Hôm nay,  

Trang Sử Việt: Nguyễn Công Trứ

22/03/201600:01:00(Xem: 7030)
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của mỗi nhân vật. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt. Trang Sử Việt đăng trên Vietbao Online thứ Ba và thứ Sáu hằng tuần).
________________                  
                                    
NGUYỄN CÔNG TRỨ
(1778 -1858)
.
Nguyễn Công Trứ tự Toàn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, thân phụ là quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. 
.
Năm 1819, ông đỗ Giải nguyên lúc 41 tuổi. Năm 1820, Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán. Năm 1823, làm Tri huyện Đường Hào (Hải Dương). Năm 1824, làm Tư nghiệp Quốc tử Giám. Năm 1825, giữ chức Phủ thừa phủ Thừa Thiên. Năm 1826, làm Tham tán quân vụ rồi thăng Thị lang Bộ hình. Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình sung chức Dinh điền sứ, ông lập hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình), hai huyện này, ông cho lập trường học, để nâng cao dân trí và sửa sang đường sá để lưu thông dễ dàng. Nên có nhiều đình chùa tại hai huyện này đã thờ và tôn ông làm Thành hoàng.
      .
     Năm 1832, ông giữ chức Bố Chánh sứ tỉnh Hải Dương, rồi thăng Tham tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An, Tuần phủ An Giang. Nơi quan trường có khi ông được thăng thưởng rất trọng hậu. Năm 1827, vua thưởng ông một chiếc kim khánh khắc 4 chữ “lao năng khả tướng”
Vào năm 1843, bị giáng xuống làm lính thú ở Quảng Ngãi, khi đến Quảng Ngãi, ông mặc quân phục người lính, thản nhiên vào trình diện quan Tổng đốc sở tại. Vị quan này đã có lần chịu ơn Nguyễn Công Trứ, thấy tình cảnh một người từng là Thượng thư nay là lính, vị quan ấy bảo ông đừng mặc đồ lính, ông nói: “Lúc làm Đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vì nào, có nghĩa vụ đối với địa vị ấy, làm lính mà không mang đồ ấy thì sao gọi là lính được”. Lúc đấy, Nguyễn Công Trứ đã 65 tuổi. Tính thẳng thắn và tinh thần trách nhiệm của ông, người đời rất kính phục. 
.
Nguyễn Công Trứ xin vua xét lại vụ án buôn lậu ở An Giang, sau khi điều tra, vua hiểu rằng ông bị Nguyễn Công Nhàn vu cáo. Do đó, đến năm 1845, ông được bổ nhiệm chức Chủ sự Bộ hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa Thiên. Ông từng làm Tham tán quân vụ ở Trấn Tây (Nam Vang, Cao Miên).            
.
Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần cầm quân đánh dẹp loạn các nơi: Năm 1827, dẹp giặc Phan Bá Vành; năm 1833 dẹp giặc Nông Văn Vân; năm 1835 dẹp giặc Khách. Ông còn có công lớn trong cuộc chiến tranh Việt-Xiêm (1841-1845). 
     Năm 1848, ông 70 tuổi xin về hưu an dưỡng tuổi già. Đến năm 1858, quân Pháp tấn công Đà Nẵng, mặc dù ông đã 80 tuổi, vẫn xin vua đi đánh giặc, nhưng triều đình không chấp thuận. Ông mất năm 1858, hưởng thọ 80 tuổi.
.
 *- Thiết nghĩ: Nguyễn Công Trứ từ khi học hành, đến khi ra làm quan cho đến lúc về trí sĩ, đều sống một cách ung dung, lạ lẫm khác người. Khi còn đi học ông là người luôn tự tin, thi cử nhiều lần lận đận nhưng vẫn miệt mài học tập:
“Vận khó trời còn trau chuốt ngọc
 Lúc cùng ta há luỵ chiều ai”
Đấy là tấm gương đáng ghi nhớ cho tuổi trẻ khi còn đi học.
 .
Trong xã hội, nhất là nơi quan trường, một số khoa bảng hay bọn quyền thế thường đem lời thánh hiền ra khoe khoang, nhưng họ không làm đúng lời dạy của thánh nhân mà hay lừa lọc giữa tri và hành. Họ nói an dân thì bóc lột dân, để vinh thân phì gia. Nguyễn Công Trứ thì ngược lại luôn thực thi đạo lý đem thân xông xáo nơi chiến trường, dẹp loạn an dân; khai hoang lập ấp, mong mỏi dân giàu nước mạnh.
Triết lý của Nguyễn Công Trứ là dấn thân. Dấn thân vì lý tưởng vun bồi tổ quốc, Dấn thân vì đời sống hạnh phúc của đồng bào, chứ không phải khư khư theo các sáo ngữ trung quân hay các tín điều của Nho giáo, ông đã nói: “chẳng quân thần phụ tử đếch ra người”. Đặc biệt ở Nguyễn Công Trứ dấn thân chứ không như các nhà nho khác khi gặp cảnh trái ngang thì ẩn thân là một cách sống chỉ biết yên thân!.
Nguyễn Công Trứ không ủy mỵ, trốn tránh, có lối sống thực tiễn với hiện tại không ao ước viển vông, ông nói: 
“Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”
(Biết đủ là đủ, đợi đủ không bao giờ đủ. Biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn không bao giờ nhàn). Lối sống thực tiễn của ông, đáng cho người đời nghiền ngẫm để sống hài hòa.       
Nguyễn Công Trứ, về văn học ít thấy dùng văn thơ bằng chữ nho mà văn thơ của ông hầu như bằng chữ Nôm. Thể ca trù cho đến đời Nguyễn Công Trứ mới được phát triển mạnh mẽ, vậy ông là người có công phát triển trường phái này.
 .
Đời người ai không có vinh và nhục, vinh và nhục của Nguyễn Công Trứ quá to lớn. Người ta có thể buồn bã suốt đời khi bị nhục hoặc khi bị nhục thì trả thù tàn khốc. Nhưng Nguyễn Công Trứ thì trách nhẹ nhàn, có khi trách trong sự cười cợt. Một hôm Nguyễn Công Trứ về kinh, vua Tự Đức hỏi: “Ở hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn dân tình thế nào?”: 
 - Thưa bệ hạ, dân sống thái bình âu ca. Họ thường đặt ra những câu hát đố rất thú vị để hát đối đáp với nhau.  
 - Như những câu gì, có thể đọc cho trẫm nghe được không? 
 - Tâu Bệ hạ, họ đố: “Đem thân cho thế gian ngồi, 
                  Rồi ra lại nói những lời bất trung”. 
     Vua hỏi: - Là cái gì vậy? - Tâu Bệ hạ, họ bảo là cái phản. 
     Vua Tự Đức ngẫm nghĩ, biết ý Nguyễn Công Trứ vì bị vu oan mà buồn trách, nên vua tìm lời an ủi.
     Trong một bữa tiệc, có mặt “quan Lang trung” là một trong những người mà ngày trước đã chê bai và đã ngầm hại ông. Nguyễn Công Trứ vui vẻ hỏi mọi người: 
 - Xin hỏi có ai biết “Lang trung” là gì không ạ?. 
 - Thưa không, mong quan Thượng thư giải thích giùm cho! 
 - Vâng, khi tôi làm Tri huyện Đường Hào, tôi biết có một ông nhà giàu, ông ta có tới 3 bà vợ, họ ở chung với nhau và thương yêu, chiều chuộng nhau như bát nước đầy. Chẳng may ông chồng bị bệnh qua đời. 
Người vợ lớn, liền nhào tới ôm lấy đầu chồng than khóc nức nở: “Ai ta hề lang thủ”, nghĩa là:”Ôi thương cái đầu của chàng!”. 
Người vợ thứ hai chạy lại ôm chặt lấy hai chân của chồng mà khóc thảm thiết: “Ai ta hề lang túc”, nghĩa là: “Ôi thương cặp chân của chàng!”. 
Còn người vợ thứ ba thấy thế vội chen vào giữa hai chị, cầm lấy “cái ấy” của chồng khóc rống lên: “Ai ta hề lang trung! Ai ta hề lang trung!”, nghĩa là: “Ôi thương cái này của chàng!”. Đấy, “Lang trung” là thế đấy. Người tham dự tiệc nghe xong, cười như nắc nẻ. Duy chỉ có quan Lang trung bộ Lễ thì dở khóc dở cười!. 
 .
Khi Nguyễn Công Trứ nghỉ hưu ở quê, ăn chơi quá độ, thường cưỡi bò vàng đạc ngựa cùng cô vợ trẻ (hầu non) đi ngao du và ca hát. Trong bài “Tuổi già cưới vợ hầu” của Nguyễn Công Trứ có đoạn:
 .
         “Tân nhân dục vấn lang niên kỷ?
Ngũ thập niên tiền nhị thập tam!(1)
Tình đã chung, lứa cũng phải vam(2)
Suốt kim cổ lấy làm vận sự
Trong trần thế duyên duyên nợ nợ
Duyên cũng đành mà nợ cũng đành
Xưa nay mấy kẻ đa tình
Lão Trần là một với mình là hai(3)
Càng già càng dẻo càng dai!”
 .
     Nguyễn Công Trứ đã trở thành một người phi thường, phi thường trong chiến trận để yên dân, phi thường trong văn chương và phi thường trong cả cuộc chơi nữa. Ông đã tạo nên một nếp sống đặc biệt cho mình, mấy ai bì kịp?!.   
 .
      Cảm phục: Nguyễn  Công  Trứ
 .
Nguyễn Công Trứ, tận tụy ân cần!
Lăn lộn gian nan, giữ nghĩa nhân!
Nguy hiểm chiến trường, bền bỉ dạ
Khó khăn đời sống, vững vàng tâm!
Chức quan Tổng đốc, lo lường lính
Danh tiếng dinh điền, bảo bọc dân!
Mong mỏi giống nòi, yên ổn sống
Tuổi già nhàn nhã, thảnh thơi thân!
______________
 1- Nghĩa Nôm: Cô dâu muốn hỏi tuổi đức lang quân
              Năm mươi năm trước mình mới hăm ba
 2- Vam: Tiếng địa phương cổ, nghĩa là: vừa
 3- Trần Tu, là một người đời xưa, đã già mà lấy vợ còn rất trẻ.
.
Nguyễn Lộc Yên

.
.

Ý kiến bạn đọc
23/03/201608:13:45
Khách
Cu NGUYEN CONG TRU la Thanh Nhan cua nguoi Viet Nam minh. Chung ta la nguoi Viet thi Tho Cung cac vi Thanh Nhan cua minh. Vi nhu Duc Thanh Tran, mot vi Thanh Duc cao Danh trong. Tiec rang co nhung ke quen nguon bo coi, tho lay bon ngoai lai.
22/03/201612:54:43
Khách
Trong tất cả các danh nhân của VN, người đọc thích và phục nhất là cụ Nguyễn công Trứ về triết lý nhân sinh quan của cụ mà tác giả đã đề cập trong bài viết này. Có thể nói rằng tự Cổ chí Kim, khó mà kiếm được người như cụ kể cả phương trời Tây Âu. Ngày nào đó VN được Tự Do, tượng NCT được dựng lên với tất cả sự uy nghi, hoành tráng như tượng của Abraham Lincoln vậy.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.