Hôm nay,  

Minh Đức Hoài Trinh và nỗi cô đơn sâu thẳm- kỳ 2

23/06/201707:51:00(Xem: 11092)

Minh Đức Hoài Trinh và nỗi cô đơn sâu thẳm- kỳ 2
 

Trịnh Thanh Thủy

  

Năm 1945, bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó vì tầm nhìn xa và biết sự lợi dụng của phong trào, bà bỏ về Huế tiếp tục đi học. Ngôn ngữ và văn chương vốn đã luân lưu trong dòng máu người nữ lưu con quan Tổng Đốc đất Thần Kinh, lại hiểu rõ tầm quan trọng và lợi hại của truyền thông và văn hoá, bà chọn ngành báo chí và Hán Văn để du học tại Pháp. Ngoài tiếng mẹ đẻ, bà thông thạo nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Trung Hoa. Tốt nghiệp năm 1967, bà được Đài truyền thanh/truyền hình Pháp ORTF tuyển làm phóng viên, một nữ phóng viên đầu tiên gốc Việt. Bà được đặc phái qua các chiến trường sôi động Algérie, Do Thái và Việt Nam. Từ 1969 cho đến 1972, ORTF cử bà theo dõi và tường trình cuộc Hoà đàm Paris. Nhiệt tình và tài hoa của Minh Đức đã gây được sự tín nhiệm nghề nghiệp trong một lãnh vực truyền thông quốc tế mà lúc ấy chưa từng mở rộng cho nữ giới Việt Nam.
 

Ký giả chiến trường Kiều Mỹ Duyên là người có cơ hội tiếp xúc và có nhiều kỷ niệm với bà, Kiều Mỹ Duyên kể,

Kỷ niệm về chị Minh Đức Hoài Trinh thì nhiều lắm. Chị rất thông minh, biến ứng nhanh nhẹn, hay nói về chính trị, kể cho tôi nghe nhiều chuyện thú vị. Chị thường đi họp báo Ủy Ban Liên Hợp 4 bên và chị thường chất vấn phái đoàn CS. Câu hỏi nào của chị cũng rất hóc búa. Là người Trung, chị quan tâm đến đồng bào miền Trung, nhất là biến cố Mậu Thân. Tôi còn nhớ phòng họp báo không rộng lắm, người quốc gia thì ở bên tay mặt, người quốc gia khác thì ngồi bên tay trái. Hôm đó tôi đặt câu hỏi, “Trong biến cố Mậu Thân, các ông giết 4 giáo sư người Đức, đến VN dạy học theo diện trao đổi văn hóa quốc tế, họ dạy học đâu có làm chính trị, sao các ông lại giết họ?” Tôi nhận được nhiều tràng pháo tay vang dội vì câu hỏi này, tràng pháo tay của chị Minh Đức Hoài Trinh là dòn tan nhất, lớn nhất.”
 
blankPic 1 Phóng Viên Minh Đức Hoài Trinh làm cho đài phát thanh ORTF

Sau 1973, bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, đến năm 1975. Song song với việc thuyết trình tại các Hội thảo văn hoá quốc tế ở Indonesia, bà còn viết báo, sáng tác và cho xuất bản trên 25 tác phẩm đủ lọai. Minh Đức cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí như Bách Khoa, Phổ Thông, Sáng Tạo, Cao Đẳng Quốc Phòng. v..v.., không kể tham gia Hội Văn bút Quốc Tế và phụ trách viết "Bức thư hậu phương" đăng hằng ngày trên tờ báo Đông Phương để nâng cao tinh thần các chiến sĩ tiền tuyến. Bà còn mở nhiều lớp dạy đàn tranh, học trò rất yêu thương cô giáo, Khi tôi để bài viết về bà lên face book, vài người học trò xưa đọc được và chia sẻ những ký ức và kỷ niệm thân thương khi học đàn tranh với bà.
 

Sau 1975, bà định cư tại Paris và cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài ORTF, qua chương trình Việt Ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù, phải được trả tự do.

Một điểm son rực rỡ mà Minh Đức đã thực hiện được, là đi tiên phong trong việc đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Trước 1975, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã hoạt động và quy tụ nhiều tên tuổi lẫy lừng của nền văn học miền Nam như Thanh Lãng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Trung, Vương Hồng Sển, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyên Sa và hàng trăm văn nghệ sĩ tài ba khác.
 blank
                   Pic 2 Phóng Viên Minh Đức Hoài Trinh
 

Ngày 25 tháng 6 năm 1978, tại nhà hàng Ainbiram de Saigon ở thủ đô Paris, Pháp, hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đã được ra mắt với nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh là chủ tịch, cùng sự có mặt của Nguyên Sa Trần Bích Lan, luật sư Trần Thanh Hiệp và Trần Tam Tiệp giữ nhiệm vụ tổng thư ký.

Từ đó mỗi lần nhắc đến việc thành lập Văn Bút Hải Ngoại, người ta hay nhắc nhở đến tên tuổi của 4 người đi tiên phong trên cùng nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tuy nhiên trong một bài viết có tựa “Minh Đức Hoài Trinh và Văn Bút VN Hải Ngoại 35 năm sau” Sơn Tùng, một cựu chủ tịch Văn Bút Hải Ngoại đã khẳng định rằng, việc tranh đấu cho sự có mặt của Văn Bút, là một nỗ lực kiên cường của một mình Minh Đức Hoài Trinh trong việc phục hoạt Văn Bút ở hải ngoại, vì bà gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng.

 

Ông viết như sau “Năm 1977, dù đời sống tị nạn chưa ổn định, Minh Đức Hoài Trinh đã tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 42 ở Sydney, Úc Châu, và lên diễn đàn đưa ra những tin tức và bằng chứng về số phận đen tối của văn nghệ sĩ tại miền Nam Việt Nam sau 30.4.1975, trong đó có những hội viên Văn Bút Việt Nam (đã giải thể), để yêu cầu Văn Bút Quốc Tế lên tiếng.

 

Năm sau, 1978, Minh Đức Hoài Trinh lại một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và vận động thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, một việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng. Nhưng khi Đại Hội Đồng bỏ phiếu, kết quả thật đáng ngạc nhiên: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Ông Tổng Thư Ký VBQT Alexander Blohk hậu thuẫn cuộc vận động của Minh Đức Hoài Trinh nhưng lại bỏ phiếu trắng vì muốn giữ sự vô tư. Nếu ông bỏ phiếu thuận thì ước vọng của chị đã thành sự thật.

Không nản chí, năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, Minh Đức Hoài Trinh lại vận động thành lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VBVNHN) như một Trung tâm của Văn Bút Quốc Tế (VBQT), và đã thành công.

 

Đây là một biến cố nhiều ý nghĩa trong đời sống của người Việt tị nạn ở hải ngoại: chỉ ba năm sau cái chết của Tự Do tại Việt Nam, người cầm bút Việt Nam ở hải ngoại đã chính thức có tiếng nói tại một diễn đàn quốc tế quan trọng.

Có thể nói “không có Minh Đức Hoài Trinh thì không có Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại”, và không có sự góp mặt, góp tiếng của người Việt lưu vong tại các Đại Hội Văn Bút Quốc Tế hàng năm để bênh vực cho những người cầm bút bị đàn áp tại Việt Nam.

 

Có vài bài viết không đúng sự thật khi cho rằng Thi sĩ Nguyên Sa và Luật sư Trần Thanh Hiệp đã cùng Minh Đức Hoài Trinh lập ra VBVNHN. Trong những tài liệu liên hệ đến cuộc vận động thành lập VBVNHN qua ba kỳ Đại Hội VBQT năm 1977, 78 và 79 (biên bản, hình ảnh, báo chí) không có ai khác cả, ngoài Minh Đức Hoài Trinh.

 

Qua một lần nói chuyện với tôi, Minh Đức Hoài Trinh cho biết đã rất vất vả mới kiếm được hai mươi người, số hội viên tối thiểu, để nạp đơn xin thành lập một Trung tâm trong VBQT (có thể trong đó có Trần Thanh Hiệp và Nguyên Sa)”.
  blank
Pic 3 Phóng Viên Minh Đức Hoài Trinh trước sân điện Thái Hòa trong Hoàng thành, hướng ra phía Ngọ Môn (Huế, Tết Mậu Thân)
 

Mấy năm trời MĐHT đã vận động và tranh đấu cho sự góp mặt, góp tiếng, của người cầm bút hải ngoại trước cộng đồng giới cầm bút quốc tế hẳn có lúc bà thấy rõ nỗi cô đơn, vô vọng của mình. Nhờ có Văn Bút Hải Ngoại, sau này việc giúp đỡ và bênh vực cho các người cầm bút ở VN được trả tự do dễ dàng và hiệu quả hơn. Mối tình với nước non của bà, vậy là ai cũng hiểu, nhưng tình riêng thì, có phải cái chết của mẹ bà, của những người thân quanh bà, ngay cả bom đạn của quê hương đã ám ảnh, dằng xé trong suốt không gian của những bài thơ buồn?
 

Đêm mờ hơi sương
Đi đâu anh, đi đâu
Xin đừng đi nữa
Đỗ lại hôm nay, cởi súng buông gươm
Tội nghiệp em
Ba mươi năm khói lửa
Mải hận thù quên nói chuyện yêu đương.

Em sợ lắm
Mùi hôi tanh của màu đen, máu chết
Từ mình anh rịn thấm xuống thân em
Trời ôi, này
Sao xác anh bê bết
Lấy đất bùn thay nệm ấm chăn êm

(trích Lời của đất- MĐHT)
 

hay

Mẹ ơi ngày ấy đến
Chúng không cho con về
Ôi lũ người chưa yêu mến
Và những tấm lòng chưa biết say mê!

Lòng chúng làm bằng thép
Tim chúng vấy bùn nhơ
Cầu hư danh gượng ép
Chà đạp lên giấc mơ

Thế là hết mẹ ơi
Tầu nhổ neo đi rồi
Con không về với mẹ
Máu rướm mềm lên môi

Gục đầu bên nấm mộ
Mẹ ơi con không về
Chuông nhà thờ ai đổ
Ai nghe buồn lê thê

(trích Gục Đầu bên Mộ Mẹ-MĐHT)

  

 blank

   Pic 4 Minh Đức Hoài Trinh trong đại hội Văn Bút VN hải Ngoại

 

Một trong những bài thơ mang tâm trạng đau buồn của người con Việt lưu lạc nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn rất nổi tiếng là bài “Ai trở về xứ Việt”. Bà sáng tác bài này năm 1962 nhưng được nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ thơ sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975. Ông đã kể chúng tôi nghe một câu chuyện liên quan, trong buổi họp mặt đón chào ông từ Úc ghé thăm Cali. Tháng 10, năm 2008, tôi đã cùng Nhật Báo Viễn Đông và Phong Trào Trần Quốc Toản bảo trợ, cùng tổ chức một buổi văn nghệ "Phan Văn Hưng- Dòng Nhạc và Cây Đàn" cho NS Phan Văn Hưng. Buổi họp mặt Rehearsal đó hiện diện khoảng 10 người, có mặt BS Nhuận-chủ báo Viễn Đông, Ký giả Kiều Mỹ Duyên, nhà văn Đặng Phú Phong..v..v.. Ông đã đàn, hát những bài ông sẽ trình diễn ở buổi văn nghệ, trong đó có “Ai Trở Về Xứ Việt” phổ thơ Minh Đức Hoài Trinh. Ông không quên kể lại câu chuyện xưa “Khi Saigon thất thủ, ở Paris, chúng tôi một nhóm sinh viên họp nhau trong nghęn ngào tức tưởi, có sự hiện diện của chị Minh Đức Hoài Trinh. Ngay lúc đó, tôi lại vừa phổ xong bản nhạc Ai Trở Về Xứ Việt, thơ của chị Minh Đức Hoài Trinh. Tôi liền ôm đàn và hát, mọi người bật lên tiếng khóc, hụt hẫng như rắn mất đầu, vì tòa đại sứ VN đã bàn giao”. Ông chấm dứt câu chuyện trong giọng nghẹn ngào, đầy xúc động. Sau này, Phan Văn Hưng đã mang bài hát này đi trình diễn ở nhiều nơi và nhiều ca sĩ đã hát bài này. Khi trại cải tạo mọc lên ở khắp đất nước VN, giam cầm các người tù của chế độ, hỏi rằng người Việt xa xứ nào không thương cảm, xót xa khi hát lên bài hát của lòng này?

Ai trở về xứ Việt-MĐHT/PVH-ca sĩ Phan Văn Hưng

https://www.youtube.com/watch?v=MeJpDmawAeQ

 

Cuối cùng tôi xin lấy bài viết nhỏ này làm một nén hương tiễn biệt người nữ sĩ tài hoa mà tôi từng có lần gặp gỡ. Chúc bà an bình và thong dong, rong chơi cuối trời phương ngoại.

Trịnh Thanh Thủy
 

Tài liệu tham khảo:

Nhạc sĩ Phạm Duy - một vài chuyện tình ở Huế

http://khamphahue.com.vn/vanhoa-dulich-Hue/l-3/F7E11D40-8ED9-4E55-B1D4-1730EB4A1880/16149-nhac-si-pham-duy-mot-vai-chuyen-tinh-o-hue.aspx#.WTwo_Wjyvs0
 

Yêu nhau kiếp nào

http://thanhnien.vn/van-hoa/ky-6-yeu-nhau-kiep-nao-439759.html
 

Minh Đức Hoài Trinh  

và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại 35 Năm Sau

https://groups.google.com/forum/#!topic/diendancaulacbotinhnghesi/rtclm11lpTE

  
xem: Minh Đức Hoài Trinh và nỗi cô đơn sâu thẳm - kỳ 1
 https://vietbao.com/a268825/minh-duc-hoai-trinh-va-noi-co-don-sau-tham-ky-1

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.