Hôm nay,  

Những anh hùng thấm mệt

1/20/201706:25:00(View: 9872)
Câu chuyện cuối năm. LES HEROS SONT FATIGUES
 
Những anh hùng thấm mệt
 
Giao Chỉ, San Jose
 

Câu chuyện thứ nhất "Trung tướng Ngô Quang Trưởng"

                          C:\Users\Giao Chi\Desktop\5.jpg

 
Cuối năm Bính Thân, đọc trên Net có những lời sau đây, chợt thấy buồn phiền.
 

1)  Nguyên văn như sau.

-Trong Tập San Y Sĩ Canada (nổi tiếng chống CS), số 154, trang 12, BS Nguyễn Lưu Viên, 1 trí thức người Nam, cựu Tổng Trưởng đă có nhận xét về Ngô Quang Trưởng như sau :  
Trưởng thúc thủ, bỏ thuộc hạ, lội chập chũm ra tầu biển." Danh Tướng này bị Thiệu giam ở bộ Tổng Tham Mưu "" Ranh Tướng này đă bỏ hết thuộc hạ, lội bì bõm ra biển, ngửa tay xin nhờ tầu Mỹ vớt. Trưởng đă được Tướng Kỳ cứu tử, ngưng y quên ơn cứu tử ngay.  
 

Đối với anh em cựu chiến binh cao niên chúng tôi, ông Trưởng vừa là sĩ quan cao cấp, vừa là niên trưởng, cùng khóa Cương Quyết , chúng tôi vẫn có phần kính trọng. Nay nghe bác sĩ Nguyễn Lưu Viên phê phán như thế, xem ra cũng buồn phiền. Sở dĩ phải quan tâm vì Bác sĩ Viên vốn là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng văn hóa giáo dục thập niên 60. Bèn gửi thư hỏi thăm bác sĩ Thân Trọng An bên Canada, hiện đang phụ trách tờ báo liên hệ.  
 

2) Bác sĩ An gửi qua bài viết nguyên văn của bác sĩ Viên như sau:

"Nhơn dịp này tôi cũng muốn kiểm lại một việc mà tôi đã viết về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Một danh tướng quốc tế là tướng Norman Schwarzkopf,  (Người anh hùng đã chiến thắng "The Golf War dưới thời tổng thống Bush bố) mà ca tụng cái tài của một tướng VNCH như vậy là hết lời, Thế mà rồi, rốt cuộc, binh nghiệp của tướng VNCH ấy đã phải kết thúc trong cảnh thúc thủ khóc hận, bỏ thuộc hạ lội chập chũm ra tàu biển, chỉ vì một lệnh rút lui bỏ Quảng trị, bỏ Huế" Rồi khi triệt binh được nửa chừng thì một phản lệnh phải giữ Huế với bất cứ giá nào của ông tổng thống VNCH."
 

3) Đọc được nguyên văn nhận xét của bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, tôi hiểu rằng cá nhân bác sĩ Viên biết chuyện và có phần thông cảm về hoàn cảnh của tướng Ngô Quang Trưởng. Phần bình luận viết thêm về ông Trưởng là do vị bác sĩ ở bên Pháp. Vị này có lẽ cũng chỉ nghe nói nên viết ra những lời cay đắng. Xin nhắc lại như sau.  " Danh Tướng này bị Thiệu giam ở bộ Tổng Tham Mưu " Ranh Tướng này đã bỏ hết thuộc hạ, lội bì bõm ra biển, ngửa tay xin nhờ tầu Mỹ vớt. Trưởng đã được Tướng Kỳ cứu tử, nhưng y quên ơn cứu tử ngay.
 

4)Tôi xin có ý kiến: Huyền thoại anh hùng của tướng Ngô Quang Trưởng là chuyện có thực. Suốt một đời chinh chiến, ông Trưởng hết sức kín tiếng. Bài báo nói về chuyện bỏ Huế, bỏ vùng 1 cũng không phải ông Trưởng là tác giả. Ông nhà báo gốc hải quân cùng với Nguyên Sa ngồi hỏi chuyện ông Trưởng rồi phóng tác. Năm xưa Asia thu hình trên DC tôi hỏi chuyện ông Truởng, ông chỉ cười và nói rằng chẳng cần mình xác làm gì. Những giờ phút đau thương nghiệt ngã của mặt trận Vùng 1 và vùng 2 là thảm kịch của các vị tư lệnh quân đoàn, của toàn quân và của cả đất nước. Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Vùng 2 và trung tướng Ngô Quang Trưởng, Vùng 1 vào năm 75 nếu nói thẳng với vị tổng tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu xin từ chức. Nếu thưa rằng, tổng thống chỉ thị cho chúng tôi quyết tâm ở lại chiến đấu, xin nhận lệnh thi hành. Nếu ra lệnh triệt thoái trong hoàn cảnh này xin giao cho người khác. Nhưng với trên 20 năm quân vụ, sống trong quân kỷ, các vị chiến binh đeo sao đã không biết nói không với thượng cấp. Ông Phú tự vẫn trước khi tướng Minh tuyên bố đầu hàng. Ông Trưởng hoàn toàn im lặng suốt cuộc đời di tản lưu vong. Dù quê ở Bạc Liêu nhưng ông sống chết cả đời chinh chiến với miền Trung. Khi ông ra đi, di hài được phu nhân trải tro trên đèo Hải Vân. Trên đỉnh núi cao của giữa miền đất Quảng, nhìn về phương Bắc năm 1972 nơi ông chỉ huy hàng ngàn lính Dù và Thủy quân Lục chiến hy sinh để cắm lại ngọn cờ trên Cổ Thành Quảng Trị. Nhìn về phương Nam, năm 1975 nơi thảm kịch xảy ra trên bãi biển Đà Nẵng, đưa đến ngày chấm dứt cuộc chiến tranh.
 blank

 
Khi tôi viết lại những hàng chữ này, ngồi trên lầu hai của Việt Museum. Trước mặt là bản đồ quân sự hành quân của Vùng 1 và trên bàn có lá cờ phủ quan tài ông Trưởng. Hoàng hôn xuống dần vào một buổi chiều giông bão cuối năm âm lịch. San Jose History Park bắt đầu chuẩn bị đóng cửa. Tôi nhớ lại 42 năm trước những kỷ niệm đau thương ở Cam Ranh. Phụ tá cho tướng Trang, chúng tôi từ Tổng Tham Mưu ra đón và tái tổ chức quân đoàn 1 và 2. Nhưng lúc đó tướng Trang đã bay vào miền Nam.Tướng Diệp Quang Thủy qua bên Hải Quân. Đại tá Huy, của sư đoàn Nhảy Dù về lại Sài Gòn với lính Mũ đỏ. Đại tá Mai Duy Thưởng chỉ huy bán đảo Cam Ranh cũng suôi Nam bằng đường biển. Quay đi quay lại chỉ còn tôi và đại tá Trường ở lại Cam Ranh.Tướng Nhựt, sự đoàn 2 trên đoàn tàu di tàn từ miến Trung ghé Cam Ranh cho biết ông Trưởng đang nằm dưới tàu hải quân. Máy bay C47 của đại tướng Cao Văn Viên từ mây trời hải đảo liên lạc xuống có lệnh đón vị tư lệnh vùng 1. Ông Trưởng từ chối xin ở lại tàu hải quân về cùng lính Thủy quân Lục chiến.Tôi báo cho C47 bay về Sài Gòn. Sau đó chúng tôi gần như là người cuối cùng di chuyển qua bên hải quân để theo tàu về Phú Quốc.
 
Tiếp theo vào những ngày Sài Gòn bị vây hãm, trung tướng Đôn lên nhận chức vụ tổng trưởng quốc phòng đã ra lệnh phạt một số các vị tướng lãnh trách nhiệm tại Vùng 1 và 2. Các vị này phải tập trung tại câu lạc bộ Tổng tham Mưu để viết báo cáo. Nhưng riêng tướng Phú và tướng Trưởng nằm tại Tổng y Viện Cộng Hỏa. Ngày 29 tháng tư-1975 quý vị tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trường đã ra đi. Phía Hoa Kỳ hết sức lưu tâm muốn các vị tướng lãnh còn lại sau đây được di tản. Tướng Kỳ có trực thăng riêng và đã biết rõ lộ trình. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, vị tham mưu tưởng liên quân cuối cùng, và 2 vị tư lệnh quân đoàn là tướng Ngô Quang Trưởng và tướng Phạm Văn Phú. Ông Phú từ tổng y viện về nhà uống thuốc độc tự vẫn. Từ những ngày trước, trung tá Nguyễn Đình Bá chánh văn phòng ông Khuyên đã được lệnh đưa gia đình ông Khuyên và ông Trưởng qua bên Dao để di tản.Trưa ngày 29 tháng tư, ông Kỳ bay vào Tổng Tham Mưu để hỏi thăm tin tức. Tướng Khuyên cho biết hoàn toàn hết hy vọng. Trước khi rời tổng tham mưu bay đi, ông Kỳ kéo theo ông Trưởng. Nếu tướng Trưởng không lên trực thăng của ông Kỳ thì chắc chắn phía bên Dao sẽ cho người hối thúc ông Khuyên và ông Trưởng ra đi bằng được nội trong đêm 29 tháng tư. Nếu ông Phú không tự vẫn thì chắc chắn cũng được phía Hoa Kỳ cho người đến tận nhà để yêu cầu di tản.
 
Chúng tôi là những người nhân chứng còn lại để ghi những sự kiện chính xác nhất đặc biệt về tướng Ngô Quang Trưởng. Không có chuyện ông Trưởng xin tàu Mỹ vớt tại Đà Nẵng. Ông không bị giam tại TTM và không có chuyện ông Kỳ cứu ông Trưởng nên phải mang ơn. Ngoài sự hiểu biết cá nhân, hiện nay vị phi công trực thăng của ông Kỳ ở cùng khu mobil home với chúng tôi. Các chánh văn phòng và sỹ quan tùy viên của tướng Khuyên vẫn còn liên lạc, Những trang quân sử chúng tôi ghi lại về những ngày 30 tháng tư và toàn bộ cuộc chiến sẽ     là những tin tức chính xác để quý vị quan tâm được biết. Bao nhiên chiến hữu cao niên của chúng tôi biết chuyện phải quấy trong chiến tranh đều đã ra đi.


 

Câu chuyện thứ hai. Khóa Cương Quyết.

Năm 1953 và 1954 là những năm quân trường Thủ Đức và Đà Lạt đào tạo các khóa sĩ quan trừ bị được mang tên Cương Quyết. Khóa Cương Quyết chính có 2 người mà chiến hữu thường biết tiếng.Trung tá Nguyễn Mộng Hùng tức Hùng xùi, Bắc Kỳ vẫn còn sống tại San Jose. Ông ở lại đi tù cộng sản trên 10 năm và vẫn nổi tiếng là người nói rất nhiều chuyện hấp dẫn. Nói đến Ngô Quang Trưởng ông luôn luôn ghi nhớ. Trưởng ngủ giường trên, moi nằm dưới. Người thứ hai của khóa chính là trung tướng Ngô Quang Trưởng. Ông Trưởng di tản 1975, góc Nam Kỳ, rất ít nói và ngày nay đã qua đời. Sau khóa Cương Quyết chính là đến khóa của chúng tôi. Khóa Cương Quyết phụ. Năm 1972 ông Trưởng là tư lệnh quân đoàn 1 chỉ huy trận tái chiếm Quảng Trị. Một sự tình cờ đặc biệt có 3 đại tá chỉ huy 3 lữ đoàn TQLC và Nhảy dù đánh trận Quảng Trị. Cả 3 đều là SVSQ khóa Cương Quyết 2 của trường Đà Lạt. Trần Quốc Lịch, nhảy dù. Ngô Văn Định và Phạm Văn Chung của TQLC. Ông Trưởng đã ra đi nhưng các anh em Cương Quyết đánh trận Quảng Trị may mắn thay vẫn còn đang đợi chờ. Tất cả đều là anh hùng thấm mệt. Hàng ngày lên Net toàn thấy chuyện trời ơi đất hỡi. Các vị tổng thống đã ra đi. Tư lệnh quân đoàn thời kỳ 75 chẳng còn ai. Người biết không nói. Người nói không biết. Đất tự do sinh ra một đám  người chuyên chụp mũ chửi bậy. Ca dao có câu rằng. Gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay. Các cậu viết tin tức thường phong thần quân ta quá mức. Rồi thì các tay chửi bới cũng toàn chụp mũ bá láp. Không đâu vào đâu. Riêng anh em chúng tôi vẫn nắm tay nhau trong tình chiến hữu. Năm 2004 Khóa Cương Quyết số 2 tổ chức 50 năm họp khóa ngậm ngùi, Giao Chỉ làm được bài thơ kỷ niệm. Tưởng rằng 10 năm sau họp mặt 2014 ghi dấu 60 năm còn khả quan hơn, sẽ làm thêm bài thơ ngon lành. Bây giờ đã quá 60 năm dài mới biết ngày mai không hơn được hôm qua. Xin gửi đến các bạn bè bốn phương bài thơ cũ kỹ cuối cùng của một thời oanh liệt. Xin tưởng niệm bạn cùng khóa chính và khóa phụ Cương Quyết Thủ Đức Đà Lạt 1953-1954. Những liệt sĩ đã ra đi và các anh hùng mỏi mệt còn ở lại...
 

C:\Users\Giao Chi\Desktop\Hoi truong Dan sinh.jpg


Bài ca họp khóa.
 
Giao Chỉ, San Jose.
 

Lời nói đầu: Tác giả là đại tá Vũ Văn Lộc, sinh viên sỹ quan khóa Cương Quyết 2 Võ Bị Liên quân Đà Lạt 1954. Sáng tác nhân dịp 50 Năm Họp Khóa Ngậm Ngùi (1954-2004) vào tháng 3-2004 tại Orange County, California.
 

Thưa chư liệt vị.
Khóa chúng tôi đây. Dở giăng , dở đèn. Môn chẳng ra môn, khoai chẳng ra khoai. Cầm giấy khai sinh Thủ Đức, chẳng phải đấng sinh thành. Công ơn dưỡng dục mẹ nuôi, đàn con nhớ về Đà Lạt.
 
Năm hai mươi tuổi, anh đi quân đội. Ngày vào trường, năm Năm Mươi bốn. Tổ quốc còn đủ hai đầu Sài Gòn-Hà Nội. Khi mãn khóa ngày Một Tháng Mười. Genève cưa đôi đất nước, chia ra hai mảnh Bắc Nam.  
Đang thụ huấn, Điện Biên Phủ, Tây kéo cờ hàng. Trong quân trường, điểm trung bình, đôn lên hai nấc. Lúc quỳ xuống, vẫn còn là sinh viên sĩ quan. Khi đứng lên, có anh chỉ còn cặp lon trung sĩ. Chân dậm đất, tay đấm ngực, miệng kêu trời.

Rồi sau cùng, Dù lính dù quan, cũng chia nhau mà về đủ các vùng chiến thuật. Anh đội mũ đỏ nhảy dù, tôi về mũ xanh lính thủy. Đi tới đi lui cũng quanh quẩn Cà Mâu-Bến Hải. Sáu mười phần trăm lấy vợ Nam Kỳ… Bỏ lại nửa mối tình đầu Hà Nội.
 
 Hai mươi mốt năm, chinh chiến ngược suôi. Anh đi tàu suốt, tôi ốm yếu xanh xao…Nhận sổ quân y ba mươi ngày tái khám.  Người lên lon lá huy hoàng, ngực đỏ huân chương cứu quốc. Có cậu lả lướt dăm bảy mảnh tình. Có anh hiền lành, giữ mãi tơ duyên một chỗ.
 
Vào cuộc chiến, tôi đánh Bình Xuyên…Xuống miền Tây, ông vây Hòa Hảo. Vào trận Mậu Thân, bị đánh phủ đầu, Quân ta đã huy hoàng đứng dậy. Mùa Hè đỏ lửa, bị địch quân đập trúng ngang lưng, Mà sao lính Cộng Hòa vẫn còn gân mạnh mẽ phi thường. Từ Bình Long anh dũng, Nguyễn Kiếm Diệm gan lỳ ngồi trên nóc hầm, đội pháo, ăn cơm. Cho đến khi vào Hạ Lào gian khổ, Ngô Lê Tĩnh đái một bãi trên đất Tchepone, theo đúng lệnh quân hành ông Thiệu.
Nhưng chiến tranh đâu phải chuyện đùa. Nhất tướng công danh thành vạn cốt khô. Giữa chốn sa trường Quảng Trị, Xuân Phan đền xong nợ nước. Trong hầm hành quân Hạ Lào,  Văn Hiền tự sát hiển linh.
Rồi có lệnh hạ thành Quảng Trị. Nhảy dù Quốc Lịch thay quân cho mũ xanh Ngô Định lên phiên. Hào khí ngất trời.
Cho đến ngày trời sầu đất thảm tháng Tư Đen. Đỗ Đình Vượng dẫn trung đoàn về đồn trại thân yêu. Ngước nhìn trời Lai Khê thấy cay cay khóe mắt. Người ngậm tăm, súng đeo vai buồn bã. Ngồi ăn trưa với ông Tư Lệnh cơm nuốt không vô. Miếng vải trắng ai đã treo trên nóc ngọn cờ. Lê Nguyên Vỹ đi một đường tự sát. Đỗ Vượng bèn cho quân lính hồi hương để sĩ quan Cương Quyết xếp hàng, vào tù cải tạo. Riêng mình Nguyễn Đình Duy tự kết liểu cuộc đời cùng với thành Sài Gòn sụp đổ.
 
Kính thưa chư liệt vị, Khóa chúng tôi đây, Khóa di cư chạy loạn, từ Bắc vào Nam…cùng với nhân dân đã kiến tạo hai nền Cộng Hòa…và hai mươi mốt năm xây nhà, dựng nước. Paris ký Hiệp Ước Hòa Bình, Nguyễn Thế Nhã đón tù binh Nghiêm Kế trở về bến sông Thạch Hãn.Tưởng rằng phen này trong ấm ngoài êm. Chẳng hiểu vì sao, chỉ một tháng trời oan nghiệt, quân cán chánh chạy dài từ dọc xuống ngang…để anh em chúng tôi cũng phải chia phần, làm tan đàn xẩy gánh. Đám nhanh chân chạy thoát khá nhiều, người ở lại chịu đọa đày cũng lắm. Bước chân đi mặt còn ngoảnh lại, phía chân trời xiềng xích trông theo. HO qua Mỹ, tổn thất quá phần ba. Gặp lại anh em vừa yếu lại vừa già. Hai mươi mốt năm chinh chiến đã trôi qua. Thêm hai mươi chín năm cải tạo cộng với lưu đày. Là vừa đủ năm chục năm tròn gian khổ. Vì vậy nên mới có hôm nay, tháng Ba năm Lẻ Bốn. Chúng tôi về đây, dành lại một ngày cho Năm Mươi Năm Họp Khóa Ngậm Ngùi. Để đếm đầu người, xem anh em, ai còn, ai mất. Ba trăm chàng trai đất Bắc, giờ đây chỉ còn lại bảy chục bác cao niên. Già thật là già. Lão ơi là lão. Nước mắt đã khô rồi. Gặp nhau chỉ cười thôi. Chẳng phải lần đầu, nhưng biết đâu đây sẽ là lần cuối. Sợ thì ông đếch sợ, nhưng buồn thật là buồn.
 
Thưa quý vị.
Bầy ong thợ về già sẽ bay đi bốn phương trời trong cuộc hành trình vĩnh biệt. Nhưng con cá Hồi suốt đời vùng vẫy biển khơi vẫn phải trở về họp bạn ở nơi nguồn gốc. Khóa chúng tôi không phải lũ ong chơi xong rồi bỏ cuộc. Chúng tôi là những con cá Hồi lương thiện, năm mươi năm trở về tìm lại anh em.
 

Vì vậy nên có thơ rằng

Hai mươi năm tuổi trẻ, hai mươi năm chiến chinh. Hai mươi năm tù ngục. Hai mươi năm điêu linh.
Năm bảy lăm tiền kiếp. Tháng tư đuổi sau lưng. Mang tuổi đời chồng chất, cùng vượt thác băng ngàn.
Tuổi hoa niên cắt ngắn. mái tóc bạc dài thêm. Tay nắm tay cằn cỗi. Lòng mở rộng tấm lòng.
 Năm mươi năm hội ngộ. Một thế kỷ vừa qua. Hoa mai vàng nở sớm. Gặp nhau những muộn màng..

Giao Chỉ San Jose.. C:\Users\Giao Chi\Desktop\_TVL4561small.png






Reader's Comment
1/21/201716:00:34
Guest
Các Bác đừng buồn ! Quá khứ Việt nam đau lòng bao nhiêu thì trong tương lai sẽ tăng gấp bội vì tuổi trẻ bây giờ được đào tạo phải biết tự lâp! Sống hôm nay không cần ngày mai, sống cho ta mà thôi, hai chữ (Quê Hương và Tổ Quốc nghe sao lạ quắt và xa vời) Chỉ cầu mong Thưọng Đế thương tặng cho tuổi trẻ Việt trái tim yêu Quê Hương Dân Tộc là hạnh phúc cả đời người !
1/21/201715:27:53
Guest
Xin tiếp lời ông Nguyễn Huân, ông Lộc nên viết thế này thì mới có thể đúng hơn: "Les Héros sont fatigués" vì từ Fatigue ông viết là danh từ . Xin ông đại tá sửa lại cho. Cám ơn ông.
1/21/201715:09:43
Guest
Ông Lộc thân mến,
Như ông đã viết: "Khóa chúng tôi đây. Dở giăng , dở đèn. Môn chẳng ra môn, khoai chẳng ra khoai..." Ông viết rất đúng vì trong bài viết này ông thích dùng tiếng Pháp và tiếng Anh (thay vì tiếng Việt) để nói lên cái biết "dở giăng, dở đèn " của ông, nhưng cả hai ông đều viết sai (Héros chứ không phải Heros, Gulf chứ không phải Golf). Lần sau ông nên viết toàn tiếng Việt thì hay và dễ đọc hơn. Xin cám ơn ông cựu đại....tá..
1/21/201702:41:08
Guest
Kính trọng các bác, các chú đã hy sinh nhiều cho đất nước VN.
1/21/201702:22:47
Guest
Chỉ cần thực hiện " cú nhứ " chứ Cố Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu không cần phải đi đâu cả , ngài cứ ngồi uống rượu ở BTTM thì " Bắc Việt " cũng chẳng dám xuất quân. Còn nếu BTTM và Tổng thống cho phép Cố Trung Tướng ra tay thì phe Võ Nguyên Giáp sẽ quy phụng Cờ Vàng đồng nghĩa với VNCH đã là một cường quốc!...
1/21/201701:03:38
Guest
Chiến dịch Linebacker chỉ thắng về mặt quân sự nhưng hoàn toàn thất bại về mặt binh pháp . Binh pháp " Cây gậy và củ cà rốt " kém xa binh pháp " khổ nhục kế " và " hồi mã thương " . Lúc ấy, các sỹ quan " tập kết " chỉ huy pháo cao xạ đã hiểu rõ là họ phải đầu hàng , còn các " Sỹ quan Nam Việt " thì chở bom trút hết xuống Quãng Trị nơi đồng không nhà trống - Sự kiện này không có gì là bí mật.

Nhìn vào cuộc chiến Triều Tiên, cuối 1953 Khrushchyov được lệnh phải tiến vào biển Đông qua lá bài " Chủ nghĩa xét lại " . Năm 1956 , Mao tiến chiếm đảo Phú Lâm . Nội các của cố TT Nguyễn Văn Thiệu chắc chắn sẽ đặt nhiều dấu hỏi là điều dễ hiểu... Nhưng Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là người thích nghiền ngẫm bản đồ Thế giới nên việc xử lý " cuộc chiến Hoàng Sa " là một điều.... vô cùng đáng tiếc khi trong binh pháp cũng có câu " Một cú nhứ bằng ba cú đấm " ...." Bắc Việt" đã không dám tấn công miền Nam nếu " Cuộc chiến Hoàng Sa " được xử lý tốt.
1/20/201723:56:23
Guest
" ...Quyết định cuối cùng " đang ở trước mắt ...Ai phạm SAI LẦM lần này sẽ phải " gánh đủ và trả đủ " ! ....
1/20/201723:46:29
Guest
Kính gửi Bác Lộc ,
" Cuộc chiến Hoàng Sa " đã quyết định ...số phận miền Nam hết rồi ! Các Chú Bác có trung thành với Tổ Quốc , cùng lý tưởng với Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng không thể kiềm nổi ....Xa hơn nữa ,ám sát được Cố TT Ngô Đình Diệm và hạ bệ Võ Nguyên Giáp thì " họ " đã cầm chắc " thắng lợi phản quốc " ! ...
1/20/201717:21:59
Guest
Nguyễn lưu Viên. " Viên bi" này có lẽ giỏi nịnh bợ , chạy chọt nên nội các nào cũng có mặt - từ nội các Trần Văn Hương, nội các Nguyễn Cao Kỳ đến nội các Trần Thiện Khiêm .
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.