Hôm nay,  

Nhơn Đầu Năm Tuất, Lan Mang Chuyện Chó

24/02/201800:00:00(Xem: 6003)
Nguyễn Thị Cỏ May
 

Tuất và Chó

Cứ mỗi lần Tết đến, dầu ở tận góc biển chân trời nào, người Việt vẫn giữ tập tục chuẩn bị đón Tết, ăn Tết. Trong việc chuẩn bị đón Tết, ăn Tết, chắc chắn người Việt hải ngoại cũng như ở quê hương Việt Nam, không để thiếu vắng việc chuẩn bị báo Tết cho thật tươm tất, vừa để phô trương bề thế của tờ báo mình.

Ở Miền Bắc và Miền Nam bán cầu, như Âu Châu, Mỹ Châu và Úc Châu, thì người Việt hải ngoại có Tết chớ chưa hoặc không có Xuân.

Nhưng khi các nhà báo làm báo Tết hay báo Xuân, có ai nghĩ tại sao có báo Xuân không? Chắc chắn là chỉ có Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới này có báo Xuân mà thôi. Vậy trong trường hợp nào báo Xuân Việt Nam ra đời?

Đó lại là chuyện dài liên hệ tới lịch sử báo chí việt nam. Nay, ở đây, tưởng chỉ nhìn qua báo Xuân hay báo Tết Việt Nam. Từ thuở có báo Xuân thì y như rằng hễ năm Dậu thì báo Xuân phải nói chuyện gà; cả gà cúm cũng nói. Năm Tuất, dứt khoát là báo Xuân phải nói đến chó, chuyện chó. Vì Tuất là chó kia mà!

Nhưng xin hỏi các ông làm báo Xuân năm Tuất: tại sao Tuất có nghĩa là chó, Dậu có nghĩa là gà, Tý có nghĩa là chuột?

Có phải Tuất nghĩa là chó không?

Chúng tôi đã thắc mắc mà không tìm được giải đáp cho chính mình, bèn đi tìm hỏi những người thâm nho thì những vị này cũng lắc đầu. Các vị cũng không hiểu tại sao Dậu là Gà, Tuất là Chó? Phải chăng đó chỉ là một chọn lựa qui ước? Chớ tiếng ấy không có nghĩa như vậy!

Chúng tôi đành giữ nguyên cho mình thắc mắc về ngữ nghĩa của từ ấy mà tạm thời “cẩu sự ” cùng quí bạn đọc cho vui để đón chờ những ngày Xuân ấm áp sắp đến!

Chó và Người

Con chó sống với loài người phải từ thuở bình minh lịch sử. Người ta cho rằng chó có mặt bên cạnh con người, làm bạn chí thân chí thiết với con người từ 15000 năm qua. Như vậy chó đã dấn thân giúp con người trong nền văn minh săn bắn?

Con chó bám sát con người từng bước trong quá trình tiến hóa để hiện diện cùng với con người qua văn học, cùng chia xẻ số phận con người qua những biến thiên lịch sử đất nước, vẫn giữ đức tính tinh ròng của loài chó, không bội bạc, không phản trắc. Để người phụ chớ không phụ người! Thế mới là chó!

Cho nên, người đời nguyền rủa những kẻ ám hại người một cách hèn hạ, đốn mạt là “thứ đâm heo thuốc chó”. Thứ này bị người đời nguyền rủa thậm tệ hơn thứ cùng hung cực ác “chửi cha, chém chú, lắc vú chị dâu, cạo đầu bà thím”!

Thế mà trong trường hợp nào đó, để mắng chửi người ngu, hoặc vụng về, ngờ nghệch, người ta lại mượn chó ra để làm chuẩn mực: “đồ ngu như chó”. Khi so sánh “người ngu với chó”, không biết có chắc người ta có thiệt tình hiểu chó là “ngu” không? Nếu con người hiểu được tiếng chó, biết đâu con người cũng sẽ nghe chó mắng chó là “thứ đồ ngu như người”?

Lại khi gặp phải vận rủi, mưu sự đều thất bại, người ta mượn chó ra diễn tả “đời đen như mõm chó”.

Nhưng có điều, như chân lý, là không có ai chửi người phản trắc bằng cách đem chó ra làm biểu tượng “đồ ăn cháo đái bát như chó”!

Chó vẫn là hiện thân của giá trị tiêu chuẩn về đức tính “trung thành”, trước sau như một: “Chó không chê chủ nghèo”!.

Nền văn minh chó

Tôi không dám định nghĩa văn minh là gì? Văn minh chó là gì? Bởi Giáo sư chủ nhiệm Đỗ Chín không cho phép đi vào nền nếp cũ lỗi thời là cái học từ chương, trích cú như các cụ đồ nho ngày xưa.

Theo “cẩu luận khoa học và biện chứng” thì chó ngày nay thật sự vô cùng văn minh, tức vô cùng đẹp. Cái văn minh, cái đẹp ở đây, không chỉ dành riêng cho chó mà loài người lại chia xẻ, hưởng thụ nhiều hơn. Nói như vậy không hàm ý người khôn hơn chó tuy người thường bị mắng là “ngu như chó”!

Người Việt hải ngoại, từ bốn mươi năm nay, đã hấp thụ nền văn minh chó làm thay đổi hẳn, vô cùng sâu sắc, nếp tư duy cũ, cách ứng xử, trong từng cá nhân.

Riêng đối với lớp trẻ sanh đẻ ở hải ngoại thì lại hoàn toàn sống theo nền văn minh chó trăm phần trăm.

Thử nêu ra mức phát triển kinh tế thế giới liên quan đến đời sống hằng ngày của chó, đủ cho ta hình dung được đỉnh cao của nền văn minh chó. Hàng năm, các ngành hoạt động phục vụ cho chó đạt được 50 tỷ mỹ kim.

Về thực phẩm, đứng đầu là Nestlé, Danone, rồi mới đến các hiệu của Mỹ như Pedegree, … Những thứ thực phẩm này không mang nhãn hiệu Nestlé, Danone vì sợ người ta mua lầm, ăn thấy ngon rồi lại tranh nhau mua hết không còn để chó ăn.

Vào mùa lễ cuối năm, có những sản phẩm dành cho người làm quà biếu cho người thì cũng có những thứ quà biếu cho chó. Như một cái túi bằng loại hàng vải mắc tiền, cắt may thẩm mỹ, đựng bên trong cái “áo len” đắt tiền, chai dầu thơm do nhà Chanel chế tạo, kem đánh răng, bàn chải đánh răng, kéo cắt móng chưn, vòng đeo cổ, … tất cả giá là 1000$us.

Có những trung tâm thẩm mỹ thể dục trị liệu cho chó. Ở đây, chó sẽ được chuyên viên cao cấp tắm chó bằng tia nước nóng lạnh (tắm âm dương), bằng nước bùn, đắp rong biển, nước biển, xoa bóp khớp xương chữa phong thấp. Có thầy thuốc khám, kê đơn chỉ dẫn chế độ ăn uống theo từng trường hợp. Bên cạnh, lại có phần thể dục tương tợ dành cho chủ chó. Giá cho chó là 150 $ us / ngày. Những săn sóc đặc biệt, tính giá riêng. Tắm, cắt lông, móng, mỗi lần 50$ us là bình thường và phổ thông, trong lúc làm móng tay cho các bà chỉ có 25$ us.

Người Việt hải ngoại ngày nay, ai không dám nuôi chó thì thôi, hễ ai nuôi chó thì phải chạy theo nền văn minh chó, không ai dám làm khác hơn, bởi bị sức mạnh của nền văn minh thu hút và bắt buộc. Mà luật pháp cũng bắt buộc, bởi nền văn minh chó ngày nay đã được định chế hóa rồi. Tức cẩu quyền đã được luật pháp hóa, chỉ còn chờ một ngày gần đây Liên hiệp Quốc ban hành “Bản tuyên ngôn quốc tế cẩu quyền” nữa là đủ!

Sống theo nền văn minh chó, người Việt hải ngoại cũng bắt đầu đặt tên cho chó của mình. Chọn cái tên dễ thương. Chỉ chưa thấy ai lấy tên của người thân đặt tên cho chó. Hãy còn húy kỵ. Đặt tên cho chó vừa tỏ cho mọi người biết con chó của mình là chó văn minh, đồng thời ngầm nói lên mình cũng là người văn minh nữa!

Chó có tên không phải chỉ là ý muốn của chủ chó mà còn do luật pháp quy định. Bởi mỗi con chó nuôi đều phải được kiểm tra về mặt thú y nên phải có hộ tịch.

Đơn giản lắm cũng phải mang một con số đăng ký như giấy chứng minh nhân dân ở xứ Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Hà Nội: chó kiki, chó nikiki, Mickey, …

Có điều đáng để ý, chủ chó là người Việt, nhưng tên chó đều mang tên ngoại quốc. Có khi nói chuyện với chó, chủ chó Việt Nam lại nói bằng tiếng ngoại quốc!

Cũng nhờ sống ở hải ngoại khá lâu, hấp thụ nền văn minh chó, nên một người Việt Nam lớn tuổi mới bắt đầu hiểu tại sao ở Việt Nam trước năm 1975, hai con chó Mỹ ở nhà ông, trong những ngày đầu không chịu ăn. Chúng cương quyết nhịn đói như muốn tuyệt thực phản kháng vậy. Bởi ông không cho chúng đúng thứ đồ ăn của P.X mà chúng thường ăn mỗi ngày.

Một người Mỹ láng giềng đem gởi ông hai con chó, hẹn tối sẽ dắt về. Mãi mấy hôm, không thấy người Mỹ trở lại nhận chó.

Ông bảo con nhỏ giúp việc trong nhà cho hai con chó ăn. Theo thói quen Việt Nam, nó đem tất cả thứ gì còn lại từ bữa ăn, trộn thêm cơm cho ăn. Hai con chó hửi qua rồi lạnh lùng bỏ đi.

Con nhỏ giúp việc nói chuyện với hai con chó, hai con chó không hiểu. Ông chủ mới hiểu ra vì hai con chó của Mỹ nên chỉ hiểu tiếng Mỹ. Ông bèn dạy vài câu tiếng Mỹ cho con nhỏ giúp việc để đàm thoại cấp tốc với chó. Nhưng gốc nhà quê đặt sệt, con nhỏ học tiếng Mỹ không vô. Ông chủ bèn lấy mấy tấm cạt-tông viết lên đó mấy câu tiếng Mỹ phiên âm qua giọng Việt để cho con nhỏ dễ học và thuộc lòng: “xít-ao; gô; ít; ” … Từ đấy, con nhỏ đi đâu cũng cầm theo mấy tấm cạt-tông cẩm nang như vật bất ly thân để nói chuyện với hai con chó Mỹ. Nhiều lúc vội vàng, con nhỏ muốn ra lệnh “hãy ngồi xuống” lại lấy nhầm cẩm nang dạy “hãy đi chỗ khác”, đọc lên, hai con chó bèn bỏ đi. Nó chạy theo muốn hụt hơi.

Nhưng nhờ vậy, mà sau ngày 30/04/1975, chạy qua Mỹ, nó nói được tiếng Mỹ và đã giỏi tiếng Mỹ. Nó làm thông dịch cho những người tỵ nạn Việt Nam vượt biển qua Mỹ sau nó.

Sau vài hôm, có lẽ vì đói bụng quá, hai con chó Mỹ bắt đầu chịu ăn theo chế độ ẩm thực Việt Nam. Và nó hội nhập từ đây.

Mà nào riêng gì chó, người Mỹ ở “khách sạn Hilton” tại Hà nội, VC ném cho thứ gì cũng “ ích ” hết. Chưa đủ no, muốn “ích” thêm cũng không có.

Tôi có người bạn nuôi một con chó gốc bẹc-giê. Một hôm chị vợ cùng với con cái đi chơi xa. Anh chàng ở nhà giữ nhà và giữ chó.

Lần đầu tiên, anh cho chó ăn. Chó đến hửi rồi bỏ đi. Anh lo sợ chó bị bệnh nên bỏ ăn, bèn điện thoại hỏi ý kiến vợ. Chị vợ hỏi anh có nêm nước mắm trong thức ăn không?

Hiểu ra, anh xịt thêm vài giọt nước mắm Phú Quốc. Quả nhiên, chó ngửi mùi quê hương, nhào tới đớp liền!

Chó qua vài trang sách vở

Con chó thiết cận với con người Việt Nam như vậy, nhưng có ai biết chó có tên gọi từ bao giờ không?

Một cách chính xác thì không thể nói, nhưng điều chắc chắn là trước khi người Pháp tới, chó Việt Nam không có tên. Người ta gọi chó qua tướng mạo của chó, như chó đen được gọi là chó Mực, trắng là Cò, vàng là Phèn, vằn là Vện, …

Trong câu thơ của Nguyễn Trãi (Quốc Âm thi tập), con chó được nói tới bằng tướng mạo:

… “Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá

 Nhà quen xú xứa ngại nuôi vằn …”

Vằn có nghĩa là sọc, như khăn vằn, ngựa vằn, nhưng vằn thường bị hiểu sai thành rằn như khăn rằn, ngựa rằn.

Khi nói đến quả cau ửng sọc trên vỏ thì chữ vằn đổi lại thành vân: “quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân”.

Con chó được dẫn theo người đi dạo, vừa để làm bạn vừa để bảo vệ an ninh cho người, có lẽ phải đến khi người Pháp đến Việt Nam và đã đặt xong nền đô hộ.

Vì có lẽ phải từ lúc này, người Việt Nam mới bắt đầu biết chó có tên gọi riêng do người đặt cho. Những người Việt Nam này cũng phải thuộc giới tây học hoặc ở đợ cho tây.

Ở Hà Nội, người ta còn nhớ vào cuối thế kỷ 19, có bài văn tế ông Tây Rivière, với những câu có đề cập đến con chó của ông ấy:

 “Nhớ ông xưa,

Mắt ông xanh lè, mũi ông thò lõ.

Đít ông cưỡi lừa, mồm ông huýt chó ”…*

Huỳnh Mẫn Đạt, người Gia định, chống Tây cướp nước thất bại (thế kỷ 19), tuổi cao, gởi gắm tâm sự của mình qua con chó già:

 “Tuy rằng muông cẩu có âm ba

Răng rụng lâu năm nó phải già.

…Không ai trấn Bắc ngăn bầy cáo,

It kẻ ngừa Tây giữ đứa tà …”

Học Lạc (Nguyễn văn Lạc) người Mỹ Tho, cay đắng thân phận con người ái quốc khi thất thời mạt vận:

…“Vằn vện xác còn phơi lững đững

 Thúi tha danh hãy nổi lều bều … ”

… Một trận gió dồn cùng sóng dập

 Tan tành xương thịt biết bao nhiêu ”.

Nhà ái quốc Nguyễn đình Chiểu mô tả cảnh lụt lội nhưng không để mất cơ hội mắng chửi vào mặt bọn xu thời hèn mạt, chớp thời cơ để ăn trên ngồi xổm trước, thứ mà thời nào cũng có, nhứt là ngày nay ở Việt Nam xã hội chủ nghĩa:

… “Lổm ngổm giường cao thấy chó ngồi...

Vì lúc bấy giờ đất nước đã mất trọn vẹn vào tay giặc Pháp:

… “Bốn mặt Giang sơn ngập cả rồi! ”

Gần đây, giáo sư Phạm công Thiện đi dạo chợ trời vùng Paris, trông thấy cảnh bán buôn đủ loại hàng mới, cũ, với giá rẻ mạt. Và người đi chợ cũng đủ thành phần xã hội. Ông bèn tức cảnh, và cũng xúc cảm thân phận của chính ông lúc ấy:

 “Thân anh như con chó,

Treo bảng bán chợ chiều.

Một lần em qua đó,

Con chó đứng nhìn theo.”**

Đọc thơ của tác giả “Hố thẳm tư tưởng”, có người lại liên tưởng đến câu ca dao diễn tả mối quan hệ “Anh em” qua hình ảnh con chó thương yêu:

“Em như cục cứt trôi sông,

Anh như con chó đứng trông trên bờ ”.

Thân phận “Anh em” đã thấy tội nghiệp rồi. Mà thân phận của đất nước lại càng thảm hại hơn. Một đất nước mà hạ tầng cơ sở chưa có để giải quyết vấn đề chất thải một cách hợp lý, tránh bị nạn ô nhiễm môi trường. Con người còn sống ở một trình độ như vậy thì con chó làm sao có được thức ăn riêng của chó?

Thân phận con người và con chó tương xứng! Tương xứng ở nấc thang thấp nhất của sinh vật.

Nói về chó qua văn học không thể không nhắc một giai thoại thi ca liên quan đến nhà thơ lớn Xã hội Chủ nghĩa Tố Hữu, một thời lãnh đạo văn học Hà nội, ra tay dùng “mã tấu văn học” phạt những nhà văn nhà thơ tài hoa và lương thiện khác như Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Hoán, để chiếm ngôi độc tôn trong thi ca. Và cũng chính Tố Hữu là đồ tể trong vụ án Nhân văn giai phẩm ở Hà nội vào giữa thập niên 50 trong thế kỷ qua.

Gần đây, một sinh viên văn của Đại học Tổng hợp Hà Nội, phản ứng về Tố Hữu khi phải học thơ của Tố Hữu, và phổ biến trên mạng điện tử bài thơ cuối đời của thi sĩ được huân chương cao quí nhứt “sao vàng”:

…“Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gởi lại đời, tro bón đất

Sống là cho, chết cũng là cho…”

Tố Hữu

Những câu này được sinh viên Khoa văn Hà Nội đọc lại:

 …“Còn mấy vần thơ, một nắm tro

 Thơ gởi lại đời, tro bón đất

 Sống là CHÓ, chết cũng là CHÓ…”

Tội nghiệp cho chó vì chó không bao giờ đối xử với người như nhà thơ vĩ đại Tố Hữu!.

Dưới thời Pháp đô hộ đất nước, một người Việt Nam làm bồi cho ông quan Tây, một hôm, trông thấy con chó của ông chủ sao mà nó đẫy đà đầy quyến rủ, khiêu khích anh đến rỏ giải. Không thể tự chế được nữa, anh bồi bèn tập kích hạ ngay “cờ tây”. Lẽ dĩ nhiên, chuyện này phải xảy ra ở Hà Nội, cái nôi của cách mạng vô sản hồ chí minh.

Phát hiện con chó của mình mất tích, quan Tây mở cuộc điều tra.

Kết quả: anh bồi bị đưa ra tòa và lãnh một tháng tù ở.

Dầu sao quan Tây thực dân vẫn còn biết thượng tôn luật pháp, luật pháp của chính mình, nên đã không tự xử lý sự việc một cách tùy tiện!

Chó Việt Nam thời văn minh xã hội chủ nghĩa

Toàn dân kháng chiến. Ở khắp nông thôn, chiến dịch “tiêu thổ” kháng chiến được người người nhiệt tình hưởng ứng. Người nông dân chất phác, suốt đời lam lũ một nắng hai sương, vừa xây dựng được cơ nghiệp làm mái ấm gia đình, thì nay, tự tay mình, mạnh dạn dơ cao ngọn đuốc châm vào thiêu hủy cơ nghiệp của mình.

Dân làng kéo nhau đi vào vùng sâu, bỏ lại làng mạc hoang vắng với những đống tro tàn. Con chó cảm nhận được hoàn cảnh của chủ nó, nên cũng theo chủ, không luyến tiếc nơi êm ấm quen thuộc. Đôi khi trên đường “di tản chiến thuật”, chó bị lạc chủ:

…“Mái nhà trăm năm thôi để lại,

Lạc chủ chó gầy, mắt hoang dại. ”

Quang Dũng

Sau đó, khi Pháp tái lập sự cai trị, dân chúng lục tục kéo nhau trở về làng cũ, xây cất lại nhà cửa. Kháng chiến cũng lần theo bước chân dân chúng kéo về ẩn núp trong thôn xóm. Họ phải dựa vào dân chúng để giải quyết cái ăn hằng ngày, theo phương châm “cá với nước”.

Ban ngày, Tây đi hành quân tảo trừ kháng chiến, Việt Minh chờ đêm xuống đi phục kích hoặc tấn công đồn bót Tây. Để bảo toàn hoạt động về đêm, Việt Minh ra lịnh “cấm chó sủa”. Thế là chó chịu chung số phận bị “hạ cờ tây” tập thể. Người dân sợ tây bắt vì bị tình nghi Việt Minh, đồng thời cũng sợ bị Việt Minh cho “mò tôm” vì bị nghi là Việt gian. Chó vốn có linh tính, nên trước tình hình này vội cụp đuôi, thu hình núp trong nhà, không dám sủa.

“Chó đen rin rít những điều khó hiểu

Hồn ai đang lang thang trong đêm.”

 Quang Dũng

Chó đen được tiếng là chó khôn trong loài chó, có thể nhìn thấy ma trong đêm, canh giữ quân gian rất giỏi. Nhưng chó vẫn không sợ giặc Tây bằng sợ VC. Nơi nào và khi nào VC đến là chó không dám sủa.

Sau 30/04/1975, ở Miền Nam Việt Nam, dân chúng thường gọi thời VC cai trị là thời “chó chết” vì nhân dân xơ xác, chó mà còn không sống nổi! Trái lại, trước kia, người ta dùng tiếng “chó đẻ” để mắng những người sai trái, vi phạm qui ước xã hội: “quân chó đẻ, đồ chó đẻ, thằng chó đẻ”. Nhưng, “chó đẻ” vẫn hơn “chó chết”! Vì chó còn đẻ được!

Một thời gian sau khi Việt cộng vào miền Nam, Linh mục Seitz bị đuổi về Pháp vì ông viết một cuốn sách mô tả đời sống ở Việt Nam dưới chế độ cách mạng, trong những ngày ông còn ở đó. Sách mang tựa “Thời chó câm” (Le Temps des chiens muets). Mọi quyền tự do căn bản đều bị VC tước đoạt. Thậm chí, quyền sủa của chó cũng bị đảng tước đoạt. Nhưng có người thấy, qua những dòng “thời chó câm” ấy, cha Seitz còn ngầm ngụ ý phản đối tự do tư tưởng của người tu sĩ công giáo bị bề trên ngăn cấm, do chánh sách đối ngoại nhằm mục đích dài hạn của Giáo hội?

Dân miền Nam gọi thời gian VC vào cai trị miền Nam là “thời chó chết”. Phải chăng lời nói của dân gian thường linh ứng mà những sinh vật di chuyển bằng bốn chân vào thời gian ấy đều không thấy xuất hiện. Không riêng gì con người miền Nam bị tập trung vào các trại cải tạo mà ngay cả thần hoàng, thổ địa cũng phiêu bạt.

Nhà thơ Tô thùy Yên nói lên tiếng nói trung thực của nhân chứng cảnh Việt Nam “thời chó mạc”:

…“Làng mạc giờ đây đã trống trơn,

Con dê, con chó cũng không còn.

Người đi bỏ xác nơi bờ bụi,

Miếu sạt, thần hoàng rũ héo hon ”.

(Trại cải tạo Nghệ Tỉnh, 1979)

Nhưng, bổng người còn sống nghe tiếng tru rú lên rùng rợn. Không phải tiếng tru của loài chó rừng, mà là tiếng tru của những con người sắp chết tức tưởi, đầy uất hận, cô đơn trong trại tập trung:

…“Cái chết tru rân giờ nguyệt tận,

Máu bung từ mỗi lỗ chơn lông.

Mọi người nghe chính mình kêu rú,

Liệu sáng mai còn ai nữa không? ”

(Tô thùy Yên, trại cải tạo 1979)

Đến khi được thả khỏi trại, lần mò về quê nhà, tìm mãi mới được căn nhà cũ vì tất cả đều đã đổi thay. Đến con chó không nhìn ra chủ ngày nào:

 …“Đòi phen năm tháng cũ dò về,

 Chó già lạ hơi sủa … ”

Bước vào căn nhà xưa, bàn thờ không nhang khói cúng lễ, thì con chó cũngtuyệt vọng chờ bữa ăn:

 “Bàn thờ nhện giăng,

Nói chi cơm cúng.

Tội cho hồn con chó nhỏ vẫn nằm chờ

Mơ màng người chủ vừa ra đi …”

(Tô thùy Yên)

Thân phận của người đi cải tạo tập trung trở về với thân phận con chó ở “thời chó chết” không khác, vì không ai hơn ai giữa chủ và chó.

…“Tôi về nhà vào năm thứ mười ba,

Đã có nó trong nhiều khuôn mặt mới.

…Tôi, quản chế, thu mình trong bóng tối,

 Nó, can gì, cũng chẳng dám chun ra?

…Khách lạ tới, nó lùi vô một xó,

 Không dám gầm gừ nói lên tiếng chó.

 Thì mong gì canh giữ được quân gian.

 …Tao với mầy nào có khác gì nhau,

 Chó với người cùng một kiếp thương đau.

 …Quyền người chưa trọng, nói chi quyền chó?”

(Thanh thanh)

Ở Việt Nam, chó luôn luôn chịu chung số phận như con người trong thời đất nước chiến tranh. Sinh mạng con người không đáng một cắc bạc thì sinh mạng chó có đáng gì đâu?

Nhưng đến khi cách mạng thiết lập chánh quyền trên cả nước thì chó bắt đầu có giá… Nhứt là từ khi đảng cộng sản Hà Nội ban hành chánh sách “đổi mới”, thì chó trở thành một nguồn phát triển kinh tế thị trường theo “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”.

Ở Long Bình, cuối xa lộ Biên Hòa, đường ra Vũng Tàu, mỗi ngày, người kinh doanh chó thu mua để phân phối đi các nơi có đến bảy tấn chó sống.

Ở Hà Nội, các cửa hàng ăn chuyên bán thịt chó đủ món, tiêu thụ mười tấn chó

(tháng/ngày, không nhớ rõ vì nghe qua phim “Việt nam ăn nhậu”)

Chó không còn là nạn nhân thời cuộc như khi đất nước chiến tranh, mà trực tiếp nạn nhân của con người trong thời bình xã hội chủ nghĩa cho những đòi hỏi khẩu vị của những người không phải thứ “ngu như chó”!

Chó qua dòng lịch sử

Chó với người đã sống chung từ 15000 năm qua. Riêng ở Việt Nam, trong lịch sử lập quốc, An Dương Vương lên ngôi vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch, khi dời đô về Cỗ Loa là theo dấu chân đàn chó.

Lê Lợi cũng vậy. Đàn chó dẫn nhau tìm về Cỗ Loa dọn ổ đẻ. Dân chúng cùng nhau chọn nơi chó đẻ để định cư lập nghiệp, vì tin đó là vùng đất vượng phát.

Mẹ Lý Công Uẩn, ngủ nằm mơ thấy con chó bằng đá. Bà thọ thai, sanh con trai đem đến chùa Cổ Pháp và kể lại giấc mơ cho sư ông Lý Khánh Vân nghe. Nhà sư cho đó là điềm lành nên nhận đứa bé và cho mang họ Lý. Bổng con chó bằng đồng chưng ở trong chùa cất tiếng sủa vang như mừng rỡ có tân chủ.

Lý Công Uẩn theo học văn võ với Sư Vạn Hạnh, sau làm tướng rồi lên ngôi vua, lập ra triều Lý.

Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La, gần Cổ Loa, lấy tên là Thăng Long. Lúc dời đô, có con chó cái bơi từ Cổ Pháp vượt sông Hồng, theo Vua về lót ổ đẻ bên Hồ Tây, chỗ Hồ Trúc Bạch, bây giờ còn dấu tích.

Truyền thuyết khác cho rằng con chó ở Cổ Pháp vượt sông Hồng, lót ổ đẻ trên núi Nùng. Lý Thái Tổ dời đô về phía đó và lập đền thờ.

Con chó ở Cổ Pháp đẻ con sắc trắng có đốm đen thành ra hai chữ thiên tử, ứng vào người sanh vào năm Tuất làm thiên tử, tức Lý Công Uẩn.

Con chó đã sớm đi vào tín ngưỡng dân gian trở thành thần. Ở Hà Nội có đền thờ thần chó làm bằng đá.

Từ hai mươi năm nay, nhà cầm quyền địa phương Ba Đình muốn san bằng đền Cẩu Nhi, thờ thần chó con cạnh bờ hồ, để lấy mặt bằng xây trụ sở chánh quyền. Những nhà nghiên cứu, các tổ chức quần chúng phản đối, muốn bảo tồn di tích lịch sử tín ngưỡng dân gian. Theo những người này thì tín ngưỡng dân gian có trước các tôn giáo du nhập Việt Nam, tại sao lại không được giữ gìn như di tích?

Chó của ông Lê Nhân ở Hà nội ngày nay

Trong bài trả lời phỏng vấn báo điện tử Đàn Chim Việt ở Warsovie, ông Lê Nhân từ Hà Nội dám quả quyết:

…“Con người lắm khi không bằng một con chó”. Thật thế. Chúng ta cứ xem chó con đẻ ra chỉ bảy ngày là mở mắt.

Con người thiệt ở bên trong con người mang tên Lê Nhân này cứ thập thò, như con ma xó, trả lời của Lê Nhân với đảng viên đảng Cộng sản: “Bẩm Quan cách mạng. Bấy lâu nay, con có mắt đâu mà Quan bảo con hãy mở mắt. Con trốn vào hai đầu gối đã chai sạn của Quan từ lâu rồi. Quan hãy nhìn xuống đầu gối mà xem: mắt và tư duy của Quan cũng đều nằm trọn nơi đó”!

Chó trong sấm ký

Năm 1938, Phó bảng Nguyễn Can Mộng ưu tư thời cuộc, bèn chọn ngày lành, lên đền Ngọc Sơn cầu cơ để hỏi vận mạng đất nước trong những ngày tới. Đức Thánh Mẫu Phủ Giầy về cơ, giáng bút phát họa tình hình nước Việt Nam, cho đến sau 1955, căn bản, đều đúng.

Như:

… “Ba màu đến hội suy vong,

Khỉ về gà khóc, vầng hồng nổi lên.

…Mèo lùi, cáo nắm kỷ cương,

Tương tàn cốt nhục nhiễu nhương lạ kỳ.

…Vảy rồng tạm tách làm đôi.

…Kể từ đôi ngũ còn chờ,

Thầy tu mở nước bấy giờ mới hay.

Chẳng qua cũng giống quỷ tây…”

Nói lại một cách giản lược:

“Tây suy vong. Năm Dậu 1945, Nhật đảo chánh. Bảo Đại thoái vị, trao chánh quyền cho Hồ chí Minh. Chiến tranh chết chóc ở cả hai bên, thiệt hại hơn 3 triệu người. Dẫn đến đất nước chia đôi để chiến tranh tạm ngưng. Ngô đình Diệm, gốc thầy tu, lên nắm chánh quyền vào năm 1955 (55 = đôi ngũ). Cũng gốc Tây phương. Vì từ thế lực tây phương đưa về ”.

Đến năm Tuất thì Việt Nam sẽ có thái bình. Năm Tuất nào, tính từ năm 1938 là năm mà Phó bảng Nguyễn Can Mộng cầu cơ?

Lần theo cơ bút là sống bằng hy vọng vì con người đã tận nhơn lực?

… “Chó mừng tân chủ rỡ ràng,

Gần xa tấp nập lên đường hồi hương”.

Chó, kỳ này, tức Mậu Tuất, sẽ mừng tân chủ, nghĩa là không phải chủ xã hội chủ nghĩa? Bởi chủ xã hội chủ nghĩa là chủ của “thời chó chết” thì làm sao chó mừng được?

“Gần xa tấp nập lên đường hồi hương” là một hiện tượng chỉ có thể xảy ra cho Việt Nam từ sau 30/04/1975 mà thôi.

Có nên hy vọng lắm không?

- Xin thưa: trước sau vẫn là “cẩu sự” đầu năm Tuất!
 

Ghi chú: Trích dẫn theo Đặng Tiến, Talawas (***).
 

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ông X. Nguyễn bị trục xuất vào sáng sớm của một ngày trong tháng Tư. Cuối ngày hôm đó, vào lúc 5 giờ chiều, cô K. Nguyễn bay về Sài Gòn. Cô đến phi trường Tân Sơn Nhứt sau chuyến bay trục xuất anh cô khoảng một ngày.“Khi đến Tân Sơn Nhứt, họ đưa anh tôi và mấy người bị trục xuất một lối đi đặc biệt để vào nơi làm thủ tục hải quan. Họ phỏng vấn, lăn tay, làm giấy tờ. Rồi họ đọc tên từng người, nếu có thân nhân, họ sẽ dắt ra cổng, bàn giao lại cho người nhà. Với ai không có thân nhân, nhưng có tên trong danh sách của Ba Lô Project (BLP) thì tình nguyện viên của nhóm sẽ nhận. BLP cho mỗi người một ba lô, trong đó có những vật dụng cá nhân cần thiết, một điện thoại có sim sẵn và $50”, cô K. kể.
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử Tổng thống, giới sáng lập và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon – gồm các tỷ phú như Elon Musk, Jeff Bezos và Mark Zuckerberg – đã được xem là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền mới. Họ xuất hiện trong lễ nhậm chức của Trump và nhanh chóng đóng vai trò chính trong việc định hình các chính sách "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại". Với niềm tin mãnh liệt vào tiềm năng của công nghệ hiện đại, những nhà lãnh đạo này tin rằng họ có thể vận hành nó trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường tự do. Họ cổ súy cho sự phát triển không giới hạn của một hình thái tư bản tự do tuyệt đối và công nghệ có thể giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội và quốc gia. Trong tầm nhìn của các cá nhân tiên phong công nghệ, họ muốn có vai trò lãnh đạo trong việc xóa bỏ các thủ tục hành chính phức tạp của nhà nước phúc lợi. Đó là hai điều kiện tiên quyết để tăng tốc cho các tiến bộ xã hội,
Ba giờ sáng của một ngày giữa Tháng Tư, cả hệ thống điện và điện thoại trong trại giam Adelanto Detention Center (California) đồng loạt bị ngắt. Bóng tối phủ trùm khắp các khu vực. Nhân viên trại giam đi từng khu vực, gõ cửa từng phòng, gọi tên “những người được chọn.” Mỗi phòng một, hoặc hai người bị gọi tên. “Thu xếp đồ đạc của các anh” – lệnh được truyền đi vắn tắt, không giải thích. Ông X. Nguyễn, cư dân của Santa Ana, đến Mỹ từ năm 1990, là một trong những người bị đánh thức được lệnh phải thu dọn đồ đạc.Cùng với những người khác - không ai biết ai vì tất cả đèn đã tắt, trong bóng tối họ bị áp tải ra khỏi trại giam trong tình trạng tay bị còng, chân bị xích. Chỉ đến khi bước vào chiếc xe bít bùng, họ mới nhận ra nhau qua cùng tiếng Mẹ đẻ, mới biết mình không đơn độc – mà cùng những người khác cùng ngôn ngữ, cùng cố hương, cùng một chuyến đi không có ngày trở lại. “Họ đưa anh tôi và những người trên xe đến tòa nhà INS (Immigration and Naturalization Service) ở Los Angeles.
Chuyện đời của Tổng thống Donald Trump như một cuốn sách, không phải tự truyện, không phải tiểu sử, là một trường thiên tiểu thuyết đang viết vào chương cuối cùng. Đã gọi là tiểu thuyết, nghĩa là không thật như đời thường, có nhiều diễn biến ly kỳ, bí mật và những âm thầm giấu giếm bên trong. Nhân vật chính là một người có đời sống phóng đảng từ trẻ đến già. Con nhà giàu, đẹp trai, học không giỏi. Bảy mươi mấy năm sống có thể gôm vào sáu chữ: Ham gái. Ham danh. Ham tiền. Ông không có khả năng gì đặc biệt, ngoài trừ khả năng bạo phổi, quen thói tỷ phú quyền lực, ít học, kém tư cách, ông muốn nói gì thì nói, muốn tuyên bố gì thì tuyên bố, bất kể đúng sai, bất kể hậu quả. Việc này khiến ông nổi bật giữa những kiểu mẫu đứng đắn, đạo hạnh, tử tế, trí thức của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dọc theo lịch sử. Sự phá vỡ tư cách lãnh đạo theo truyền thống, lạ lùng, được một số đông cử tri ủng hộ.
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy. Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.
Trong tháng 7 năm 2025, Thượng Viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu gần như hoàn toàn theo đường lối đảng phái để hủy bỏ khoản ngân sách trị giá 1.1 tỷ MK đã được chuẩn thuận cấp cho Tập Đoàn Phát Thanh Truyền Hình Công Cộng (Corporation for Public Broadcasting, CPB). Những người ủng hộ quyết định này cho rằng đây là hành động cần thiết để ngừng tài trợ cho “cánh truyền thông thiên tả.” “Phát thanh truyền hình công cộng đã rơi vào tay các nhà hoạt động đảng phái từ lâu rồi,” TNS Ted Cruz (Texas) tuyên bố, khẳng định chính phủ không cần thiết phải tài trợ cho các cơ quan báo chí “thiếu công tâm.” Ông châm biếm: “Muốn xem tuyên truyền của phe cấp tiến hả, cứ bật MSNBC đi.”
Tổng thống Donald Trump đã cố gắng áp đặt Hoa Kỳ lên thế giới và tách đất nước ra khỏi thế giới. Ông bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai bằng cách vung vũ lực cứng của Mỹ, đe dọa Đan Mạch về quyền kiểm soát Greenland, và đề nghị sẽ giành lại kênh đào Panama. Ông đã sử dụng thành công các mối đe dọa về thuế quan trừng phạt để ép buộc Canada, Colombia và Mexico về các vấn đề nhập cư. Ông đã rút khỏi các hiệp định khí hậu Paris và Tổ chức Y tế Thế giới. Vào tháng 4, ông đã khiến thị trường toàn cầu rơi vào hỗn loạn bằng cách công bố thuế quan sâu rộng đối với các quốc gia trên toàn thế giới. Không lâu sau đó, ông đã thay đổi chiến thuật bằng cách rút lại hầu hết các mức thuế bổ sung, mặc dù vẫn tiếp tục gây sức ép cho một cuộc thương chiến với Trung Quốc – mặt trận chủ yếu trong cuộc tấn công hiện nay để chống lại đối thủ chính của Washington...
Tài liệu ghi chép lịch sử Tòa Bạch Ốc cho biết, khi nhân viên dưới thời chính quyền của Woodrow Wilson chuẩn bị dời vị trí của Vườn Hồng, họ nhìn thấy hồn ma của cố Đệ Nhất Phu Nhân Dolley Madison, phu nhân của cố Tổng thống đời thứ tư của Mỹ James Madison. Thế là, để “xoa dịu” bà Madison, họ quyết định không di dời nữa và Vườn Hồng ở nơi đó cho đến tận bây giờ. Ông Jeremiah Jerry Smith làm việc trong Toà Bạch Ốc dưới thời của chính quyền Tổng Thống Ulysses S. Grant vào cuối những năm 1860. Trong suốt 35 năm, ông là một người hầu, quản gia, đầu bếp, gác cửa, dọn dẹp văn phòng. Smith là người được các ký giả, người viết sách tìm đến khi họ muốn biết về tin tức hoặc chuyện hậu cung. Theo tài liệu lịch sử của White House, ông Smith nói từng nhìn thấy hồn ma của Lincoln, Grant, McKinley và một số đệ nhất phu nhân từ năm 1901 đến 1904.
Trong nhóm bạn bè khá thân, chúng tôi có một cặp bạn - anh chồng là người tốt bụng, dễ mến; anh yêu vợ, nhưng lại có tình ý với một người khác. Khi bạn bè nhắc, anh luôn trả lời chắc nịch: “Vợ tôi đơn giản lắm, bả ấy chẳng để ý, cũng chẳng hay biết gì đâu.”Cô vợ cũng là bạn tôi, một người hiền lành, tử tế. Khi nghe tiếng gần tiếng xa, bạn chỉ cười nhẹ nhàng: “Mình chẳng muốn biết, biết chi cho mệt, cứ nhắm mắt, rồi mọi chuyện cũng qua thôi.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.