Hôm nay,  

Biệt Ly

17/05/201713:14:00(Xem: 10421)
Biệt Ly
(để nhớ anh Nguyễn Đình Phú vừa đi xa, không trở về!)
 
Cao Đắc Vinh
  

Biệt ly… giây phút ngắn ngủi nhưng âm hưởng lại trĩu nặng cả một đời.

Bài “Biệt Ly” (1939) của Doãn Mẫn sáng tác trên sân ga Hàng Cỏ (Hà Nội) khi tác giả thấy những cặp tình nhân ngậm ngùi tiễn chân nhau lên đường tòng quân. Đi lính trận, có người lỡ hẹn mà cũng có kẻ vinh quang trở về… Tôi xem đây chỉ là cảnh tạm biệt chia tay.

Biệt ly thường diễn tả một tình huống xót xa hơn nhiều ví như vĩnh viễn chia lìa, đôi người đôi ngả. Biệt ly là hai thế giới cách ly đồng nghĩa với sự chết… ra đi không trở về!

Biệt ly tiếp diễn trong đời tôi nhiều lần kể từ mấy thập niên đến nay. Sinh ra sau thế chiến, tuổi đã trên 70, thuộc thế hệ “baby boomers” nên tôi đành ngậm ngùi chứng kiến người thân, bố mẹ, anh em, bạn bè… lần lượt ra đi.
 

Cảnh biệt ly gần nhất với tôi là ngày 25 tháng 4, 2017 giờ Dần canh 5, người anh cọc chèo thân thiết đã ra đi sau 2 năm chống chỏi với bệnh tật. Cùng làm rể trong một gia đình, anh ấy lấy chị, tôi lấy em. Tình cảm hiền hòa giữa chúng tôi nảy nở như đôi bạn nên thầm hiểu rằng mình vừa mất một đối tượng tâm giao tri kỷ luôn mang đến những giờ phút vui đùa hay bàn bạc về khoa học và cuộc sống.

Tôi đến thăm anh đêm cuối cùng… Anh nằm bất động, mắt nhắm như đang ngủ giữa căn phòng ấm cúng bỗng đượm màu tang tóc thê lương. Có lúc tiếng thời gian ngừng trôi vì chỉ nghe nhịp thở của anh nặng nề kéo lên từng hồi. Chúng tôi thay phiên nói lời từ biệt. Nước mắt chảy vòng quanh, con cháu đứa cầm tay vuốt ve, đứa ôm chân xoa bóp, sụt sùi trăng trối lời yêu thương vội vàng lần cuối. Giữa khoảnh khắc sinh tử “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, có một người sức tàn lực kiệt mà vẫn đơn côi chống lại định mệnh an bài… Đó là chị tôi!

 

Chị chưa tuyệt vọng nên chưa bỏ cuộc… cho dù 2 năm ròng rã từng tháng, từng ngày, từng đêm, từng giờ lo cho chồng chữa bệnh và sinh sống. Nửa đêm về sáng, bao lần chị thức giấc chỉ để trở mình cho anh khuây khỏa. Một tình yêu vô bờ bến hiếm có ở thời đại văn minh mới.

Khuôn mặt chị lúc nào cũng đăm chiêu, ít nói, biếng cười, đôi mắt đỏ hoe… Khi ở bên anh, chị thổn thức những lời yêu thương, cố vực chồng thức dậy, ra khỏi hôn mê để dành lại sự sống làm cả gia đình chột dạ. Tôi tiến đến gần chị vỗ về… hình dung một nỗi buồn mãnh liệt đang âm ỉ chờ dịp bung ra. Thân đứng đó nhưng hồn chị ở đâu? Chị khóc! Trái tim vùi dập, co thắt bất thường vì ý thức cảnh cô đơn góa bụa đang đợi chờ.
 

Biệt ly… nghìn trùng xa cách!  Biệt ly… giây phút ngắn ngủi nhưng âm hưởng từ nay lại trĩu nặng cả một đời vì mối tình này trên cả tuyệt vời! Tại sao thế? Năm 1970, xem phim “Love Story” tôi thích lời tỏ tình của Jenny Cavilleri “Love means never having to say you’re sorry” nhưng nói thì dễ, mấy ai đã làm được? Vậy mà chính mắt tôi vừa chứng kiến một người sống cho tình yêu trọn vẹn đúng ý nghĩa với câu trích dẫn đó.

Qua chuyện tình hy sinh và chung thủy này, tôi lạc quan hơn về dây tơ hồng Nguyệt lão linh thiêng kết duyên vợ chồng. Cảm ơn chị đã tô điểm nét đẹp muôn màu của mối tình trăm năm tưởng chỉ thấy trong văn chương mà có thật ở ngoài đời. Vâng! Đã yêu một người tất có hy sinh và phải chấp nhận biệt ly… một lần trong đời.
 

Biệt ly... “nhớ nhung từ đây” (nhạc D Mẫn) khi con tàu đời ghé bến, bỏ trên sân ga một người đứng bơ vơ khóc một người vừa nằm xuống. Biệt ly... “đoạn trường ai có qua cầu mới hay” (Kiều) nếu cơn mưa chưa qua thì trời vẫn chưa sáng, lòng người nặng trĩu đau thương nhưng rồi sớm muộn gì con tàu đời cũng sẽ hụ còi lăn bánh và có mang theo người thân bơ vơ ấy tiếp tục cuộc hành trình hay không hẳn còn tùy vào nỗi buồn biệt ly ít nhiều… phôi pha!

05/17/2017

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Không chỉ thường xuyên xua quân đi canh cửa, an ninh Thanh Hóa còn liên tục gửi giấy mời, giấy triệu tập như là một thủ trấn áp tinh thần bà Nguyễn Thị Lành - vợ của Mục sư, TNLT Nguyễn Trung Tôn. Chồng bị bỏ tù, một mình bà Nguyễn Thị Lành phải vất vả gánh vác gia đình. Những ngày qua càng thêm vất vả bởi chăm mẹ chồng lớn tuổi mắc bệnh phải nhập viện, và con bị tật nguyền. Nhưng bà Lành vẫn liên tục bị an ninh tỉnh Thanh Hóa sách nhiễu, đe dọa…
Những người Mỹ gốc Việt bênh hay chống ông là điều bình thường, vì những quyết định cũng như cách hành xử của ông sẽ ảnh hưởng lên đời sống của họ và tương lai con cháu họ, và ngược lại, là công dân HK, họ có trong tay lá phiếu để ảnh hưởng khiến ông Trump có được tiếp tục làm tổng thống nữa không. Do đó, lưu tâm và tham dự vào những đánh giá đúng sai, khen chê, tâng bốc, hay moi móc thói hư tật xấu của người đang ứng cử điều khiển vận mạng quốc gia của họ thêm 4 năm nữa (và sẽ để lại những hậu quả lâu hơn) là hiện tượng bình thường .
Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư ... Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.
Người Pháp gặp nhau, bắt tay, hoặc ôm hun ở má, tay vừa vỗ lưng vài cái nếu thân mật lắm, buông ra, nhìn nhau và hỏi «Mạnh giỏi thế nào?». Người Pháp mang tâm lý sợ sệt, nhứt là sợ chết sau nhiều trận đại dịch, từ dịch Tây-ban-nha giết chết gần phân nửa dân số âu châu. Người Tàu, gặp nhau, chào và hỏi ngay «Ăn cơm chưa?». Ăn cơm rồi là hôm đó sống hạnh phúc vì phần đông người Tàu đói triền miên. Trốn nạn đói, chạy qua Việt nam tỵ nạn, vẫn còn mang nỗi ám ảnh nạn đói. Còn người Việt nam xứ Nam kỳ chào nhau và hỏi thăm «Mần ăn ra sao?». Gốc nghèo khó ở ngoài Bắc, ngoài Trung, đơn thân độc mã, vào Nam sanh sống giữa cảnh trời nước mênh mông, đồng hoang lau sậy, thoát cái nghèo là niềm mong ước từ lúc rời người làng, kẻ nước.
Thiệt đọc mà muốn ứa nước mắt luôn. Sao mà xui xẻo dữ vậy Trời? Tôi sống theo kiểu check by check, có đồng nào xào đồng đó, chưa bao giờ dư ra được một xu. Hai tháng trước, vì (hay nhờ) dịch Vũ Hán, nhà nước Hoa Kỳ thương tình gửi phụ thêm cho 1,200.00 USD. Trộm nghĩ mình cũng đã đến lúc gần đất xa trời rồi nên lật đật bỏ số tiền này vô ngân hàng, dành vào việc hoả táng. Vụ này tui đã dọ giá rồi, tốn đâu cỡ gần ngàn. Vài trăm còn lại để con cháu mua chút đỉnh hương hoa, cho nó giống với người ta, ngó cũng phần nào đỡ tủi.
Có vẻ như con người thời nay càng lúc càng trở nên lười biếng, thụ động; nhất là từ khi nhân loại bước vào kỷ nguyên tin học, truyền thông liên mạng. Tin học đã đem con người khắp hành tinh gần lại với nhau, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chính nó bị con người lạm dụng để bóp méo, biến dạng sự thực cho những mục tiêu bất chính của cá nhân, bè phái.
Sau 95 năm gào cùng một giọng nền Báo chí gọi là “cách mạng” của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn trơn tru uốn lưỡi phóng ra câu giả dối rằng:”Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.” (báo Quân đội Nhân dân (QĐND), ngày 15/6/2020). Điều không thật này đã được Ban Tuyên giáo, tổ chức tuyên truyền và chỉ huy báo chí-truyền thông sử dụng từ lâu, nay được lập lại để kỷ niệm 95 năm ngày gọi là “Báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/1925-21/6/2020).
“Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.” (Ngưng trích: Nguyễn Long Thao- DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM)
Các cuộc khủng hoảng lớn lao có các hậu quả trầm trọng, thường không tiên đoán được. Cuộc Đại Khủng hoảng trong thập niên 1930 đã thúc đẩy trào lưu cô lập, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Đệ nhị Thế chiến, nhưng cũng dẫn đến biện pháp hồi phục kinh tế New Deal, sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một siêu cường toàn cầu, và cuối cùng là tiến trình xoá bỏ thực dân. Các cuộc tấn công trong ngày 11 tháng 9 đã tạo ra cho Mỹ hai sự can thiệp thất bại, sự trỗi dậy của Iran và các hình thức mới của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tạo ra một sự đột biến trong trào lưu dân tuý chống các định chế chính trị lâu đời để thay thế cho các nhà lãnh đạo trên toàn cầu. Các nhà sử học trong tương lai sẽ theo dõi và so sánh những ảnh hưởng lan rộng đến cơn đại dịch virus corona hiện nay; thách thức cho họ là hình dung ra trước được các ảnh hưởng.
Bác sỹ Tom Dooley qua đời năm 1961. Mãi đến vài chục năm sau, tôi mới biết đến tác phẩm đầu tay của ông (Deliver Us from Evil) do Farrar, Straus & Cudahy xuất bản từ 1956. Đây là một tập bút ký, có hình ảnh minh hoạ đính kèm, về cuộc di cư ồ ạt (vào giữa thế kỷ trước) của hằng triệu người dân Việt. Họ ra đi chỉ với hành trang duy nhất là niềm tin vào tình người, và không khí tự do, ở bên kia vỹ tuyến. Rồi họ đã được tiếp đón, hoà nhập và sinh sống ra sao nơi miền đất mới? Câu trả lời có thể tìm được – phần nào – qua một tác phẩm khác (Sài Gòn – Chuyện Đời Của Phố) của Phạm Công Luận, do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2013.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.