Hôm nay,  

Nỗi Buồn Lịch Sử “Được Làm Vua, Thua Làm Giặc”

10/15/201721:27:00(View: 8588)

Nỗi Buồn Lịch Sử “Được Làm Vua, Thua Làm Giặc”
 

  • Triều Giang

 
Trong hai tháng 8 và tháng 9 vừa qua, dư luận trong  cộng đồng người Việt khắp nơi, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, đã có những cuộc tranh cãi thật sôi nổi về cuốn  phim The Vietnam War do truyền hình PBS sản xuất, đồng đạo diễn bởi hai nhà làm phim tài liệu nổi tiếng vào bậc nhất tại Hoa Kỳ hiện tại, ông Ken Burns và bà Lynn Novick.

Hầu hết mọi người Mỹ Gốc Việt sau khi xem phim The Vietnam War không khỏi buồn phiền, tức giận vì sự sai, sót, thiên vị và chủ đích nhằm rửa mặt cho sự hèn nhát và sai lầm của phe phản chiến được cổ súy và hỗ trợ nhiệt tình của Hệ Thống Truyền Hình PBS, một hệ thống truyền thông đã đóng vai trò quan trọng trong việc thất thủ của miền nam, Việt Nam. Là một trong những vai chính trong cuộc chiến tranh nhưng phim The Vietnam War chỉ dành cho Việt Nam Cộng Hòa một chỗ đứng mờ nhạt của một vai phụ để rồi họ đã không được nói lên tiếng nói của mình; vì sao họ phải chiến đấu trong cuộc chiến tranh khốc liệt máu lửa trên 20 năm, vì sao họ phải buông súng, và những gì đã xảy ra cho họ và gia đình họ trong suốt cuộc chiến tranh, nhất là sau khi cuộc chiến chấm dứt?

Để phản bác lại, đã có nhiều bài viết được đăng trên các báo giấy, báo điện tử, trên internet, và  nhiều ý kiến được nêu lên tại các buổi thảo luận do PBS tổ chức tại nhiều thành phố trên khắp nước Mỹ trước và sau khi phim The Vietnam War được chính thức chiếu vào trung tuần tháng 9 vừa qua. Những ý kiến phản bác  bằng cả hai thứ tiếng Việt và Anh đã được người Nam Việt Nam và cả cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, từng phải hy sinh rất nhiều trong cuộc chiến qua những bài tranh luận sâu sắc và giá trị, với những chứng cứ rõ ràng từ kinh nghiệm sống, từ tài liệu đã được giải mật của thư khố Quốc gia, bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, và từ những thư khố của các đơn vi quân đội của Hoa kỳ để vạch rõ những sai sót, một chiều của cuốn phim dài 18 tiếng, tốn kém đến 30 triệu Đô la, 10 năm làm việc của hằng trăm người và một chương trình quảng bá sâu rộng, ồn ào vào bậc nhất của hệ thống Truyền Hình PBS trong những tháng ngày qua.

Thế nhưng, những cuộc tranh luận dù sôi nổi đến đâu cũng sẽ có ngày lắng xuống và dần quên đi theo năm tháng. Cái còn lại là cuốn phim đồ sộ này vẫn sẽ còn đó, mãi mãi để cùng với những cuốn phim tài liệu đồ sộ về sự tốn kém cũng như chiều dài của nó như phim Vietnam Ten Thousand Day War gồm 26 phân đoạn, dài 13 giờ do nhà báo phản chiến gốc Canada, Michael Maclear đạo diễn và nhà báo Peter Arnett viết truyện phim (1980), hay phim Vietnam, A History Television dài 13 tiếng gồm 13 phân đoạn do Hệ thống PBS WGBH-TV in Boston sản xuất, với 4 đạo diễn: Judith Vecchione, Austin Hoyt, Martin Smith, Bruce Palling và 8 người viết truyện phim: Martin Smith, Elizabeth Deane, Richard Ellison, Marilyn Mellowes, Bruce Palling, Judith Vecchione và Austin Hoyt (1983). Năm 1997 phim này được cắt xén cón lại 11 giờ với 11 phân đoạn được cho chiếu lại trên hệ thống PBS và được liệt kê vào danh mục phim nói về kinh nghiệm của người Mỹ ( American Experiences), Cuốn phim này được quảng bá là cuốn phim tài liệu thành công nhất của PBS với ước lượng 9% tổng số các nóc gia xem với số lượng 9.7 triệu người. Cả hai phim kể trên làm nền tảng cho cuốn sách “Vietnam, A History” của Stanley Karnow trở thành sách bán chạy nhất trong năm 2004.

Những văn hóa phẩm phim ảnh, sách báo kể trên đều có liên quan đến Hệ thống Truyền Hình PBS mà quan điểm chống chiến tranh Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua đã không hề thay đổi; quan điểm cho rằng Hoa Kỳ đã sai lầm trong việc “xâm lăng” (invade) Việt Nam, thay thế Pháp để phải tốn kém hàng nhiều trăm tỷ Đô la và nhất là tổn thất trên 58,000 sinh mạng của người Mỹ để ủng hộ cho phe ác (wrong side-ý chỉ miền Nam Việt Nam). Lý do Mỹ và miền Nam thua là vì Quân đội Nam Việt Nam hèn nhát, không chịu chiến đấu, chính phủ Nam Việt Nam thối nát, lính Mỹ vào Việt Nam thì hiếp phụ nữ, giết trẻ con…Luận điệu này  được đóng góp thêm bởi hàng trăm những cuốn sách được viết bởi những  tác giả phản chiến, xin đơn cử một vài tác giả như Frances Fitzgerald ( Fire In The Lake, 1972), Neil Sheehan ( A Bright Shining Lie, 1988), Marylyn B. Young ( The Vietnam War, 1945-1990), Gerald Nicosia (Home To War, 2004)…Đặc biệt luận điệu này còn được phụ họa bởi một số chính trị gia còn có những ảnh hưởng trong chính trường đương đại như cựu Bộ trưởng Ngoại giao John Kerry, Bob Kerry, Henry Kissinger…

Tất nhiên, không phải các tác giả nào cũng thuộc phe phản chiến, một số cuốn sách có giá trị phản ánh sự thật viết bởi các tác giả nổi tiếng, với công tâm và được nghiên cứu kỹ lưỡng như Giáo sư Tiến sĩ Lewis Sorley (A Better War, 1999), Giáo sư Tiến sĩ Robert F. Turner ( Vietnamese Communism, Its Origin and Development, 1975), James E. Parker Jr. ( Last Man Out, 2000 & Vietnam War and Its Ownself, 2015), và một số tác giả gốc Việt viết sách bằng tiếng Anh như Cựu Đại sứ Bùi Diễm (In the Jaws of History-1999), Trương Như Tảng (A Viet Cong Memoir – 1986), Yung Krall (A Thousand Tears Falling-2011), Lan Cao (The Lotus and The Storm- 2015)…nhưng con số này còn tương đối ít ỏi. Riêng về phim tài liệu bằng tiếng Anh thì ngoài cuốn phim VIETNAMERICA  (2015) của Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) và phim tài liệu có diễn xuất Ride The Thunder (2015) do  Koster Films, LLC  sản xuất, chúng ta cũng có phim Journey of The Fall của Đạo diễn Trần Hàm nhưng phim đã được làm theo thể phim truyện, mặc dù truyện phim dựa trên sự thật nhưng vẫn có hư cấu nên rất khó có thể đưa vào học đường, thì hầu như không có cuốn nào khác có tầm cỡ được chiếu tại các rạp.

Nhìn vào cuộc diện trên, chúng ta tự đặt câu hỏi: liệu chúng ta có thể làm gì để có thể thay đổi? Để trả lại sự thật cho lịch sử? Để nói lên chính nghĩa của miền Nam Việt Nam và nhất là nói lên lời công đạo cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và hơn 2 triệu người lính Mỹ đã tham chiến, hy sinh để bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam? Để cho nhiều triệu người phải bỏ mạng trong cuộc chiến tranh khỏi phải chết vô nghĩa, và nhất là để con cháu chúng ta khỏi phải cúi mặt tủi hổ mỗi khi học về lịch sử chiến tranh Việt Nam?

Cộng đồng người Việt hải ngoại và nhất là tại Hoa Kỳ đã sống trong thế giới tự do này tuy chưa lâu như một số cộng đồng khác, nhưng cũng đủ dài để chúng ta hiểu được rằng chúng ta có thể làm bất kỳ chuyện gì mà chúng ta muốn, trong khuôn khổ luật pháp cho phép. Vì thế, việc viết sách, làm phim tài liệu  có liên quan đến chiến tranh Việt Nam bằng tiếng Anh để nói lên sự thật, để không phải chấp nhận lịch sử  “Được làm vua, thua làm giặc” là điều chúng ta có thể làm và phải làm.

Một điều may mắn là dù dư luận bị hỏa mù bởi nhóm phản chiến, nhưng vẫn có những người có công tâm nếu chúng ta trình bầy câu truyện của chúng ta với chứng cớ rõ ràng, với lý luận vững chắc, trung thực, vấn đề vẫn được chấp nhận và đón nhận. Lấy ví dụ của cuốn phim VIETNAMERICA đã ra mắt khán giả hơn 2 năm qua, đi trình chiếu gần 20 thành phố tại Hoa Kỳ và Canada và vừa được sự bảo trợ của Cộng Đồng Người Việt Liên Bang Úc Châu, hội VAHF đang chuẩn bị một Tour trình chiếu vào đầu tháng 12, 2017 tại 7 thành phố tại Úc Châu và New Zealand; qua các thành phố Victoria, Melbourne, Adelaide, Sydney, Wollongong, Brisbane và Auckland, New Zealand. Trước đó, VIETNAMERICA  cũng đã được chọn trình chiếu tại Viện Bảo Tàng Truyền Thông Hoa Kỳ là cơ quan cao quý nhất của truyền thông Hoa Kỳ và cả thế giới vào tháng 10, 2015.
blank

Nội trong hai tháng 8 và tháng 9, 2017 vừa qua, dư luận sôi nổi đổ dồn vào phim The Vietnam War, thì phim VIETNAMERICA cũng đã đón nhận được một số thành quả đáng kể như đầu tháng 8, phim được chọn trình chiếu tại Quốc Hội Hoa Kỳ đi kèm với một buổi Thảo luận với các diễn giả được nhiều người biết đến và một số nhân vật trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt đến, như hai giáo sư Lewis Sorley, Robert F. Turner, Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nhà sản xuất Nancy Bùi, Bác sĩ Cựu Đại tá Không Quân Mylene Hùynh, Charlie Quý Tôn, CEO của Regal Nails và một cuộc triễn lãm tranh của nhiều họa sĩ Mỹ Gốc Việt danh tiếng như Ann Phong, Vũ Hối, CHÓE…Xin đính kèm video tường trình của đài SBTN-DC trong Link dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=k8zY-WXIobM&feature=youtu.be

Cùng trong tháng 9, 2017, phim VIETNAMERICA được chính thức phát hành vào hệ thống Thư viện Hoa Kỳ và được đánh giá bởi nhà phát hành The AVCafe’ là phim đứng vào hàng đầu của loại phim tài liệu năm 2017 của Thư Viện “The 2017 Best Librarians Documentaries”.

Tờ Library Journal's số ra ngày September 1st, 2017 đã trân trọng giới thiệu tới độc giả với nhận xét: ” Câu truyện (phim VIETNAMERICA)  tuyệt vời này sẽ giúp khán giả hiểu biết và mang ơn vấn đề của người tị nạn, điều mà số báo này đặc biệt đặt trọng tâm vào”. Đính kèm bài nhận xét trong attachment.

Riêng tờ Video Librarians phát hành vào tháng 9 đã điểm phim VIETNAMERICA ngang hàng “Highly Recommended” với phim The Vietnam War của Ken Burns và Lynn Novik cũng được điểm phim trong cùng số báo. Đính kèm trong attachments.
blank

Chúng tôi cũng được biết hội VAHF đã phỏng vấn trên 700 nhân vật Mỹ Việt liên hệ đến cuộc chiến và người tị nạn Việt Nam trong chương trình Oral Histories của Hội. Dự định ban đầu của hội là làm một bộ phim dài 12 tiếng, gồm 6 tập nhưng vì không đủ ngân quỹ nên gói gọn vào 90 phút thành phim VIETNAMERICA và đặt trọng tâm vào lý do của cuộc chiến và tị nạn, cùng hành trình gian khổ tìm tự do để giới trẻ hiểu được nguồn gốc tị nạn của mình. Hội VAHF đã phải tạm gác những phần quan trọng khác. Hiện hội đã và đang đưa những cuộc phỏng vấn của chương trình Oral Histories vào thư khố điện tử để giới thiệu tới các Đại học qua địa chỉ: http://vietdiasporastories.omeka.net/

Từ những tài liệu có được, việc thực hiện một bộ phim tài liệu có tầm óc để đưa vào gìong chính về chiến tranh Việt Nam và hậu chiến tranh sẽ chỉ còn là ngân quỹ. So sánh ngân quỹ $350,000 để thực hiện cuốn phim VIETNAMERICA được người Mỹ đánh giá không thua gì phim The Vietnam War với kinh phí trên $30 triệu đô la thì ngân quỹ cần thiết để hoàn tất VIETNAMERICA toàn tập sẽ chỉ là một con số thật khiêm nhường mà theo thiển ý của chúng tôi, cộng đồng người Việt hải ngoại của chúng ta sẽ đủ sức để hoàn thành. Để mỗi khi các nhà sử học nói đến chiến tranh Việt Nam, họ có thêm tài liệu để có thể nghe tiếng nói về phía chúng ta, và chúng ta không còn phải sống với nỗi buốn của lịch sử:  “Được làm vua, thua làm giặc”!
blank

Cha ông của chúng ta vẫn dạy rằng” Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Chúng ta muốn để tiếng như thế nào về thế hệ của chúng ta cho những bài học lịch sử về chiến tranh Việt Nam về lý do của sự có mặt của chúng trên quê hương thứ hai này?

Người Mỹ vẫn có câu nói mà chúng ta cần phải suy nghĩ; đó là “Don’t get mad, get even”. Tạm địch là “Đừng tức giận, hãy lấy lại công bằng!”. Nếu người Việt chúng ta quyết tâm làm được điều này thì con cháu chúng ta sẽ không phải cúi mặt trước những bài học lịch sử mà thế hệ chúng ta lưu truyền lại. Hơn thế nữa, chúng ta phải làm ngay bây giờ vì những nhân chứng lịch sử cả người Việt lẫn người Mỹ trẻ nhất cũng đang ở lứa tuổi trên 60, 70 và 80, họ sẽ không còn nhiều thời gian để chờ đợi chúng ta.

Mọi liên lạc xin email về

[email protected]

Website: www.vietnamericamovie.com

  • Triều Giang

          10/2017

 

 

 

   

 

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.