Hôm nay,  

Áo xưa dù nhàu

6/20/201613:31:00(View: 7725)
blank

Tháng Sáu có những cơn mưa vội vã. Tháng Sáu có những cơn mưa tầm tã. Mưa như những giọt bùi ngùi làm đầy ắp những giòng sông. Mưa như tủi hờn nhớ thương những con sóng khát khao bóng thuyền ra khơi. Có một ngày như thế tôi thả mình rong ruổi dưới mưa rào tháng Sáu. Trở về nhà và hong khô áo quần ướt. Những kỷ niệm chợt hanh hao như khi treo áo quần mới giặt lên giàn mướp sau nhà. Cái máy sấy chợt thôi còn hơi nóng. Cũng 10 năm rồi cho một cái máy sấy thủy chung bền bỉ. Thế là trong khi chờ mua máy sấy mới đành phơi áo quần như ngày xửa ngày xưa...Những tấm áo, những chiếc quần khaki sau khi phơi cứ nhàu nhăn như khuôn mặt một ngày buồn xo tức tửi. Chạnh nhớ cái bàn ủi. Cũng đã lâu lắm rồi không đụng tới.     

 

Nhớ những tháng ngày mới đến xứ lạ. Có lẽ đó là tháng ngày hạnh phúc nhất trong một khái niệm đơn giản về hạnh phúc: nghèo mà ấm áp nghĩa tình. Hồi đó chồng đi làm, vợ ở nhà học anh văn, chăm lo cơm nước và nhà cửa. Ngày ấy cơ cực lắm mà áo quần lúc nào vợ cũng ủi cho mình thẳng thớm. Cái quần tây lúc nào cũng có li (ply) mặc vào trông nó đứng đắn, sang "chảnh" làm sao. Trong túi không có tiền, rầu lắm mà bề ngoài cứ bảnh bao, cứ như câu hát "lan huệ sầu đời, trong héo ngoài tươi" vậy.

Rồi thời gian trôi, cả hai đều lao vào làm việc. Đàn bà xứ này coi vậy mà cực hơn ở quê nhà. Cái cực không phải cơm áo thiếu thốn, mà cực vì trăm chuyện hội nhập vào đời sống mới, đi làm về là lo nhà cửa, xong việc rồi thì trời đã tối. Lại lo ngủ sáng mai đi làm sớm. Con gái theo chồng xa xứ lại buồn, buồn vì ngoài chồng con thì cô quạnh. Chưa có internet, chỉ có tivi và mấy băng Thúy Nga Paris giải sầu. Không có hàng xóm láng giềng lân la, không có cuốc xe xích lô hay xe thồ đi tới nhà bạn bè tán gẫu, không có bà con thân thiết. Sáng cuối tuần ngủ muộn dậy lại nhớ gánh bún bò rong trước hiên nhà. Làm một giấc ngủ trưa dậy lại nhớ o bán bánh bèo, bánh lọc đon đả trước ngõ. Tối trăng sáng lại thèm chén chè gánh, hột vịt lộn ấm nóng...Đàn ông xứ này cũng buồn vì thiếu bạn bè nhậu nhẹt cuối tuần. Phải hẹn hò nhau trước cả tuần. Bia bọt đầy tủ lạnh mà nhậu một mình chán phèo. Ngồi một mình nói dóc không ai nghe. Bạn bè thích ghé mà sợ say không dám lái xe về. Đi nhậu phải kéo theo bà vợ làm tài xế. Mà mấy bà nhiều khi không thích vậy, ngủ lại thì bất tiện. Nên cứ quạnh quẽ.  Nhưng riết rồi quen. Riết rồi thấy lo được cho con cái vào đại học là vui. Riết rồi ngày cũng an lành qua đi.  

Và chuyện ủi đồ cũng chỉ còn là thi thoảng. Vì thi thoảng mới có dịp lên bộ vó láng coóng đi ăn cưới, ăn tiệc. Muốn mặc quần áo thẳng thớm thì đem ra tiệm giặt ủi. Có điều giá cả không rẽ, năm bảy đô một cái thì tiếc tiền, cứ biện minh cho cái tính nghệ sĩ lè phè lười biếng, "tốt gỗ hơn tốt nước sơn". Nên từ dạo đó bổng thích mặc mấy cái quần Jeans, áo thun. Các loại này không nhàu lắm, khỏi ủi. Thế nhưng có những khi thấy cái tuổi trung niên mặc quần Jeans trông nó trẻ quá, áo thun trông không chửng chạc. Nên lại thích mặc quần khaki hiệu Dockers có hình cái neo với đôi cánh, thích mặc áo sơ mi Van Heusen. Loại đồ này wringkle free, nghĩa là không nhăn. Nếu chịu khó ngồi đợi khi máy sấy vừa xong, đem áo quần ra rũ rũ vài cái là thẳng thớm để treo lên giá.  

 

Nói tới loại áo quần không nhăn không thể không nhớ tới công lao của bà Ruth R. Benerito, người phát kiến ra loại vải này, người được xem là đã cứu kỹ nghệ bông sợi của Mỹ. Hẳn bạn đều biết vai trò của sợi vải cotton trong lịch sử nước Mỹ. Trồng cây bông gòn gắn liền với người nô lệ da đen và đó là nguyên nhân của cuộc nội chiến. Cách đây hơn 40 năm thì sợi cotton đã chiếm hết 2/3 của kỹ nghệ dệt vải may mặc. Câu slogan "Cotton là vải vóc của đời sống chúng ta" (Cotton, the fabric of our lives.) nói lên điều quan trọng đó. Thế nhưng các sản phẩm từ áo quần đến nệm, chăn, thảm... bằng vải cotton lại rất dễ cháy, gây ra nhiều hỏa hoạn. Vì thế năm 1953 Quốc hội ban hành Luật về vải dễ cháy (Flammable Fabrics Act). Những một yếu điểm nữa của vải cotton là dễ nhăn nhúm. Và vì thế các loại vải tổng hợp polyester và nylon bóng láng, mát mẻ, ít nhăn nhúm đã ra mắt thị trường năm 1951 và dần dà chiếm ưu thế. Để sống sót và chiếm lĩnh lại thị trường, ngành công nghệ bông vải phải cố tìm ra giải pháp giúp vải không nhăn mà vẫn bền bỉ. Và lúc ấy nhà hóa học Ruth R. Benerito đã phát minh ra kỹ thuật chế tạo vải không nhăn khi còn làm trong phòng nghiên cứu cho Bô Nông Nghiệp Mỹ (USDA) ở New Orleans những năm đầu 1950. Bí quyết cho phát minh này là quá trình crosslinking, một số hóa chất thêm vào sợi vải làm thành nối kết mới giửa các phân tử của sợi cellulose có trong vải cotton, nhờ vậy làm sợi vải không bị nhăn nhúm sau khi khô ráo. Ngoài ra còn giúp cho vải chống dính vết dơ và chống bị dể bắt cháy...Cùng với 55 bằng sáng chế được chứng nhận đăng ký, Bà Benerito xứng đáng được đứng trong danh sách Vinh Danh Các Nhà Phát Minh Quốc Gia, ngang hàng với Ernst Alexanderson người phát minh radio, Alexander Graham Bell người sáng chế điện thoại và Baruch Samuel Blumberg người tìm ra vaccine cho Hepatitis B... 

 

Nhân chuyện áo nhàu lại nhớ một câu chuyện tiếu lâm của Mỹ, chuyện tục mà thanh. Chuyện rằng: có bà mẹ luống tuổi đến thăm con gái đã lấy chồng. Bà sửng sốt khi thấy con gái lồ lộ phơi phới trong bộ áo quần của Bà Eva, nằm ưởn ẹo trên sofa. Hỏi sao con không mặc đồ! Con gái trả lời đây là bộ áo quần mà chồng con thích nhất. Bà mẹ trở về mà lòng không thôi nghĩ về niềm hạnh phúc của gia đình con gái. Tối hôm ấy, chồng bà đi làm về, khi mở cửa thấy bà nằm trên sofa cũng trong bộ quần áo của Bà Eva. Ông chồng đứng sững như trời trồng, nhìn bà hồi lâu, ánh mắt dường như  đi suốt tấm thân người bạn đời bao nhiêu năm…Ông thốt lên: Bà làm sao thế? Bà vợ trả lời nhỏ nhẹ: Em mặc bộ đồ mà anh thích nhất đây! Ông chồng lại ngẩn người ra trong giây lát. Mắt không rời nhìn bà và bảo: “Nhăn, nhăn quá! Thôi đi dọn cơm đi bà, tui đói gần chết!”

 

Dân Tây nó thẳng thắn là vậy. Nên cái gì nhăn nheo là cần phải làm đầy, cái gì chảy xuôi về phương Nam theo sức hút trái đất thì lại được nâng lên. Da mặt nhăn thì căng ra hoặc bơm botox. Có túi nước biển hay silicon là làm no tròn con mắt người đối diện. Tuy vậy khi nhìn tuổi thanh xuân bị tàn phá qua làn da nhăn nheo trên cổ, trên tay thì không che giấu nỗi chút ngậm ngùi.  

 

Ông chồng Mỹ đó thật tệ! Không như đàn ông xứ mình.

“Áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau.” (TCS)

Chung thủy đến thế là cùng. Đến bạc đầu vẫn thương nhau và gọi nhau bằng tên. Gọi Văn của em, Thị của anh. Nghe muồi làm sao. Dù chỉ biết nhìn nhau và gọi nhau mà thôi! Không làm được chuyện gì khác. Chàng nghệ sĩ ngày đó cũng lười ghê gớm. Áo xưa dù nhàu cứ ôm ấp hoài mà không chịu ủi. Hẳn cái gì cũ kỷ cứ nhăn nhúm, cũng như kỷ niệm? Có những cái không thể ủi thẳng thớm được. Đáng sợ nhất là cái nhăn nhó trong tâm hồn.

 

Trời lại đổ mưa. Những cơn mưa tháng Sáu. Những hạt mưa nhăn nhúm trên bầu trời nhàu.  
Sean Bảo

.
.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.