhìn lại con người Hồ Chí Minh, quả thật không thấy có cái gì là thiệt.  Sự dối gạt, sự bịa đặt, tất cả đều do nghề nghiệp và vì nghề nghiệp.  Mà cũng do bản chất của con người gian ác nữa.

Đúng vậy, Hồ Chí Minh bắt đầu sự nghiệp cộng sản bằng con đường «chỉ điểm» hay công an ăn lương.  Hồ Chí Minh chưa bao giờ là một lãnh tụ, cả lãnh tụ cộng sản tuy trước sau, ông vẫn là một người cộng sản, sống chết vì cộng sản.

Ferdinand Hồ Chí Minh

Tuy Hồ Chí Minh có hơn 200 tên khác nhau nhưng trong danh sách đó lại không có tên Ferdinand.  Một điều lạ.  Do ban lịch sử đảng và tiểu sử lãnh tụ không có được thông tin này? Hay do dấu nhẹm đi vì nếu khai tên Ferdinand, thì phải khai luôn đó là bí danh của Hồ Chí Minh lúc làm chỉ điểm cho Sít-ta-lin có ăn lương?

Tiếng «chỉ điểm» - một thứ công an không có thể - trong tiếng việt không tránh khỏi hàm nghĩa xấu, chỉ việc làm không rỏ ràng, không ngay thẳng của kẻ thiếu lương thiện.  Tiếng pháp lả «mouchard» rỏ nghĩa hơn.  Gốc của từ ngữ là «mouche» nghĩa là ruồi nhặng và «ard» là tiếp vĩ ngữ có nghĩa xấu, dùng để chửi rủa, khi dể.  «Chỉ điểm» hay «mouchard» là người ngửi được mùi gì, đánh hơi được gì, là đem đi báo cáo.  Như ruồi nhặng đánh hơi được «mùi lạ» là bu lại.  «Chỉ điểm» luôn luôn làm việc cho công an.

Hồ Chí Minh Ferdinand bắt đầu sự nghiệp bằng nghề «chỉ điểm» hay «mouchard».

Nên nhớ nghề «chỉ điểm / mouchard» có rất sớm ở Âu châu, từ thời Trung cổ.  Darius trẻ, vua xứ Perse, là người đầu tiên rải chỉ điểm ra khắp xã hội để nhờ chúng mà biết chuyện gì xảy ra.  Denys bạo chúa noi gương Darius cũng sử dụng chỉ điểm để lấy tin tức mà biết được tình hình bên ngoài thành.

Từ Hội nghị Tours

Thật ra tên Ferdinand không gắn liền với tên Hồ Chí Minh mà gắn liền với tên Nguyễn Ái Quốc vì lúc đó chưa có tên Hồ Chí Minh.  Nhưng người pháp khi nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc hoặc về Nguyễn Ái Quốc, họ thấy khó phát âm cho đúng nên họ đặt thêm cho ông một tên khác, dựa theo xuất xứ của ông: «Ferdinand l’annamite» (annamite là người việt nam ngày nay vì lúc đó còn gọi là người an-nam. Người việt ở Pháp bị gọi là «mít», á–rặp là «rệp»).

Cũng từ sau Hội nghị Tours, ở Paris, xuất hiện thêm một tên nữa «Le Petit Rouquin Rouge»(Thằng bé tóc đỏ), tên thiệt là Jean Crémet.   Hai người này là một cặp được Dmitri Manuilsky, cán bộ Đệ Tam Quốc tế, chọn, đặt dưới trướng và sửa soạn gởi qua Moscou.  Cũng như Hồ Chí Minh, Jean Crémet có nhiều tên, bí danh khác nhau nhưng không thể bằng Hồ được (Thibault hay Samuel Herssens, …).  Điều lạ là trong các thông tin của Quốc tế cộng sản, người ta chỉ thấy tên Jean Crémet mà lại không có tên Ferdinand cho tới khi Hồ xuất hiện ở Moscou.

Dmitri Manuilsky gởi Ferdinand qua Moscou để được huấn luyện về chánh trị và tình báo.  Ferdinand được chọn vì tại Hội nghị Tours, ông đã dõng dạc tuyên bố theo đề cương Lê-nin trong việc giải phóng các nước nông nghiệp thoát khỏi thực dân.  Ông còn nhấn mạnh chỉ có cộng sản là con đường duy nhứt dẩn đến thành công.  Ferdinand còn tỏ ra khôn ngoan, không hề phê bình hay góp ý kiến cho đường lối của Quốc tế cộng sản, cũng không nói nhiều, lúc nào cũng giử thái độ chấp hành (Roget Faligot, Fayard, Paris, trg 90, 228).

Ferdinand tới Petrograd vào cuối tháng 6/1923 và tham dự Đại hội Nông hội (Krestintern), do Komintern thành lập.  Nghĩa là Ferdinand, tức Hồ Chí Minh, không hề có tham dự Đại hội Quốc tế cộng sản V như Hà nội nói nhằm mục đích tuyên truyền đánh bóng lãnh tụ.

Thêm một điều đáng để ý nữa là Ferdinand và Le Rouquin rouge cùng có mặt ở Moscou, cùng ở chung tại khách sạn Lux, cùng thời điểm mà hai người không gặp nhau.  Le Rouquin rouge lại vào Trung ương Quốc tế còn Ferdinand thì không được.  Vì thiếu thành tích làm cộng sản, mới chỉ có mê say cộng sản và ngoan ngoản trong mọi ứng xử.

Hồ Chí Minh làm cộng sản ăn lương

Trong thời gian từ tháng 2/1925 tới tháng 3/1926, Ferdinand đi Quảng châu làm Đại diện cho Nông hội (Krestintern) có ăn lương.  Theo Sophie Quin-Judge, tháng 8/1925, ông nhận được  5000 roubles (bằng 2500 usd) tiền lương và cả công tác phí như in nhiều bích chương, sách bỏ tùi nói về nông dân, gởi thêm nhiều đại diện đi các tỉnh khác ở Trung quốc, gởi báo cáo định kỳ và thường xuyên về tình hình nông dân trung quốc về Moscou.

Tháng 2/1930, từ Hồng kông, Jean Crémet chuyển lệnh của Moscou cho Ferdinand dạy hảy kết hợp 3 tổ chức cộng sản ở Đông dương thành một đảng thống nhứt.  Đó là đảng cộng sản đông dương.  Ferdinand làm xong nhiệm vụ làm cho Le Rouquin rouge vô cùng hài lòng khi gặp lại Ferdinand tại đây.

Vẫn theo Bà Sophie Quin-Judge, Ferdinand l’annamite, tức Hồ Chí Minh sau này, đã nhận tiền của Krestintern và Komintern, vừa tiền lương và tiền công tác theo lệnh của Moscou.

Trong thời gian từ tháng 12/1927 tới tháng 5/1928, Ferdinand ở tại Berlin chờ đợi tiền và lệnh của Komintern cử đi công tác ở Á châu.  Ông khai chỉ nhận được của Hội Cúu trợ Đỏ có 18 marks (tiền Đức) / tuần, không thể đủ để sống mà không thiếu nợ.  Sốt ruột, Ferdinand bèn viết thư cho Krestintern yêu cầu gởi cho ông 500 usd và lệnh công tác.

Qua ngày 12/4/1928, Ferdinand viết thư cho Humbert-Droz, Ban Bí thư Quốc tế cộng sản, nói rỏ hoàn cảnh túng quẩn của ông: «Đồng chí có nghĩ được không tinh thần và vật chất hiện tại của tôi, chẳng có việc gì làm, cũng không có tiền, trong khi đó có biết bao nhiêu việc phải làm mà phải sống ngày qua ngày, bị bắt buộc không hoạt động».

Ngày 28/4/1928, Humbert-Droz trả lời thư của Ferdinand: «Khoảng tiền mà chúng tôi sẽ gởi cho đồng chí trong nay mai sẽ tùy thuộc các thông tin từ đồng chí.  Nhưng tôi nghĩ đồng chí nên tập sống với mọi hoàn cảnh và tốt hơn là tìm cách tự lực mà không cần đến viê(c nhận tài trợ từ bất kỳ nguồn nào» (Sophie Quin-Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years, Berkeley, California, 2002).

Việt nam ngày nay bị một thứ chế độ công an cai trị thì không có gì lạ vì cai chế độ này do Ferdinand Hồ Chí Minh tổ chức theo kinh nghiệm công tác của ông bắt đầu bằng nghề chỉ điểm và được bồi dưởng thêm ở trường công an ở Moscou.

Công an biết rỏ sứ mạng của họ là cực kỳ quan trọng «Công an còn, chế độ còn».

Mai này, Việt nam có lệ thuộc Tàu hoàn toàn thì công an vẫn còn !

 

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.