Hôm nay,  

Tưởng nhớ Võ sư Phùng Mạnh Tâm

9/17/201815:11:00(View: 8779)
blank

http://vovinamworldfederation.com

 

220-2018-CTI/FR-15-09-2018

 

Tưởng nhớ Võ sư Phùng Mạnh Tâm

blank

Võ sư Phûng Mạnh Tâm đã từ giã cõi đời vào lúc 20g27 ngày 15/09/2018, tại California, Hoa kỳ.

Để lại biết bao thương tiếc, nghẹn ngào của những người ở lại !

Vs Phùng Mạnh Tâm sinh ngày 05/11/1951 tại Việt Nam, nhập môn trong những năm 1961/1962, tại võ đường "Thánh Thomas" cùng thời với cố võ sư Trần Huy Quyền (1945-2001). Ông di cư qua Hoa kỳ từ năm 1987, đã lập gia đînh và có hai người con trai.

Vs Phùng Mạnh Tâm vốn là một trong những môn sinh Vovinam-Việt Võ Đạo đầu tiên củacố võ sư Chưởng môn Trần Huy Phong (1938-1997 -Tiểu sử Vs Trần Huy Phong), trong những năm 1962, sau khi võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc(1912-1960 -Tiều sử Vs Nguyễn Lộc) qua đời. Ông thụ huấn tại võ đường trường trung học "Thánh Thomas" (nay là trường Hân Thuyên, 190 Lê Văn Sĩ, Ph~ Nhuận, Saigòn), cùng thời với ông có các võ sư kỳ cựu như : Trần Huy Quyền, Nguyễn Xuân Ngọc, Nguyễn Văn Thái, Đặng Đînh Phúc…

Ông là một vị võ sư khả kính có tính tình : giản dị, nhiệt tình, trong sạch, trung thực, khiêm cung, độ lượng… đúng với điều Tâm hướng thứ 7 và 9 của Môn phái (Xem chương IV – 9 Tâm Hướng của Món phái). Về phong thái, ông có cung cách sinh hoạtrất ư là khiêm nhường ; ít nói, làm nhiều, hiền hoà và lúc nào cũng sẵn xàng vươn tay giúp đỡ các đồng môn. Ông không bao giờ tranh giành quyền chức, không bao giờ so bì đẳng cấp, không bao giờ so đo hoặc trỉ trích sau lưng bất cứ ai. Nếu có điều gì không phải, ông chậm rãi giải thích và khuyên bảo trước những nồng độ quá đáng của các đồng môn. Chính vì thế ông đượcrất nhiều các võ sư và các môn sinh cảm phục và kính mến.

Trong hơn 22 năm qua, từ ngày thành lập hệ thống Vovinam­Việt Võ Đạo Thế giới (1996-2018), không biết bao lần đã có những hiểu lầm và những khác biệt ýkiến giữa các võ sư lãnh đạo và các võ sư Niên trưởng hoặc các võ sư kỳ cựu trong Môn phái. Và mỗi lần như thế thì đều được Vs Phùng Mạnh Tâm hỗ trợ và hoà giải ổn thoả trong tình Môn phái. Nói một cách khác, tuy ông không phải là người lãnh đạo trực tiếp Tổng liên đoàn 

Vovinam-Việt Võ Đạo Thế giới, nhưng ông đã gián tiếp đóng góp cho sự trường tồn và sự hoà thuận trong Môn phái rất lớn.

Ngoài ra, cá nhân ông có một vị trí rất đặc biệt trong Môn phái, bởi ông là em ruột của cố võ sư Mạnh Hoàng (Phng Mạnh Chữ -1938-1967 – Tiểu sử Vs Mạnh Hoâng), vốn là bạn đồng môn củaCố Vs Chưởng môn Trần Huy Phong trong những năm 1960-1967. Ông cùng với Vs Trần Huy Quyền (em ruột của cố Vs Trần Huy Phong), cả hai cùng nhập môn năm 1962 và trở thành một trong những môn sinh đầu tiên của Môn phái sau thời kỳ Vs sáng tổ Nguyễn Lộc qua đời.

blank

Với vị thế này, ông và Vs Trần Huy Quyền là hai môn sinh duy nhất thường gọi Vs Lê Sáng (1920-2010 -Tiểu sử Vs Lê Sáng) và Trần Huy Phong bằng "Anh", và cũng với vị trí đặc biệt này ông đã tham gia rất nhiều các sinh hoạt có tính cách "nội tình bí mật" của Môn phái và am tường tất cả những thăng trầm (thâm cung bí sử) của Môn phái trong suốt thời kỳ 1960 cho đến ngày ông qua đời.

Và cũng chính với những am hiểu "nội tình Môn phái" này, ông đã trở thành mối dây liên lạc và hoà giải của những đối chọi hoặc những tranh chấp trong Môn phái. Tiếngnói của ông có một giá trị khả dĩ, không phải chỉ xuyên qua vị trí đặc biệt trong Môn phái mà còn do phong cách sống và cung cách của ông đối với mọi người.

Và cũng với vị thế này ông đã trở thành nhân chứng lịch sử hoặc nhân chứng sống của Môn phái, và đã đóng góp tích cực cho việc thành hình cuốn sách "Lịch sử Môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo -Tập I – 1912-1975" (xuất bản năm 2007).

Tại Việt Nam trong những năm Môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo bị giải tán và bị cấm sinh hoạt (1975-1990), ông trở thành cánh tay phải của Cố võ sư Chưởng môn Trần Huy Phong, chuyên "chỉ huy" các chuyến tầu vượt biên miễn phí, đưa hàng trăm Võ sư, Huấn luyện viên, thân hữu và gia đînh thoát ly tìm tự do và tiếp tục phát triển Môn phái tại Hải ngoại. Chính nhờ thế mà từ hơn 30 năm qua, Vovinam-Việt Võ Đạovẫn tiếp tục truyền thống cao đẹp của Môn phái, đó là phát huy nền văn hoá võ thuật Vovinam-Việt Võ Đạo khắp nơi trên thế giới. Cụ thể nhất là tại các quốc gia như : Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi, Pháp, Đức, Bỉ…

Võ sư Phùng Mạnh Tâm ra đi, nhưng ông đã để lại những mẫu mực cho các thế hệ sau. Một gương sáng của một vị võ sư đúng nghĩa và đúng với truyền thống của Môn phái, đó là: "sống để người khác sống vâ sống cho người khác".

Mời quí vị vào xem những hînh ảnh tưởng nhớ đến Vs Phûng Mạnh Tâm

Paris ngày 15-09-2018.

Vs Trần Nguyên Đạo


blank

Những giờ phút cuối cûng với gia đình và thán hữu



Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.