Hôm nay,  

Trường Hợp Malaysia

29/08/201800:00:00(Xem: 4901)
Nguyễn Xuân Nghĩa & Nguyên Lam

 
ông Mahathir chuẩn bị thoát khỏi ảnh hưởng tai hại của Bắc Kinh...

 
Lên lãnh đạo xứ Malaysia lần thứ nhì ở tuổi 93, Thủ tướng Mohamad Mahathir vừa thăm viếng Trung Quốc trong bốn ngày và đã đưa ra nhiều quyết định mới trong quan hệ với Bắc Kinh. Chúng ta có thể rút tỉa những bài học gì từ trường hợp của Malasyia? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu sau đây...

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, Thủ tướng Mohamad Mahathir của Malaysia vừa thăm viếng Trung Quốc trong bốn ngày và sau khi lên cầm quyền lần thứ nhì ở tuổi 93, ông ta đã lấy nhiều quyết định gây chú ý trong dư luận các nước Đông Nam Á. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về trường hợp của Malaysia và thính giả của chúng ta có thể tự hỏi xem Việt Nam có thể rút tỉa được những bài học gì... Nguyên Lam xin kính mời ông bắt đầu.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Malaysia quả thật là trường hợp đặc biệt ta nên tìm hiểu. Trước hết, về địa dư thì xứ này có hình thể lạ kỳ là lãnh thổ bị chia hai trên vùng biển Đông Nam Á. Tại hướng Tây là khu vực bán đảo tiếp giáp với Thái Lan và tiếp cận với Singapore cùng Indonesia và eo biển Malacca dài gần 900 cây số. Tại hướng Đông là mạn Bắc của Hải đảo Bornéo, tiếp giáp với hai xứ Brunei và Indonesia và tiếp cận với Philippines. Với diện tích bằng Việt Nam mà dân số chỉ chừng một phần ba, người dân xứ này có lợi tức bình quân một đầu người cao hơn bốn lần lợi tức của dân Việt Nam.

- Về lịch sử, Malaysia giành được độc tập từ Đế quốc Anh cách nay 71 năm, vào ngày 31 Tháng Tám năm 1957, sau đó cũng gặp hiểm họa cộng sản như nhiều nước Đông Nam Á khác mà lại thoát và khởi sự hiện đại hóa từ sau thập niên 60 của thế kỷ trước. Về chính trị, Malaysia là nước quân chủ lập hiến, là có một ông vua làm quốc trưởng, mà theo thể chế dân chủ đại nghị, với Thủ tướng là người lãnh đạo đảng đa số, kết hợp ba sắc tộc chính gồm hơn hai phần ba là người Mã Lai Đa Đảo, họ gọi là “bumiputera”, theo Hồi giáo, một phần tư là người gốc Hoa và dân gốc Ấn thì có chừng 7%. Bài học đầu tiên ta nên chú ý là Malaysia vẫn cố gắng xây dựng nền dân chủ và thực tế thì đã tiến xa hơn Việt Nam.

Nguyên Lam: Nguyên Lam thấy rằng lãnh đạo một quốc gia khá đa diện và phức tạp như vậy có lẽ không dễ, ông nghĩ thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đúng là rất khó lãnh đạo khiến chúng ta phải bước qua phần hai và nói đến nhân vật thời sự là Bác sĩ Mahathir. Là người thuộc sắc tộc Mã Lai, ông có ý thức quốc gia hơn ý thức giai cấp hay sắc tộc, và hoạt động chính trị từ năm 1964, ở tuổi 39, ông góp phần vào việc hiện đại hóa một quốc gia nông nghiệp đa chủng tộc thành một nước công nghiệp. Lãnh đạo một đảng chính trị chiếm đa số khá lâu, ông làm Thủ tướng gần 22 năm, từ năm 1981 đến 2003 và coi như về hưu khi gần 80 tuổi.

- Mười năm sau khi làm Thủ tướng, vào năm 1991, ông phát động một kế hoạch gọi là “Viễn ảnh 2020” hay Wawasan 2020 để xây dựng một nền móng kinh tế, xã hội, chính trị và giáo dục cho một nước công nghiệp hóa hiện đại. Khi ấy, ông chủ trương hợp tác với kinh tế Trung Quốc để tìm lực đẩy cho quốc gia. Ngày nay, ông Mahathir xuất hiện trở lại và lập ra một đảng khác khi thấy quốc gia sa sút và chính trị bị tham nhũng đục khoét, đối ngoại thì bị Trung Quốc lũng đoạn.

- Sau khi thắng cử, ông xin quốc vương ân xá một đối thủ chính trị năm xưa là ông Anwar Ibrahim, để ông này có thể kế nhiệm mình trong vài ba năm tới. Trong lần nhậm chức Thủ tướng trước đây, ông cũng rút tỉa được nhiều bài học về sai lầm và nhất là kinh nghiệm từ vụ khủng hoảng Đông Á vào năm 1997.

Nguyên Lam: Chuẩn bị cho chương trình tuần này, Nguyên Lam cũng nhớ rằng ngay từ năm 1997, ông đã phân tích những nguyên nhân khủng hoảng tại Đông Á và trường hợp của Malaysia vào thời đó. Ngày nay, ông cho rằng Thủ tướng Mahathir nghĩ sao và muốn làm gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thời ấy, ông Mahathir đổ lỗi cho giới đầu tư Tây phương mà thật ra không thấy nhiều sai lầm của các quốc gia đang phát triển. Ngày nay, có lẽ ông đã hiểu rằng muốn phát triển với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, các nước kém mở mang cần một chiến lược kinh tế có thể cân bằng các lực đẩy như đầu tư của công quyền và tư doanh được tài trợ bằng nỗ lực tiết kiệm thay vì trông cậy vào bội chi ngân sách và vay mượn nước ngoài.

- Hai mối nguy của vay mượn là đô la Mỹ hay tiền tài trợ của Trung Quốc. Đô la Mỹ có thể lên giá làm kinh tế khủng hoảng và tiền bạc của Trung Quốc sẽ làm chính trị của quốc gia sụp đổ. Có lẽ chúng ta nên nhìn vào một bối cảnh lâu dài thì mới phần nào hiểu ra chủ trương của ông Mahathir.

Nguyên Lam: Xin đề nghị ông nhắc lại về bối cảnh lâu dài đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vốn nghi ngờ các nước Tây phương vì chủ nghĩa thực dân, ông Mahathir hoạt động chính trị khi Trung Quốc lâm khủng hoảng vì cuộc “Cách mạng Văn hóa Vô sản Vĩ đại” của Mao Trạch Đông và tính chất cực đoan hoang tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng lên cầm quyền sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách kinh tế và tạo ra thời kỳ tăng trưởng chưa từng thấy tại Trung Quốc nên có lẽ Mahathir cũng đã học hỏi nhiều, nhất là sau khi phát động kế hoạch năm năm lần thứ sáu gọi là “Viễn ảnh 2020” vào năm 1991 mà tôi nói ở trên. Ngày nay, Viễn ảnh 2020 đó đã thất bại vì năng suất sút giảm, ngân sách bị bội chi, và tham nhũng lây lan lại còn dẫn tới sự lệ thuộc vào Trung Quốc.


- Bây giờ, khi Tập Cận Bình tập trung quyền lực tại Trung Quốc và có chính sách bành trướng cả an ninh lẫn kinh tế qua kế hoạch “Nhất Đới Nhất Lộ”, Thủ tướng Malaysia đang ngẫm nghĩ về số phận của một nước Đông Nam Á nằm trên con đường bành trướng của Bắc Kinh. Từ trường hợp Malaysia, chúng ta đang chứng kiến một thay đổi lớn trong khu vực....

Nguyên Lam: Từ một người đã làm Thủ tướng trong hơn hai chục năm và ngày nay vẫn ra lãnh đạo xứ sở khi đã hơn chín mươi tuổi, chắc hẳn rằng ông Mahathir có nhiều kinh nhiệm xử trí như ông Nghĩa vừa tóm lược ở trên. Thưa ông, riêng với Trung Quốc thì ông Mahathir nghĩ sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên, mới lên làm Thủ tướng, ông Mahathir đã lấy quyết định cải sửa những sai lầm và tai hại của hai Chính quyền trước, nhất là tình trạng tham nhũng và cấu kết khi cầm quyền quá lâu làm xứ sở bị thế lực tiền tài của Trung Quốc khuynh đảo. Phản ứng của nước Úc và New Zealand lẫn Philippines về sự lũng đoạn của Trung Quốc cũng có nét tương tự.

- Sau khi nhậm chức, ông Mahathir chuẩn bị thoát khỏi ảnh hưởng tai hại của Bắc Kinh qua nhiều quyết định liên hệ đến các dự án xây dựng hạ tầng của Trung Quốc trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ. Ông đưa ra một phát biểu có tính chất cảnh báo cả Bắc Kinh lẫn các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á.

Nguyên Lam: Ông Nghĩa theo dõi sự tình từ lâu, xin đề nghị ông nói tới lời phát biểu có tính chất cảnh báo đó của Thủ tướng Malaysia.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vào Tháng Sáu vừa qua, ông Mahathir nói về kinh nghiệm của Trung Quốc khi triều Mãn Thanh khi phải ký kết các “hiệp ước thiếu cân đối”, vì là một nước lạc hậu vì các cường quốc chèn ép từ giữa thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20. Lời phát biểu đó cảnh bảo các nước đang phát triển hoặc chưa mở mang và nay bị một cường quốc chèn ép chính là Trung Quốc.

- Đấy là nguyên nhân ông hủy bỏ một số dự án trị giá tới 23 tỷ đô la do chính quyền tiền nhiệm ký kết với Bắc Kinh. Tuần qua, trong cuộc họp báo bên Tổng lý Quốc vụ viện của Trung Quốc là Thủ tướng Lý Khắc Cường, Thủ tướng Malaysia còn từ chối tái xét các dự án đó và nói đến hiện tượng “thực dân mới” trong khu vực. Tôi chưa thấy lãnh tụ nào tại Đông Nam Á nói thẳng như vậy!

- Nhưng trong chuyến thăm viếng Trung Quốc vừa rồi, ông Mahathir vẫn xúc tiến một số hợp đồng kinh tế có lợi cho Malaysia chứ không đứng hẳn vào chủ trương chống Tầu. Nghĩa là dù có tiền và có súng, Bắc Kinh vẫn cần mua chuộc các nước đang phát triển chứ không dễ gì tự tung tự tác.

- Chúng ta không quên xứ Malaysia nằm trên con đường hàng hải chiến lược vì chuyên chở tới 80% lượng dầu thô nhập vào Trung Quốc và khoảng 50% số hàng xuất khẩu của Bắc Kinh. Nay lãnh tụ của Malaysia không muốn xứ sở là chư hầu của Trung Quốc hay lãnh đạo nằm trong sổ lương của Bắc Kinh. Nhờ có bầu cử dân chủ, ý nguyện của người dân đã được thể hiện: Thủ tướng trước thì vào tù vì tham nhũng, thủ tướng vừa lên cầm quyền thì có thái độ cứng rắn hơn với Bắc Kinh.

Nguyên Lam: Nếu nhìn như vậy thì Malaysia nằm trên bậc thềm của Con Đường Tơ Luạ trên biển và Việt Nam lại nằm ngay tại một cửa biển của Trung Quốc. Hai quốc gia này có hoàn cảnh địa dư gần như tương tự mà vì sao lại có hai lập trường hơi khác biệt thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì lý do lịch sử hơn địa dư, thế thôi! Nôm na là vì Malaysia thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản trên con đường giành lại độc lập. Kết hợp cả hai lý do thì trong khi lãnh đạo Malaysia xét lại toàn bộ bước tiến của Trung Quốc thì lãnh đạo Hà Nội lại muốn mở cửa Vân Đồn và mời chào Trung Quốc vào Phú Quốc!

- Nói về Malasyia, Thủ tướng Mahathir cho hủy bỏ hai dự án thiết lộ nối liền Côn Minh từ tỉnh Vân Nam qua Lào và Thái tới hai bờ biển Tây và Đông của Malaysia, dù họ đã mất năm tỷ đô la xây dựng được một đoạn khá dài. Ngoài ra còn các dự án khác cũng đã bị hủy, như hai ống dẫn khí và nhất là dự án địa ốc vĩ đại là Forest City cũng vừa bị cấm không cho ngoại quốc bỏ tiền vào đầu tư. Kinh nghiệm của Thủ tướng cũ đang ngồi tù là ông Najib Razak cho thấy là lãnh đạo càng tham nhũng thì xứ sở lại càng lệ thuộc vào đồng tiền của Bắc Kinh, là điều khởi sự từ năm 2015.

Nguyên Lam: Câu chuyện về Malaysia quả thật là hấp dẫn, nhưng thời lượng có hạn nên chúng ta vẫn phải tổng kết. Thưa ông Nghĩa, ông kết luận thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng ta mới chỉ có thể sơ kết thôi. Một số quốc gia trên con đường bành trướng của Bắc Kinh, như Pakistan, Sri Lanka, đều đang xét lại cái giá của kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ. Malaysia thì có vẻ quyết liệt nhất.

- Thứ hai, Thủ tướng Mahathir không muốn Malaysia trở thành một tiền đồn chống Trung Quốc làm gì, nhưng đang tìm một con đường an toàn hơn cho xứ sở. Chẳng phải ngẫu nhiên, từ khi nhậm chức, ông đã hai lần gặp Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Có lẽ ông tìm sự cân bằng của các cường quốc để xứ sở khỏi bị một cường quốc bá quyền là Trung Quốc ngày nay thôn tính ngay từ bên trong. Vẫn còn quá sớm để nói về chủ thuyết Mahathir, có khi ta phải đợi ngày ông Anwar Ibrahim lên lãnh đạo, nhưng bài học quan trọng nhất vẫn là nền dân chủ cho phép người ta sửa sai.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn tuần này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.