Hôm nay,  

Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca Trần Duy Đức

8/3/201600:00:00(View: 6680)

Nếu bạn là người thích nhạc tình lãng mạn, hẳn bạn đã có một lần nào đó trong đời nằm nhìn mưa rơi và nghe ca sĩ Ngọc Lan rót vào lòng từng giọt mưa:

Nằm nghe ngày tháng rơi đều
Ngoài hiên mưa đọng bọt bèo
Tình nằm trong nấm mộ rêu
Trở mình nghe những quạnh hiu…
(Khúc Mưa Sầu – nhạc và lời Trần Duy Đức)

Hoặc bạn đã từng một lần ngâm nga những câu trong ca khúc Nếu Có Yêu Tôi – thơ Ngô Tịnh Yên, Trần Duy Đức soạn thành ca khúc:

… Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mỉm cười…

Còn nếu nhắc đến nhạc lính và những khúc quân hành của QLVNCH thì những người lính Không Quân không thể nào quên được những lời ca và dòng nhạc thật hào hùng, thôi thúc lòng chiến sĩ trong bản Sư Đoàn 6 Không Quân Hành Khúc – nhạc và lời của Trần Duy Đức:

Thề một lòng cùng vùng lên!
Ta hiên ngang giống dân Lạc Hồng
Mang trên vai cánh chim đại bàng
Sư Đoàn 6 Không Quân kiêu hùng!
Chẳng ngại gì lòng người trai
Đây Pleiku gió sương lạnh lùng!
Đây Tam Biên núi cao chập chùng!
Đây Phú Cát nắng thiêu quanh năm…

Đó là một vài bản nhạc tiêu biểu trong rất nhiều tác phẩm âm nhạc của nhạc sĩ Trần Duy Đức.

Để kỷ niệm một chuỗi thời gian dài nhạc sĩ Trần Duy Đức gắn bó với âm nhạc, nhóm Thân Hữu Trần Duy Đức sẽ tổ chức một buổi “Chiều Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức và Bằng Hữu: Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca” vào ngày 21 tháng 8 tới đây. Người viết muốn giới thiệu chương trình này cũng như dòng nhạc Trần Duy Đức đến với bạn đọc, nhưng lại không đủ khả năng “luận” về âm nhạc, thôi thì đành nhờ một vài thân hữu của nhạc sĩ Trần Duy Đức đưa dòng nhạc của ông đến với bạn đọc vậy.

blank
Bích chương.

Người viết rất hân hạnh được trò chuyện cùng danh ca Lê Uyên. Chị đã cho biết cảm nhận của chị về dòng nhạc của Trần Duy Đức nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung như sau:

Hỏi: Lê Uyên là một ca sĩ thành danh, được khán thính giả biết đến qua những ca khúc của Lê Uyên Phương và chị đã gắn bó với dòng nhạc Lê Uyên Phương gần 50 năm nay, vậy khi chị chuyên chở dòng nhạc Trần Duy Đức mà đa số những bài chị hát là được phổ từ thơ như Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời – thơ Du Tử Lê hoặc Nhớ Lại Trong Đêm Nay – thơ Du Tử Lê hay Mặc Niệm Khúc (Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương) – nhạc và thơ Trần Duy Đức sáng tác năm 1976, chị có cảm nghĩ gì về dòng nhạc Trần Duy Đức?

Lê Uyên: Theo chị thì chị nghĩ rằng đa số những bài thơ được nhiều người biết đến và ưa thích là vì những bài thơ này được những nhạc sĩ tài ba phổ thành nhạc, thì Trần Duy Đức là một trong những nhạc sĩ đó. Nhạc của anh nhẹ nhàng, tình cảm và những bài thơ phổ nhạc thì khi người nghe, nghe lần đầu tiên, chắc người ta không phân biệt được nhạc và thơ là của hai người, mà hầu hết những bài Đức phổ thành nhạc thì nó quyện lại với nhau như thể là một người sáng tác mà thôi. Là một ca sĩ, bài nào hay thì mình hát. Và dĩ nhiên những bài hay mà mình phải thích nữa, mà nếu thích thì mình sẽ chuyển tải tới người nghe hay hơn và nó đúng với cái hồn của bài nhạc cũng như bài thơ đó.

Hỏi: Là ca sĩ của những năm trước 75 và đã trình bày rất nhiều những dòng nhạc của các nhạc sĩ tiền bối, xin chị cho biết cảm nhận của chị về nền tân nhạc Việt Nam qua các thời kỳ cũng như những nhạc sĩ hiện đang sinh sống và hoạt động cùng cộng đồng người Việt tại hải ngoại.

Lê Uyên: Âm nhạc ghi lại và biểu hiện từng thời kỳ của lịch sử cũng như tâm trạng, xã hội của từng giai đoạn. Nổi bật nhất là những bài viết về tình yêu và chiến tranh trong suốt chiều dài của lịch sử đó. Nhạc Việt Nam có thể chia ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn theo chị được biết từ 1945 đến 1965 là nhạc tiền chiến. Từ 65 đến 75 có thể nói thời gian đó là thời gian sống động nhất. Nổi bật nhất trong thời gian này là những bài nhạc có nét rất đặc thù. Thí dụ như nhạc sĩ Phạm Duy thì ông đã viết về tình yêu và quê hương. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì ông viết về tình yêu và thân phận con người. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh thì tình yêu và chiến tranh. Nhạc sĩ Lê Uyên Phương thì anh lại viết về tình yêu, hạnh phúc với thương đau. Mà trong sự đau thương đó nó rực rỡ, nó không tuyệt vọng, lúc nào cũng hạnh phúc và chấp nhận.

Hỏi: Chị có thể tiết lộ một vài ca khúc của nhạc sĩ Trần Duy Đức mà chị sẽ trình bày trong chương trình chiều nhạc vào ngày 21 tháng 8 sắp tới đây và tại sao chị chọn những ca khúc đó?

Lê Uyên: Trong chương trình kỷ niệm 45 năm kỳ này của Trần Duy Đức thì chị chọn hai bài của Đức sáng tác không có phổ thơ để cho người nghe thấy rằng một mình Đức sáng tác cũng đã rất là hay. Bài thứ nhất là Trần Duy Đức ghi lại cái cảm xúc của mình khi đi qua Nghĩa Trang Quân Đội. Anh đã cảm thương cho những cảm tử quân nằm dưới đó mà không còn thân nhân và không có ai thăm viếng trong rất nhiều năm. Bài thứ hai là một bài mới viết đây thôi, khi Trần Duy Đức được xem trên mạng một cái video clip về đời sống của các em bé khoảng 5, 6 tuổi, mà những em bé đó sống dưới nước. Những ước mơ của các em đó rất giản dị. Mơ ước làm sao mà mình được sống trên bờ như tất cả mọi người. Đó là một điều rất bình thường của chúng ta nhưng nó lại là một niềm mơ ước to lớn của các em. Điều đó là một điều mà ai thấy, ai nghe, ai biết cũng rất đau lòng và đầy thương cảm. Thì đó là hai bài nhạc chị sẽ hát trong chương trình 45 năm của Trần Duy Đức tới đây.

...

Được biết nhạc sĩ Trần Duy Đức là một Không Quân của QLVNCH và bài Sư Đoàn 6 Không Quân Hành Khúc đã được ông sáng tác lúc chưa đầy 20 tuổi. Thấy trên danh sách khách mời của chương trình “Chiều Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức và Bằng Hữu: Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca” có Không Quân Võ Ý. Ông đã cho biết cảm nhận của ông về những bài thơ phổ nhạc nói chung và những sáng tác của nhạc sĩ Trần Duy Đức nói riêng.

Hỏi: Không Quân Võ Ý được biết qua hai tác phẩm nổi tiếng là Lý Lịch Dọc Ngang Của Thảo, xuất bản năm 2003 và Tổ Ấm Bay Về, xuất bản năm 2013, cũng như rất nhiều bài thơ tình lãng mạn sáng tác từ thập niên 1970. Tuy vậy, hôm nay Bảo Bình xin được phép tiếp chuyện với Không Quân Võ Ý về lãnh vực Âm Nhạc. Được biết một số bài thơ của bác đã được phổ thành nhạc điển hình là bài Lên Núi Tỏ Tình Cho Ăn Chắc, được nhạc sĩ Nhật Ngân lấy ý phổ thành bài hát Lên Núi Tỏ Tình. Vậy xin bác cho biết cảm nhận của mình về việc âm nhạc đã góp phần chuyên chở những áng thơ văn vào lòng khán thính giả như thế nào?

Võ Ý: “Thơ” vốn trầm lắng và cô quạnh. “Thơ thẩn” thì không thể biểu hiện chốn thị tứ. Do đó “Thơ” luôn hướng nội. Ngược lại, “Nhạc” thì hướng ngoại và hả hê hơn vì ẩn ức trong nội tâm được phát ra thành âm thanh dù rộn ràng dù tha thiết. Do đó, Thơ phổ thành Nhạc, nghĩa là từ hướng nội, thơ nhờ đôi cánh của nhạc mà hướng ngoại, bay khắp mọi nơi, dễ dàng thâm nhập vào lòng người hơn.

Hỏi: Trong chương trình “Chiều Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức và Bằng Hữu: Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca” sẽ có sự hiện diện của Không Quân Võ Ý. Xin bác cho biết cảm nghĩ của bác về những ca khúc của nhạc sĩ Trần Duy Đức nói chung và đặc biệt là những bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ nhạc nói riêng.

Võ Ý: Trong chương trình “Chiều Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức và Bằng Hữu: Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca”, trong số “bằng hữu” đó có tôi. Vì Trần Duy Đức nguyên là cựu KQ cùng phục vụ tại Sư Đoàn 6 KQ, Pleiku trước kia, do đó, giữa tôi và Trần Duy Đức là chiến hữu và đồng đội với nhau. Tác phẩm “Sư Đoàn 6 KQ Hành Khúc” của Trần Duy Đức sáng tác tại đây đã được chọn để làm bài ca chính thức của SĐ6KQ. Nhạc điệu, tiết tấu của bài ca vừa trầm hùng vừa tha thiết, rất có hồn nên gây hưng phấn và hãnh diện cho quân nhân trong Sư Đoàn và toàn quân chủng. Những năm tháng lưu lạc, Trần Duy Đức thể hiện năng khiếu đặc biệt của mình là phổ thành nhạc những bài thơ mà anh tâm đắc. Trong lãnh vực nầy, Trần Duy Đức đã thành nhạc sĩ phổ nhạc thơ tình khó tính nhất, vì những bài thơ anh chọn phổ nhạc phải… HAY, nghĩa là phải hội đủ 2 tiêu chuẩn tiên quyết là sáng tạo và truyền cảm! Ngày nay, trong và ngoài nước, bài hát “Nếu Có Yêu Tôi” được Trần Duy Đức soạn thành ca khúc từ thơ Ngô Tịnh Yên rất được ưa chuộng vì điệu nhạc thật rộn ràng và lời ca thật truyền cảm chân thành.

...

Chương trình “Chiều Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức và Bằng Hữu: Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca” sẽ không được trọn vẹn nếu không có sự góp mặt của chị Nguyệt Hạnh, người đã cùng nhạc sĩ Trần Duy Đức chia sẻ buồn vui trong đời sống và trong âm nhạc… Mời bạn nghe những lời tâm sự rất chân tình của chị.

Hỏi: Câu hỏi đặc biệt dành cho chị Nguyệt Hạnh: Là một bóng hồng bên cạnh nhạc sĩ Trần Duy Đức, xin chị Nguyệt Hạnh “bật mí” cho độc giả biết những vui, buồn trong đời sống âm nhạc của anh chị?

Nguyệt Hạnh: Bảo Bình khéo nói quá đó thôi. Đúng ra đời sống của anh chị nào có “bí mật” gì đâu mà “bật mí”? Ai ai trong chúng ta trót đã mang đôi gánh trên vai khi “bôn ba nơi xứ người” (*) thì làm sao tránh khỏi được những nỗi buồn? Đằng này, vì (bị) “mang tiếng” là nghệ sĩ, có đời sống tình cảm (hơi) dồi dào hơn “bình thường”(!) cho nên chúng tôi lẽ ra còn buồn nhiều hơn người khác thì có! Có lẽ, vì hay bận lo “buồn lây” với người… Dường như có lắm khi mình bị “nó” cuốn hút để rồi đeo mang, ấp ủ “nó” vào trong những ca khúc và biến những “nỗi buồn riêng” ấy thăng hoa để hóa thành “nỗi-niềm-chung” thật rực rỡ không còn bi lụy nữa. Có lắm khi tác giả đã thố lộ về điều này!

Bảo Bình hay ai đó có bao giờ “lắng lòng” mình để khám phá ra những “hỉ nộ ái ố” trong đời thường có khi pha lẫn tính chất “bi-hài” trong những ca khúc của Trần Duy Đức chưa? Tỉ như bài “Nếu có yêu tôi”. Trong dịp tình cờ tác giả đồng cảm ngay với ý thơ về nỗi buồn (riêng) của thi sĩ Ngô Tịnh Yên và soạn thành ca khúc trong phút chốc! Điều hiển nhiên mà chúng ta thường nhận thấy vài nét về “nhân sinh quan” này đó là, mình chỉ gặp nhau đông đủ nhất là dịp viếng thăm khi có “đám cưới hay đám tang” (ngoài ra thì “cơm nhà ai nấy ăn, nhà ai nấy ở!").

Mới đây, ai ai cũng đều ngưỡng phục trước cái bước ngoặc (tạm gọi) là hiện tượng lịch sử bởi ảnh hưởng “ý thức hệ” của tuổi trẻ trong nước qua bài thơ “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh?” của cô giáo Trần Thị Lam, đã được Trần Duy Đức cùng “đồng hành” với nhà thơ, qua tiếng hát của Trần Thái Hòa, đã cùng nhau chuyển tải khát vọng tiềm ẩn bằng khúc nhạc “bi-hài-hùng” bay cao/xa, không bi lụy, biến “tác phẩm” thành “thông điệp” chung của rất nhiều người khắp muôn phương trong và ngoài nước!

Về niềm vui, hạnh phúc thì vô bờ! Có phải chăng là anh chị luôn cảm nhận được rằng mình có quá nhiều may mắn vì đã tìm thấy được niềm an ủi khi khám phá ra mình có không ít bạn “tri âm” trong cõi nhạc của Trần Duy Đức. Cũng tựa như chúng ta khi bắt gặp/thưởng thức được một bài hát hợp “gout” nào đó đã có thể ảnh hưởng, làm cho mình cảm thấy ấm áp vì bài hát cứ “bảng lảng” trong đầu cả ngày! Và từ đó, mình cảm thấy cuộc đời này thật đáng sống!

Chính vì thế mà anh chị đã không ngần ngại thiết tha lên tiếng kêu gọi tất cả những ai có tâm hồn (thầm) yêu nhạc hãy ngồi lại với nhau - cùng không gian và thời gian - để chúng ta có thể tạo duyên, cùng chia sẻ những khoảnh khắc kỷ niệm xa xưa, hay của một thời để yêu và cũng là để nhớ đời…

Anh chị vẫn ước mong rằng các bậc Cha Anh đang tha hương hãy mạnh dạn cùng thắp lên “một-nhóm-lửa” để tiếp tay châm mồi cho ngọn đuốc yêu-quê-hương của thế hệ trẻ sau này, hầu duy trì truyền thống yêu văn hóa và thi ca Việt Nam hải ngoại. Và chúng ta lo gì vườn hoa âm nhạc ở hải ngoại sẽ ngày càng được tô đậm nét phong phú và tỏa ngát hương thêm.

...

Cám ơn danh ca Lê Uyên, Không Quân Võ Ý và chị Nguyệt Hạnh đã chia sẻ một vài tâm tình của mình đến với bạn đọc.

...

Mời bạn hãy đến với nhau, đến với dòng nhạc của Trần Duy Đức trong chương trình “Chiều Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức và Bằng Hữu: Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca” để thưởng thức những bản tình ca lãng mạn, đậm tình nghĩa yêu thương, sâu lắng, thiết tha… qua sự trình diễn tuyệt vời của các danh ca: Lệ Thu, Lê Uyên, Trần Thái Hòa, nhạc sĩ Vũ Thành An, Diễm Liên, Y Phương, Minh Phượng, Hàn Phúc, Mai Thanh Thúy, Nguyễn Cao Nam Trân… với các MCs Nguyễn Hoàng Dũng, Hương Thơ và Phan Dụy cùng sự góp mặt của các nhạc sĩ: Lê Ngọc (guitar), Vũ Quang Trung (piano), Nguyễn Thị Hậu (cello), Đinh Hải (bass), Nguyễn Phi Phụng (drums), Vũ Anh Tuấn (saxo) và Huy MC (sound). Văn thi sĩ hiện diện gồm có Du Tử Lê, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Phạm Quốc Bảo, Bùi Bích Hà, Võ Ý, Phan Tấn Hải, Hoàng Khai Nhan, Hạ Quốc Huy, Nguyễn Nam An, Hà Nguyên Du, Ngô Tịnh Yên…

Chương trình sẽ được tổ chức vào Chủ Nhật, ngày 21 tháng 8 năm 2016, lúc 2:30 chiều, tại Majesty Restaurant, 5015 W.Edinger Ave., Santa Ana, CA 92704. Giá vé bảo trợ là $75 và đồng hạng là $45 (có giải khát, không thức ăn). Vé đang có bán tại các nhà sách Tú Quỳnh và Tự Lực.

Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai lúc mắt tôi khép lại
Đừng đợi ngày mai có khi tôi đành xuôi tay
Trôi dạt về đâu, chốn nào tựa nương…

Hẹn gặp bạn trong “Chiều Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức và Bằng Hữu: Kỷ Niệm 45 Năm Tình Ca”.

Huyền Tôn Nữ Bảo Bình

Aug. 01- 2016

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.