Hôm nay,  

Kỷ Niệm 60 Năm Kháng Chiến Cách Mạng Budapest Hung Gia Lợi

23/10/201617:38:00(Xem: 5578)
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
KỶ NIỆM 60 NĂM KHÁNG CHIẾN CÁCH MẠNG 
BUDAPEST HUNG GIA LỢI 
23.10.1956 – 23.10.2016
 
Vinh Danh Em, bài thơ tưởng niệm em Géza Kindernay
13 tuổi, ngã gục ngày 7 tháng 11 năm 1956 tại Budapest

 

Đôi lời cùng bạn đọc

 

          Bài thơ "Vinh Danh Em" của thi hữu Nguyên Hoàng Bảo Việt được viết 60 năm trước đây. Viết sau khi các sư đoàn hồng quân gồm có khoảng 200 ngàn lính và hơn 2000 chiến xa sô viết tràn ngập đất nước Magyar, đàn áp trong máu lửa cuộc Kháng Chiến giành Độc Lập Tự Do phát khởi từ Budapest. Cuộc Kháng Chiến tự bộc phát cũng là cuộc Cách Mạng "Dân Tộc-Dân Quyền-Dân Sinh" Hung Gia Lợi. Trong biến cố lịch sử bi hùng đó, có ít nhứt hai vạn người dân nổi dậy ở thủ đô, phần đông là sinh viên và công nhân, đã bị thảm sát, mất tích hoặc tử thương ngay trên khắp các khu phố từ trung tâm Budapest ra ngoại biên và các thành phố khác. Chưa kể hàng chục ngàn người bị bắt giam, tra tấn, hành quyết nhiều năm sau. Từ hai đến ba trăm ngàn người phải vượt biên tị nạn để thoát khỏi cuộc lùng bắt của quân xâm lược và tay sai bản xứ. Tham gia cuộc Đại Vận Hành của Lịch sử là những người yêu nước, đa số còn rất trẻ, khao khát tự do dân chủ và công bằng xã hội. Thế hệ trẻ Hung Gia Lợi đã nhiệt thành dấn thân, tự nguyện, chấp nhận số phận rủi ro, kể cả sự hy sinh tuẩn tiết chỉ vì họ không thể chịu đựng được nữa những sự lừa dối hàng ngày của giới lãnh đạo cộng sản cũng như sự khiếp sợ công an mật vụ đã từng chế ngự gia đình hoặc bản thân họ từ còn bé nhỏ.

            Cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nổ tại Budapest từ ngày 23 tháng 10 năm 1956. Biến cố đã xảy ra sau khi Tổng bí thư đảng cộng sản từ chối đáp ứng 16 điểm Yêu sách ghi trong Quyết Nghị của tập thể Sinh viên họp Đại hội ngày 19 tháng 10 năm 1956. Thêm nữa, còn cấm họ tập họp biểu tình, cùng với công nhân và các thành phần xã hội khác đến đặt vòng hoa tại chân tượng những anh hùng dân tộc Hung Gia Lợi. Trong Quyết Nghị Yêu sách về Chính Trị, Kinh Tế và Ý Thức Hệ, một số điểm viết như sau: (1) Chúng tôi đòi quân đội sô viết rút lui tức khắc...(2) Chúng tôi đòi bầu các lãnh tụ mới của đảng bằng phiếu kín... (5) Chúng tôi đòi tổ chức tổng tuyển cử trên toàn quốc với phương thức phổ thông đầu phiếu, bỏ thăm kín và có sự tham gia của nhiều đảng chính trị để bầu một Quốc hội mới. Chúng tôi đòi công nhân có quyền đình công...(12) Chúng tôi đòi toàn diện quyền tự do ngôn luận và phát biểu, tự do báo chí và tự do phát thanh vô tuyến, một tờ báo mới cho Liên Hội các đoàn thể sinh vỉên trung học và đại học Hung Gia Lợi... (13) Chúng tôi đòi dời đi càng sớm càng tốt pho tượng Staline, biểu tượng của chế độ chính trị áp bức tàn bạo kiểu Staliniste và dựng lên tại chỗ đó Tưởng Niệm Đài xứng đáng với các vị anh hùng liệt sĩ hy sinh cho Tự do và Dân tộc Magyars... (15) Tuổi trẻ  Đại học Kỹ thuật Budapest đồng thanh bày tỏ tình đoàn kết trọn vẹn với công nhân và tuổi trẻ Ba Lan và Varsovie có quan hệ với Cao Trào Độc Lập Quốc Gia Ba Lan. 

          Đó là cuộc Cách Mạng của Niềm Tin và Hy Vọng khôi phục Độc Lập,Tự Do, Dân Chủ và Phẩm Giá Con Người. Cuộc Tổng Khởi Nghĩa bị thất bại đau thương vì ‘’tuổi trẻ thanh xuân’’ Budapest làm sao có thể trường kỳ đối kháng chống lại xích sắt chiến xa và hỏa lực đại bác của đế quốc siêu cường Liên Sô. Nhưng tinh thần Budapest Magyar kiên cường bất khuất không thất thủ. Gia tài trân quý của những chiến sĩ Tự Do Hung Gia Lợi xây dựng từ nửa thế kỷ trước đã được gìn giữ bảo quản nguyên vẹn trải qua bao nghịch cảnh khốc liệt. Những hạt mầm của Niềm Tin và Hy Vọng không hề bị hủy diệt. Và những người sống sót, và thế hệ tương lai, âm thầm tiếp thay... Cho nên đến năm 1989, một mùa Xuân mới nở hoa thơm, với bầy chim nhộn nhịp trở về, chân son không khoen sắt, giọng hót thơm nức niềm hân hoan. ..

            Trở lại Budapest, 10 năm trước, vào dịp Lễ Kỷ Niệm 50 năm Kháng Chiến Cách Mạng 23.10.1956 – 23.10.2006, bài thơ Vinh Danh Em đã được dịch ra tiếng Hung Gia Lợi và phổ biến đến nhiều bạn hữu và bạn đọc của một số tập san tạp chí trên đất nước Magyar. Tuần báo phát hành toàn quốc Magyar Világ (Thế Giới Hung Gia Lợi) số ra ngày 20 tháng 4 năm 2006 đã đặc biệt giới thiệu bài thơ Vinh Danh Em dưới tựa đề : Tiếng tăm vang dội thế giới của cuộc Cách Mạng và cuộc Kháng Chiến giành Độc Lập Hung Gia Lợi năm 1956.

‘’Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, rất đông người đi tị nạn lánh xa chế độ cộng sản. Trong số đó có nhà thơ lưu vong Nguyên Hoàng Bảo Việt. Ông còn giữ lại nhiều dấu vết ghi sâu đậm trong trí nhớ về cuộc Cách Mạng Hung Gia Lợi năm 1956. Thuở ấy, tại Pháp, ông gặp người bạn István Kindernay, sau này là Tổng Thư ký Liên đoàn Thế giới Chiến sĩ Hung Gia Lợi tại Âu châu. Istvan Kindernay kể cho nhà thơ Việt Nam tị nạn cộng sản biết về đứa em trai của ông. Géza Kindernay (13 tuổi) đã chiến đấu và tử thương như thế nào trong những trận đánh chống quân đội sô viết tại Budapest. Câu chuyện đó đã tạo nên nguồn cảm hứng cho Nguyên Hoàng Bảo Việt viết một bài thơ để vinh danh người anh hùng trẻ tuổi Hung Gia Lợi. Đó là bài thơ Vinh Danh Em đăng dưới đây’’.

          Hội ngộ với Budapest Hung Gia Lợi vào những Ngày Tháng Lịch Sử càng làm cho chúng ta thương nhớ hơn nữa Sài Gòn Huế và Hà Nội đang ở trong vòng kiềm kẹp trấn áp khắc nghiệt của bạo quyền Cộng sản. Chúng ta thương nhớhơn nữa đồng bào, bà con, anh chị em, bạn hữu bất hạnh và thiếu may mắn bị buộc phải sống mấy thập niên dưới một chế độ phi nhân phi nghĩa, dối trá, gian hiểm và hung bạo chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam. 60 năm sau Cách Mạng Budapest, Quyết Nghị 17 điểm Yêu sách của tập thể Sinh viên Hung Gia Lợi tiếp tục là đầu đề thời sự hàng đầu đối với nhiều dân tộc trên thế giới. Chúng ta đọc để xác tín rằng đảng Cộng sản Việt Nam cho tới ngày hôm nay vẫn còn là một đảng chư hầu, trung thành tuyệt đối và mù quáng với các bóng ma Lénine, Staline và Mao Trạch Đông, đồng chí quan thầy vĩ đại của Hồ Chí Minh. Nhưng tấm gương tinh thần kiên cường bất khuất của bạn hữu Hung Gia Lợi cho phép vững tin vào tiếng nói cuối cùng của lương tri nhân loại. Sẽ chẳng còn bao lâu nữa. Những người sống sót và thế hệ tương lai luôn luôn tiếp thay cho những chiến sĩ tranh đấu cho Dân Chủ và Nhân Quyền chẳng may sớm khuất bóng hay ngã gục, hoặc đang bị tù đày ngay trên quê hương yêu dấu. Để dân tộc Việt Nam được sống một mùa Xuân thật Việt Nam, với bầy chim nhộn nhịp trở về, chân son không khoen sắt, giọng hót thơm nức niềm hân hoan…

 

Genève ngày 23 tháng 10 năm 2016

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse

Vietnamese League for Human Rights in Switzerland

 

 

 blank

Vinh Danh Em

 

                  Tưởng niệm Géza Kindernay, 13 tuổi, ngã gục 

 ngày 7 tháng 11 năm 1956 tại Budapest

 

 

Bằng chứng nơi vũng máu

Bằng chứng nơi dấu đạn

Em mang trên thịt da

Em mang trong tâm hồn

Em đã chết trước giờ hẹn gặp anh

Em bỏ anh em bỏ cuộc đời

Lúc tuổi em lúa đang ngậm sữa

Anh thường ví em như sớm mai

Vừa hừng đông sao nắng tắt

Không kịp nhìn cỏ biếc trời xanh

Em đã chết trước giờ hẹn gặp anh

Chưa được áp trái tim vào lòng tay bằng hữu

Những điều sinh thời em thắc mắc

Anh vẫn đau khổ đây em

Cuộc đời vốn không phản trắc

Như hàm răng nhọn sau chúm môi

Cuộc đời cũng không hiểm độc bất công

Như bóng đen núp bên trong con người

 

 

Nhưng anh nhớ sao anh nhớ rõ

Tưởng mới đêm qua tưởng mới sáng nay

Mưa sắt thép

Mưa máu lửa tầm tã

Em vươn khỏi hầm núp

Trên hành lang ngổn ngang gạch ngói

Bừa bãi vỏ đạn mảnh trái phá

Đi giữa những xác chết người hấp hối bị thương

Trên thân thể em mưa xối xả

Áo lông áo giáp không một manh

Để sưởi để che ngực chim ốm yếu

Chỉ còn lòng tin

Thật sự chỉ còn lòng tin

Thổi lửa sao lên đôi mắt

Với nhánh củi úa màu mây cuối thu

 

 

Sao anh chóng quên được hở em

Từ những lối ra ngoại ô

Dưới gầm cầu đúc

Hai bên bờ Danube xanh lơ

Trên vai trên nhịp cầu sắt

Dưới nóc tháp lầu chuông

Trong sân trường xưởng thợ

Bốn phía công viên

Năm bảy kẻ đã quen biết em

Nhưng số đông em chưa hề gặp gỡ

Bởi không chịu được tủi cực nhiều hơn nữa

Và nghe thấy tiếng dội từ những bước em đi

Tất cả không hẹn đều có mặt

Số phận họ ra sao 

Xin đừng ai hỏi thêm 

Trước những nắm tay trần

Trước những cặp mắt từ chối sợ hãi

Và hơi thở khỏe và trái tim trong

Đang đối diện đại bác chiến xa

Họ biết họ sẽ ngã gục

Người này nằm xuống người kia chỗi dậy

Không thuốc súng không lưỡi lê

Họ ôm lấy tấm lòng quả cảm

Họ ôm lấy cuộc đời lớn lao

Nguyên vẹn kiếp sống vô giá

Họ điềm tĩnh đi tới

Cũng như em

Cố nhiên là dưới cơn mưa

Hay đúng hơn dưới cơn dông lịch sử.

 

 

Em đã chết giữa tuổi thiếu niên

Em đã chết trước giờ hẹn gặp anh

Thật vô lý

Thật bất công

Khuôn mặt trái tim anh ướt đẫm

Không chỉ bởi cơn mưa 

Dù là mưa máu lửa sắt thép

Dù hôm qua đã trôi vào kỷ niệm

Và những người sống sót

Và thế hệ tương lai

Đang âm thầm tiếp thay em

 

 

Từ hôm ấy

Anh luôn luôn nghĩ tới

Một mùa Xuân

Với bầy chim nhộn nhịp trở về

Chân son không khoen sắt

Giọng hót thơm nức niềm hân hoan

Có thể của hoàng oanh hay vành khuyên

Có thể của sơn ca hay họa mi

Cũng có thể chỉ là suối cười trẻ con

 

 

Bởi nhớ thương ai

Anh đã yêu thêm một xứ sở

Ngoài tổ quốc của anh

Dù không phải nơi chôn nhau cắt rún

Anh xin được gọi quê hương em

Hung Gia Lợi là bạn thân của Việt Nam

 

 

Bởi nhớ thương ai

Anh đi qua tuổi thanh xuân

Nhiều đêm không ngủ được

Biết không em biết không em

 

   Nguyên Hoàng Bảo Việt (1956)

(Trích Tập Thơ Những Dòng Nước Trong . Văn Nghệ Sài Gòn 1962)


.


..

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.