Hôm nay,  

Nguyễn Hữu Liêm Đưa Ra "Một Triết Học Về Lịch Sử Việt"

07/11/201610:30:00(Xem: 17418)

NGUYỄN HỮU LIÊM ĐƯA RA "MỘT TRIẾT HỌC VỀ LỊCH SỬ VIỆT"

 

Lê Giang Trần

 

Nguyễn Hữu Liêm là một nhà văn triết học, tôi gọi vậy, vì từ khi ông xuất hiện trên văn đàn đã tuần tự xuất bản:

- Dân Chủ Pháp Trị: Luật pháp, Công lý, tự do và Trật tự Xã hội (1991)

- Tự Do và Đạo Lý: Đọc và Khai giải triết học Pháp quyền Hegel (1996)

- Thời Tính, Hữu Thể, Ý Chí: Một luận đề Siêu hình học (2014)

 

Và vào dịp lễ Tạ Ơn / Thanksgiving năm nay (2016), ông sẽ trình làng văn học một tác phẩm mới: Sử Tính và Ý Thức, được chua thêm tiểu tựa: Một triết học về lịch sử Việt. (Available at Amazon.com on Thanksgiving 2016)

 

Và, tôi may mắn được ông giao việc dàn trang cho quyển sách này, nhờ thế, trong việc làm, tôi được đọc qua đôi ba lần tác phẩm này; cảm nhận đây là một công trình công phu của ông và có lẽ ông đã cưu mang trong tâm tưởng từ lâu lắm, có thể theo tôi đoán, từ khi ông đi ra khỏi nước nhà, sống tại Hoa Kỳ và còn trở thành một giáo sư dạy môn Triết tại San Jose City College, California.

 

Có thể lắm. Với kiến thức chính yếu triết học, ông đã cưu mang một nỗi niềm “vong quốc”, để từ đó ông xét lại lịch sử của nước Việt Nam trải dài từ thời mới lập quốc, đến kiến quốc, sang "một ngàn năm nô lệ giặc Tàu", "một trăm năm đô hộ giặc Tây", "ba mươi năm nội chiến từng ngày" (như Trịnh Công Sơn đưa vào nhạc phẩm "Gia Tài Của Mẹ") với một lăng kính triết lý mà ông thừa khả năng lý luận, lập luận, ghi thành tác phẩm "Sử Tính và Ý Thức" và giới thiệu đến chúng ta, ít ra là những người Việt sống lưu vong ngoài thế giới, cũng như sẽ giúp cho thế hệ trẻ sau này qua tác phẩm giá trị này, có thêm cái nhìn mang tính triết học về lịch sử của Việt Nam quê mẹ, chứ không bị ám ảnh hay thu thập hiểu biết lịch sử về "Mother Land" của mình một cách thô thiển và đầy tính tuyên truyền của nhà cầm quyền Cộng sản VN sau khi chiếm đoạt trọn vẹn miền Nam nước Việt, với danh xưng của "Bên Thắng Cuộc", họ tha hồ  dựng lên một lịch sử hoàn toàn bằng lời lẽ của kẻ chiến thắng. Dù ngẫm cũng đúng, lịch sử lịch sử thường "nằm trong tay" kẻ thắng trận, Âu Tây cũng thế, không riêng gì trời Đông.

 

Tôi có một kiến thức hết sức giới hạn trong lãnh vực triết học, mặc dù tôi biết khuyết điểm của mình nên bỏ công sưu tầm và đọc được một sách Triết học; dù thế, vẫn tự biết mức độ hiểu biết của mình về chuyên môn này thật là ít ỏi. Tôi phải nêu ra như vậy, vì tôi muốn nói rằng, không vì thế mà tôi đọc những tác phẩm luận đề về triết lại không hiểu"trời trăng mây nước" gì cả. Hiểu theo tâm tính mình, hiểu theo tâm hồn mình, và hiểu theo tri thức chủ quan có giới hạn của mình, trong một tinh thần cởi mở chân tình đứng về phía tác giả, để biết lắng nghe những gì trình bày. Và tôi tin rằng độc giả đọc quyển sách "Sử Tính và Ý Thức" cũng sẽ như thế. Dẫn nhập trước khi dẫn độc giả đi vào nội dung khai triển, Nguyễn Hữu Liêm mở lời:

 

Đây là một hành trình Sử Lý qua cái Ta của Việt tộc trong tiến trình khai mở năng lực tự ý thức. Như là một nhân thể, quốc gia Việt Nam được thụ thai từ đời Hồng Bàng, qua các vua Hùng và suốt 10 thế kỷ cưu mang, chính thức khai sinh chào đời với nhà Đinh, đến thời kỳ lớn dậy trong ý thức thân xác / lãnh thổ, nuôi dưỡng sinh mệnh qua các thời Lý, Trần, Lê, đến những thời kỳ tự phân thể, nội chiến, khủng hoảng để hồi sinh và trưởng thành.

 

Trên hành trình 20 thế kỷ nầy, trong ý chí của một dân tộc bị nô lệ, cái Ta dân tộc đã trải qua những chặng đường trên trường biện chứng chủ-nô giữa cái Ta của Việt chống đối cái Ta nhà Hán, nhà Phật chống nhà Khổng, nhà Nho chống Thực dân, Đế quốc, Cá nhân chống Đại thể, Đạo đức (Morality) đối nghịch Luân lý (Ethics), cái Sẽ Là đối với cái Đã Là. Đây là một thiên trường sử của một năng lực tự-Ngã trên con đường tranh đấu để được công nhận đồng lúc tự soi sáng chính mình. Khi biện chứng chủ-nô đối với ngoại lực được hoàn tất năm 1975,thì cái Ta dân tộc phải đang trải qua một vòng biện chứng nội tại khác, trong một bản sắc tự ý thức mới, khi vai trò chủ-nô trở nên một cuộc nội chiến âm ỉ nhằm kiến lập một căn cước tính Sẽ Phải Là cho quốc gia.

......

Trên cơ sở triết học của chữ Thời, chúng ta hãy cùng nhau bước lên một tầm cao hơn nhằm nhìn lại lịch sử của chính mình, để không bị vướng mắc và giam hãm trong ý thức và tâm lý chính trị giới hạn, để thông hiểu cái logic đằng sau những biến cố thăng trầm trên chuyến tàu lịch sử của cái Ta dân tộc hiện nay vẫn còn đang nỗ lực khai sáng năng lực tự ý thức cho mình." (tr. 15)

 

Rồi bước vào Chương thứ nhất, ông khéo mời gọi:

 

Đã đến lúc chúng ta, người Việt Nam, hay cho những ai quan tâm đến Việt Nam, hãy nhìn lại lịch sử Việt từ góc độ triết học. Thế nào là góc độ triết học? Lịch sử, hay bất cứ một đối thể nào mà tri thức con người cần thông hiểu, đều là sản phẩm của kiến tạo và phiên giải. Khi nhìn lịch sử trên cơ sở triết học, chúng ta nhìn quá khứ Đã Là qua các phạm trù siêu hình khi mà sự kiện và sử liệu từ thời gian đã được chuyển hóa và nâng lên tầm mức khái niệm.

 

Từ đó, dần theo chiều dài của tác phẩm, tác giả nêu lên những giai đoạn lịch sử mà những mấu chốt này đã khiến cho ông tư duy nhìn ra "tính triết học", nhìn ra "bản chất" của vấn đề, hoặc nhẹ nhàng hơn, là những "nguyên nhân" để từ đó đột phát, hoặc kéo dài trì trệ, hoặc là "sự lặp lại" của lịch sử v.v... Những điều mang tính triết lý cao thâm này, được tác giả giải thích cũng như định nghĩa qua một số danh từ, chủ yếu như "Sử Tính", như sau:

 

"Con người là sinh vật Sử Tính, và họ là nạn nhân của Lịch sử khi họ đứng quá gần với biến cố thuần trên căn bản của sự kiện và những yếu tố thực nghiệm để rồi bị đắm chìm trong chuyện đã xảy ra, nhận diện chính mình trên một bình diện biến cố, tự cho mình một quan điểm về sự thật sự kiện, vững cứ trên một số nguyên tắc đạo đức, hay niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, mang một lập trường thiên vị về một góc độ tình cảm nào đó cho chuyện quá khứ.

 

Từ sự định hình tình cảm về Lịch sử, nhất là những chuyện vừa xảy ra khi mà cuộc đời của họ hay là gia đình, thân thuộc đã nhúng tay vào một phe phái thời cuộc, thì Lịch sử không còn nằm ở phạm trù khái niệm mà là của tình cảm và xúc động cá nhân. Trên cương vị bình thường là một con người trong một quốc gia hay thời đại, ít ai có thể vượt qua. Nhưng đó là điều mà người học triết cần bước qua. Đây là viễn kiến và chủ đích của triết học lịch sử: Vượt qua thiên kiến và những điều kiện tâm lý cá nhân nhằm thông hiểu Lịch sử trên cơ sở khái niệm từ một chiều cao vừa đủ." (tr.22)

 

Ở trang 29 vẫn còn trong chương I, cũng rất đáng lưu tâm độc giả khi ông nhấn mạnh:

 

Từ góc độ cá nhân là một con người Việt Nam, sinh ra và vướng vào nghiệp căn của dân tộc nầy, có thể chúng ta đã quá quan trọng hóa lịch sử Việt. Nhưng rất có thể, chuyện Đã Là của một hiện tượng quốc gia và dân tộc được biết đến là Việt Nam chỉ là một chuyện rất nhỏ, một chú thích không quan yếu, một biểu dấu không lớn lao gì trên quá trình tiến hóa của văn minh nhân loại toàn cầu. Chuyện Việt Nam không phải là một thiết yếu tính lịch sử. Quốc gia nầy có thể đã không sinh ra và phát triển, hay đã bị diệt vong chung cùng với số phận của hàng trăm hiện tượng quốc thể bị chết yểu suốt cả ngàn năm qua.

 

Ông viết tiếp,

 

Sử Tính là trình độ và bản sắc Thời Ý được hiện thân qua biến cố, anh hùng lịch sử, và muôn vàn thể trạng khác nhau, từ hình thái nhân văn, kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật – và cả cấu trúc vật thể và thiên nhiên. Khi ý chí quốc dân đã định hình thành một bản sắc, một cơ sở cố vị, một mẫu số chung, thì dù với bao nhiêu biến số thời cuộc, thì Sử Tính của một quốc gia vẫn chỉ thay đổi trong vòng chu vi giới hạn cho mức độ khả thể và khả thi của khối quần chúng và thời đại đó. Đó chính là Sử Mệnh của một nước. Ở đây, chúng ta sẽ cố gắng khai phá, thăm dò, truy cứu sử liệu Việt nhằm đưa ra một đề án suy lý về những yếu tố và điều kiện con người, địa lý, vị thế quốc tế trong vô vàn biến số liên hệ để tìm xem bản sắc Sử Tính Việt – với biên độ giới hạn cũng như tầm mức khả thể của nó. Đây là đề án triết học nhằm thử nắm được Thời mệnh của Sử Tính Việt trên các phạm trù khái niệm của chữ Thời.

(tr. 40)

 

Sử Tính Việt Nam khởi đi bằng ý chí vươn thoát Trung Hoa. Tuy nhiên, từ trong Sử Tính đầy bất khuất tích cực đó mà Sử Tính Việt đã được tô đậm bởi một tâm thức phủ định: tâm lý hận thù và nhục nhã. Đây là một tâm thức nô lệ. Mỗi lần bị đô hộ là một lần quốc thể đã bị chết – nhưng đó cũng là một cơ hội tái sinh cho một tổ quốc thực hữu tốt hơn, mạnh hơn, độc lập và tiến hóa cao hơn. Và vì vậy mà cho dù bao lần chết đi, sống lại, tâm ý Việt vẫn bị giam hãm bởi thực tế nghiệt ngã của một nước nhược tiểu bị kềm kẹp bởi người Tàu. Mặc cảm tự ty – cũng như hận thù – đối với Trung Hoa dần dần nô lệ hóa ý chí Việt.(tr. 87)

 

Chương IV với tiêu đề: "Sử Tính Việt Qua Các Thời Kỳ", tác giả không quên lưu ý chúng ta về cái tên của mảnh đất quê mẹ chúng ta, khởi thủy ra sao, rồi quốc hiệu được "tước phong" bởi đại quốc Trung Hoa với chủ ý miệt thị, sau một tiến trình lịch sử lâu dài gìn giữ đất nước, chống lại sự xăm lăng của nước Tàu, hãnh diện tuyên bố với đại quốc phương Bắc rằng "Nam đế sơn hà Nam đế cư", để từ sử-ý ấy, cái-ta-Việt tự khoác cho mình một ý nghĩa hãnh tiến:

 

"Việt" là "VƯỢT", Việt Nam là TIẾN VỀ PHƯƠNG NAM, VƯỢT BIÊN về Nam, rất phù hợp với dòng lịch sử của Bách Việt, di thoát xuống phương Nam trước sức ép chiến tranh trong lãnh địa rộng lớn nơi phương Bắc luôn bị xâu xé từ thời "Đông Châu Liệt Quốc"; rồi người Việt còn "mở mang bờ cõi" (danh từ hãnh diện tự hào của kẻ chiếm nước khác bằng hành động xâm lăng), nước Việt TẤN xuống phương Nam, tiêu diệt vài nước nhỏ, tạo thành một hình thể chữ S như nước Việt ngày nay. Và, trong quyển sách này, người Việt Nam lại một lần nữa VƯỢT ĐI, VƯỢT BIÊN đi ra ngoài thế giới, từ đó, nhìn lại SỬ TÍNH mà phát sinh Ý THỨC, một ý thức sẽ thực thi tạo nên một nước Việt xứng đáng, phục hồi lại mỹ danh từng được thế giới ca tụng là "Hòn Ngọc Viễn Đông".

 

Cũng theo Ngô Sĩ Liên thì Bách Việt là từ mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người khác Hán sống ở miền Nam Trung quốc thời xưa. Theo đó, thì tên Việt (Yueh), Bách Việt, hay Lạc Việt,Việt Thường (Yueh Sang) lần đầu xuất hiện trong Sử Ký của Tư Mã Thiên (khoảng năm 91 trước CN). Cũng theo Keith Weller Taylor thì từ “Việt” (Yueh) là một tên gọi khinh thường mà người Hán dùng khi nói đến những dân mọi rợ, kém văn minh ở phía nam. Trong đó có từ Lạc (Lac Yueh) cũng là một tên gọi như thế khi nói về các dân tộc thoái hóa. Từ Âu (Ou) trong Âu Lạc, cũng vậy, là một từ nói về một phe cánh quân phiệt cực đoan của truyền thống Trung Hoa.

Vậy Ta đã thấy rằng từ khởi nguyên của ý chí lập quốc, trên bình diện ngôn ngữ, dân tộc Việt đã lấy một tên gọi về một định danh tiêu cực, hạ cấp để biến tên gọi nầy thành một căn cước tính đầy hãnh diện. Từ “Việt” dần dần mang một ý nghĩa tích cực trong tâm ý dân Việt: Việt là vượt, là vươn thoát, là giải phóng, là thoát ly. Ý chí lập quốc của dân Việt, trên bình diện ngôn ngữ, đã biến một thuộc tính của Trung Hoa, a Chinese predicate, thành nên một chủ thể lịch sử – a historical subject. Về Sử Tính thì đây chính là một năng ý phủ định và xác định trong biện chứng sáng thành của tâm thức dân tộc.(tr.102-103)

 

Với những dẫn chứng, dẫn giải lưu ý quan trọng như trên, đã buộc tôi phải đọc cẩn trọng những điều ông phân tích, lý luận, nhằm sáng tỏ mục đích của tác phẩm. Có một "nhận xét" về "con người Việt" trải qua xuyên suốt lịch sử của đất nước cho đến hiện thời, là điều khiến tôi thú vị vô cùng, vì dường như tôi cũng có nhìn thấy tương tựa như vậy (dĩ nhiên không qua lăng kính triết học), từ khi bản thân trải qua biến cố lịch sử mất miền Nam tự do rồi trở thành người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ, khi bước ra khỏi xứ Việt, bước ra ngoài thế giới, mở tầm nhìn về văn minh, nâng cao tư duy về nhân bản, bấy giờ tôi cảm thấy thật xấu hổ về con người lạc hậu của mình sống nơi một quốc gia chậm tiến; nhờ biết xấu hổ, tôi đã "trưởng thành", học hỏi những cái hay của xứ người, nếp văn minh của những dân tộc đã được quốc gia của họ cung cấp cho một nền tảng trí thức, rồi từ đó, có những con người tri thức thăng hoa hiến mình cho xã hội, nhân loại, hay ít ra đóng góp cho chính đất nước của họ, như ở nước Mỹ chẳng hạn, thu góp và sinh sôi nẩy nở biết bao nhân tài. Nhưng TÀI chưa đủ, còn đòi hỏi thêm ĐỨC, lấy điển hình từ một chức quan nhỏ nhẫn đến muốn ứng cử ngôi vị tổng thống, cá nhân người ấy phải có một lý lịch "sạch sẽ" và cộng thêm "đạo đức", đôi khi chỉ vì người hôn phối vợ hay chồng của họ có quá khứ không tốt lành sẽ làm cho cá nhân ra tranh cử bị loại khỏi danh sách ứng cử viên.

 

Tác giả nêu lên nhận thức về con người Việt mà ông gọi là: "Một lịch trình khôn lớn cho đứa trẻ Việt Nam" như sau:

 

"Nếu chúng ta coi Việt Nam qua hai ngàn năm lịch sử như là sự ra đời của một con người thì Ta sẽ có một biểu trình như sau. Chín thế kỷ đầu Công nguyên, từ khi hai Bà Trưng xưng vương đến khi Đinh Bộ Lĩnh thành hình nước Đại Cồ Việt ở thế kỷ thứ X, đại diện cho chín tháng mang thai của bà mẹ Sử Tính Việt. Đứa bé Việt Nam ra đời và được nuôi dưỡng bởi ý thức Việt tộc trong đạo lý nhà Khổng và Phật giáo trong triều Lý. Ở cuối triều Lý, 1010-1225,thì đứa trẻ lên tám. Nhà Trần, 1225-1400, nuôi chú bé lên 10, và nhà Lê, 1428-1527, lên 12. Thời nội chiến Mạc, Trịnh, Nguyễn đến khi Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh, 1527-1789, thì chú em lên 13. Triều đại nhà Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại, 1802-1945, thì chú em nay là chàng ở cửa thiếu niên tuổi 14. Triều đại Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản, 1945-2010, đưa chú em lên 15 tuổi. Và ở thời điểm nầy, thập niên thứ nhì của thế kỷ XXI, chàng thiếu niên Việt Nam đang bước vào tuổi 16. Tức là, sau 20 thế kỷ, cái Ta dân tộc Việt đã đi được một đoạn đường khá xa và dài, nhiều gập ghềnh lên xuống và gãy đoạn, nhưng cũng chỉ được trưởng thành lên đến tuổi thiếu niên Ở đầu thế kỷ XXI, cái Ta dân tộc bước vào tuổi thanh-thiếu niên của 16 nhờ tiếp xúc học hỏi với văn minh Âu Mỹ. Chàng bắt đầu ý thức được chủ đích và ý nghĩa cuộc đời và ý thức đượcmình phải làm gì thực tế cho đời mình.

.....

Về mặt tích cực thì chàng thiếu niên Việt đã mang một năng lực ý chí sinh tồn, một truyền thống Khát Sống và Hiếu Thắng cao độ cộng với một bản sắc tự-Ngã đầy tự ái dân tộc. Anh

siêng năng học hỏi, khai phá – nhưng lại ít khi đào đến được chiều sâu cho đối tượng nghiên cứu. Cái Ta dân tộc ở giai đoạn hiện nay là vậy: Một thiếu niên 16 tuổi, nửa quê, nửa tỉnh, nhiều ý chí thành đạt và đầy tham vọng nhưng thiếu chiều sâu, ít kiên nhẫn, một mặt thì chân thành, nhưng cũng nhiều ảo tưởng. Bi kịch Sử Lý Việt Nam trong suốt thế kỷ qua là bi kịch của một anh thiếu thời ở tuổi 15 vừa từ quê lên tỉnh, đầy nhiệt huyết, bắt đầu có lý tưởng, biết

yêu đương, sinh lý và tâm lý đang phát huy cao độ – nhưng không có một nền văn hóa chủ đạo vững chắc nhằm điều hướng chọn lựa cho đại thể tính quốc gia. Từ đó, từng bước chân đi tới trên hành trình Sử Lý đã trở nên những mò mẫm thử nghiệm trong bóng tối vô minh. Thảm họa lịch sử cho dân tộc, do đó, là kết quả không thể tránh khỏi."(Ch. XV)

 

Tác phẩm này có tựa đề với hai đại danh từ, tiếp theo sau "Sử Tính" sẽ là "Ý Thức", nghĩa là sau khi chúng ta thu liễm được thế nào là sử tính, hẳn nhiên "nhận thức" ấy sẽ phát sinh ra "ý thức". Từ đây, chúng ta đã biết NÊN làm gì và PHẢI làm gì, vấn đề còn lại đòi hỏi là HOW? /

LÀM THẾ NÀO? và WHO? / AI ĐỨNG LÊN LÀM?; dĩ nhiên, THỜI TÍNH ẤY (WHEN?) phải chín muồi, khi dữ kiện chín muồi thì LỊCH SỬ xảy ra. Cũng trong chương XV là chương

khép lại tác phẩm, Nguyễn Hữu Liêm lập luận rằng:

 

Đối với ý chí Sử Tính, con người mang hai nỗi sợ: Sợ chết và sợ sai lầm. Ở thế hệ cha ông và của những chiến sĩ đấu tranh dành độc lập, suốt chiều dài lịch sử Việt, từ các dân quân thời hai Bà Trưng đến các anh Việt Cộng của Mặt Trận GPMN, cái Ta dân tộc đã mang ý chí hy sinh thân mạng để họ không biết sợ chết, coi cái chết nhẹ như bông hồng, và là một phần cuộc sống. Chân lý Sử Tính được hiện thực từ cái chết. Nhưng họ đã không biết đến, không ý thức được cứu cánh đấu tranh trên khái niệm sai-đúng. Họ đã không biết sai lầm là gì. Tuy nhiên, ở chân trời tự ý thức của cái Ta dân tộc hôm nay, đang có một vài tín hiệu hy vọng.

Cái Ta chính trị quốc thể mới đang khai mở năng lực tự-Ngã trên các phạm trù khái niệm chính trị phổ quát - thay vì bằng ý chí hy sinh thân mạng như tổ tiên đã. Cái Ta hôm nay không còn đương đầu với cái chết, vì họ đấu tranh trên bình diện chính trị và tư tưởng. Nhưng Ta phải đối diện với khả thể đúng-sai trong hành động. Và chỉ có một nỗi lo sợ cần phải vượt qua – đó là sợ sai lầm.

...

Hiện nay, chúng ta phải biết là cái Ta dân tộc đang ở Thời Quán nào. Hãy nhìn vấn đề vượt qua mặt nổi hiện tượng để ta có thể có một nhận xét khách quan và bình thản hơn. Đất nước và con người Việt Nam ở Thời Quán hôm nay đang đi vào cơn thoái trào cách mạng của ý chí

lịch sử mà HCM đã khai mở. Khi đại thể tính quốc gia, mà hiện thân là Đảng Ta và nhà nước, cùng tập thể cán bộ đảng viên, đang đi vào trào lưu vong thân, thoái hóa và băng hoại,

thì tất cả đều chỉ đi theo quy luật tự nhiên của biện chứng tự ý thức. Cái gì cũng có cái Thời của nó. Cái gì lên càng cao thì nó càng xuống thấp. Đảng Ta và đất nước nầy cũng theo quy luật nầy. Bây giờ, vấn đề là cơn nước thủy triều còn rút xuống bao xa và bao lâu nữa? Cả dân tộc, và cả nhân loại trong cộng đồng thế giới, cùng đang chia sẻ con đường Sử Lý của cái Ta nầy.

 

Nơi chương cuối, trước khi kết luận, phần tiểu đề: "Cứu cánh Nhân thức", tác giả nhấn mạnh:

 

Lịch sử Việt Nam là một phần của lịch sử thế giới. Cái Ta dân tộc là một phần tử trong tổng thể cái Ta nhân loại. Cái Ta trong Sử Tính Việt mang cho nó một bản sắc tự ý thức riêng, một Sử Tính tiến hóa khác, nhưng đồng thời nó vẫn nằm trong nhịp độ và vận tốc tiến hóa cho cái

Ta nhân loại. Không có quốc gia, dân tộc nào thoát ra khỏi quy trình chuyển động nầy....

 

Vả ông kết luận:

 

Sử Tính mang một bản sắc cứu cánh nội tại phát huy và hiện thân theo logic của Thời Lý. Đó là mệnh đề cơ bản mà luận đề triết học Sử Lý nầy đưa ra. Xin hãy nhớ rằng hành trình còn xa, rất xa cho cái Ta dân tộc nầy vốn đang ở lứa tuổi 15, đi tới 16. Cho đến một ngày, ở tuối 21 đến 30, hay xa hơn nữa ở tuổi 50, – để cho cái Ta dân tộc lớn lên một tuổi thì phải cần đến một thế kỷ Sử Tính – khi mà “ngũ thập tri thiên mệnh” thì cái Ta của Việt Nam mới có cơ hội phát huy cao độ tiềm năng Nhân Thức cho mình. Đó mà lúc mà – xin nhắc lại thêm lần nữa – cá nhân lớn lên thành cá thể, cá thể dung thông với đại thể, ý thức hóa giải vô thức,

cái Đang Là nắm tay với Sẽ Là, quốc gia lớn lên thành quốc thể, để cá thể trở nên công dân. Đây là Thời Quán mà tổng thể sinh hiện từ chủ quan đến khách quan được đồng quy trên biện chứng tự ý thức, khi chủ và nô không còn nữa, và ý chí lịch sử sẽ là năng lực tinh thần mới cho một khả thể hạnh phúc từ thực tế khách quan đến đời sống nội tâm. Đó chính là lúc mà Ý Niệm Nhân Thức đã dung hợp với khái niệm và thực tại để cho chữ Thời và ý Sử sẽ không còn là mối bận tâm cho chúng ta.

Tác giả dùng từ ngữ "Nhân Thức", ý thức của con người, trong chiều hướng "nhân bản" triệt để, điều mà từ cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XI được các nước tự do hùng mạnh như Mỹ cổ súy, mong muốn các nước chậm tiến nên coi trọng CON NGƯỜI và nâng cao GIÁ TRỊ CON NGƯỜI, vì từ nghìn xưa chính con người đã tự đặt vị trí của sinh loại con người lên trên

tất cả sinh loại muôn loài; đến thời đại con người tự hào đã vươn lên tầm VĂN MINH tột độ như thời đại hôm nay, con người không thể còn bị con người bạc đãi nữa. Cho nên, thế giới tự

do lên tiếng đòi hỏi những quốc gia còn tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản đã lỗi thời, họ nên sớm sủa thay đổi phương thức cai trị, chấm dứt trò chà đạp NHÂN QUYỀN; đồng thời, những cá thể và tập thể ở những nước tự do dân chủ cũng góp tay TRANH ĐẤU CHO NHÂN QUYỀN, can thiệp vào những hành động đàn áp nhân nhân quyền, điển hình như ở Tây Tạng vừa qua, bị Trung Cộng dẹp bỏ một khu làng tu học, đã đàn áp và đánh đập tàn nhẫn những nhà sư cùng dân làng can đảm đứng lên biểu tình chống lại sự việc vô nhân đạo này. Trong chiều hướng toàn thế giới tự do phát huy và cổ võ về nhân quyền như thế, đối với chúng ta là những con người Việt Nam được sống ngoài thế giới tự do, ắt chúng ta khi nhìn vào xã hội trong nước Việt Nam đang-là như thế, sao chúng ta không khỏi bất nhẫn, một dân tộc tự hào có "4,000 năm văn hiến" lẽ nào lại mãi chịu nhu nhược bởi một chế độ Cộng sản cai trị người dân đầy bạo lực bạo tàn? Nói theo danh từ triết học, không lẽ "Sử Tính" của đất nước Việt hiện tại không đánh động gì đến NHÂN TÂM để phát sinh được một "Ý Thức", một "Nhân Thức" cứu nước hay sao?

lê giang trần

(11/06, 2016)

 

 



Ý kiến bạn đọc
08/11/201618:23:46
Khách
N-H-Liêm dạy ở SAN JOSE là niềm hãnh diện của người Việt.Nhưng Trí mà Thức chưa thì không rõ ? Bài còi hụ Lê Giang Trần đọc chưa?
Thời kỳ kinh tế US slow down,sẵn dịp GET JOB ,phần lớn về VN nói là để thăm người thân, và khoe luôn .
Đó là thực tại .
LÊ GIANG TRẦN "open mind" giúp đọc gỉa.
08/11/201612:19:02
Khách
Đáng khinh bỉ một tên "trí thức" có tư tưởng chính trị thay đổi như con tắc kè này.
08/11/201607:50:41
Khách
Đừng mất thời gian và tiền bạc để đọc Nguyễn Hữu Liêm !
Viết cái gì rườm rà , trên mây , không thấy thực tế đất nước từ 1975 đến nay đang đứng trên bờ phá sản lần thứ hai .
Cất công đi giới thiệu một tác giả kém nhận thức , ngụy tín ( và về tư cách đạo đức, ông Liêm cũng chẳng trung thành với vợ của ông ) để trình bầy những vấn đề cao xa hơn khả năng , cũng là việc làm thật đáng tiếc :-(

Hết ý !
08/11/201600:31:56
Khách
Khỏi đọc bài chủ vì tôi đã biết Nguyễn hữu Liêm là ai.

Nguyễn hữu Liêm là một trong số những người từ Mỹ bay về Hà Nội tham dự “Đại hội người Việt ở nước ngoài” do Cộng Sản Hà Nội tổ chức năm 2009. Sau đó, Nguyễn Hữu Liêm viết bài “Nơi giữa Đại Hội Việt Kiều: Một nỗi bình an”của mình “. Nguyễn hữu Liêm viết : "Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam..."

Và rằng " Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước. Tôi thầm cảm thấy mình thật sự bình an khi đất nước này đã mở rộng vòng tay đón tôi trở về ..."

Và rằng : " Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về! " .
07/11/201619:30:55
Khách
Trích NGUYỄN HỮU LIÊM – NƠI GIỮA ĐẠI HỘI VIỆT KIỀU: MỘT NỖI BÌNH AN, Talawas: "Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước."

Nguyễn Hữu Liêm có taì đổi maù vàng-đỏ, trắng-đen nhanh vậy sao?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.