Hôm nay,  

Trò Chơi Hai Mặt

11/12/201500:00:00(Xem: 6136)
Nguyễn văn Sâm dịch
(Truyện ngắn của Alberto Moravia, Ý))

blank
Alberto Moravia, Ý.

Thằng Umberto làm được cái này; thằng Umberto làm được cái kia; thằng Umberto đứng nhứt lớp; má thằng Umberto khoe nó được thưởng huy chương; thằng Umberto chịu khó đi làm; thằng Umberto đem tất cả tiền lương về nhà; thằng Umberto mua được xe gắn máy bằng tiền của mình; thằng Umberto đã mua được xe hơi. Bất cứ lúc nào, từ khi còn là đứa trẻ ngồi ăn trên ghế cao cẳng, mang yếm trước ngực, bao giờ tôi cũng nghe chuyện thằng Umberto hay giỏi hơn tôi. Dĩ nhiên vì chúng tôi ở cùng trong một bin-đinh ở Via Candia, trong hai căn apartment chật hẹp. Một căn là của cha thằng Umberto, bán gà vịt, ở từng trệt, căn kia là của chúng tôi. Hai căn cùng đổ về một đầu cầu thang. Mẹ tôi và mẹ nó là bạn thân nhau, tôi và nó cùng lớn lên cùng chơi chung. Dĩ nhiên, khi tôi lớn lên, trở thành một thằng chuyên môn lánh nặng tìm nhẹ, làm biếng làm nhác, ăn không ngồi rồi thì mẹ tôi chỉ thằng Umberto biểu tôi noi theo gương nó. Thật ra, theo tôi thì thằng Umberto không bằng ngón tay út tôi; nó láu cá, hợm mình, ti tiện. Nhưng so sánh thì ích lợi gì chớ? Ai chẳng biết tất cả bà mẹ đều giống nhau; nếu thế giới nầy tạo ra đúng theo ý của các bà thì chắc sẽ gồm toàn kẻ vô danh tiểu tốt chỉ biết láu cá, hợm mình, ti tiện như thằng Umberto thôi.

Tôi tuy bực thằng Umberto nhưng khi gặp nhau, chúng tôi vẫn lịch sự chào hỏi, trò chuyện. Thật ra đó là cuộc chiến tranh lạnh giữa hai người, chỉ đợi dịp là gây nhau thôi. Dịp đó đã đến vào ngày tôi bị đuổi khỏi hãng cao su ở Via Dandolo vì làm việc kém hiệu quả. Khi tôi đang đi xuống cầu thang, bên tai còn văng vẳng tiếng của mẹ tôi: 'Con ơi, con làm mẹ buồn quá... Hãy nhìn thằng Umberto kia kìa, nó là đứa con hiếu thảo, con cần noi theo.....' Tình cờ, thằng Umberto đang đi ra. Lập tức tôi chận nó lại: 'Nói đi, phải mầy luôn luôn giỏi trong mọi chuyện không?' 'Bạn nói gì vậy hả?' 'Tao muốn nói, mầy không bao giờ làm điều gì sai quấy phải không, mầy chỉ làm những việc gì nên làm, mầy có khi nào đem tiền lương lãnh trong tuần nướng hết vô sòng bài không?' Có thể tin nổi không chứ? Người nào ở vị trí của thằng Umberto sẽ trả đũa liền. Vậy mà cái mặt ranh ma của nó lại tỏ ra độ lượng. Nó đặt tay lên vai tôi, nói: 'Bạn à, bạn làm theo tôi đi rồi sẽ giỏi thôi chứ gì.' Tôi giận dữ: 'Bỏ tay xuống...Không phải tao gặp mầy để được thỉnh giáo đâu. Chính tao là người muốn khuyên mầy đây: Hãy cắt đứt liên lạc với em Clara nghe không; em đã chính thức đính hôn với tao rồi đó.' 'Chính thức đính hôn à?' 'Em thuộc về tao rồi, mầy phải để em yên- hiểu không mậy?' 'Tôi phạm lỗi gì nếu...?' 'Thôi đủ rồi, báo trước để mầy liệu hồn đó.''

Để các bạn hiểu những lời trên, cần biết lúc đó tôi đang theo đuổi em Clara. Em cũng ở tại Via Candia, trong một bin-đinh giống như bin-đinh của tôi, nghĩa là cũ xì, cũng có sân rộng như một công trường và cũng có cầu thang mang chữ từ A đến F. Trên một cầu thang là apartment của mẹ Clara. Bà tên là Signora Dolores, làm nghề coi bói. Bà đâu khoảng năm mươi, gầy guộc, mặt trắng bệch như bôi bột. Hai con mắt đen làm cho mặt mày giống như cái mặt nạ bằng thạch cao. Lúc trước bà giàu -hay bà nói như vậy- nay thì phải xoay sở bằng nghề bói bài và coi chỉ tay. Người ta đồn bà bói hay lắm. Ngoài các bà ở Via Candia, còn có các cô, có chồng hay chưa chồng, từ khu khá giả lân cận đến xem. Em Clara thì trái hẳn với mẹ. Em khỏe mạnh, xinh đẹp, tươi cười. Đôi mắt như hai vì sao bất động. Cái miệng với đôi môi hồng nhạt là quá dễ thương đi thôi. Khi em cười để lộ những chiếc răng trắng như hột hạnh đào, cái miệng tự nhiên của một cô gái chưa biết làm điệu. Clara làm thơ ký đánh máy và tốc ký cho một văn phòng; em tỏ ra lành nghề. Khi em ở nhà mà mẹ bận tiếp khách, em xuống bếp, ngồi đánh máy và học tiếng Anh. Theo tôi biết, Clara tính tình trầm lặng. Tôi có thể nói, em trầm lặng quá, nhiều như tôi yêu em, tôi phải so sánh em với mặt nước phẳng lặng trường giang. Không quá giống như thành ngữ nước yên thì chảy sâu; mà là mặt biển yên bình tháng tám. Ban đêm, trăng sao lồng vào đáy nước làm người ta nhớ đến cách yêu đương thời xưa, tay trong tay; tay mình quấn lấy lưng em, đầu em tựa lên vai mình. Đúng vậy, em đúng là dòng nước êm ả, đúng cả hai nghĩa.

Cùng ngày hôm đó, tôi kể lại cho Clara nghe là tôi đã chạm trán với Umberto. Em mỉm cười: 'Sao anh lại ghen với hạng người như Umberto được chớ?' 'Thì, hắn là đàn ông mà.' 'Đúng, nhưng là hạng đàn ông gì!' Cảm thấy được an ủi phần nào, tôi yêu cầu em giải thích thêm. Vẫn tươi cười, duyên dáng, ngây thơ, em đáp: 'Ồ, em không biết nữa... Trước tiên, về dáng người, anh ta trông giống như thằng Fagiolino trong rạp múa hình, là người chuyên nhận những cái đấm, với cái mặt dài thoòng và đầu tóc như là cái gối cắm kim tua tủa. Anh có biết không, hắn là chán chết đi được! Chỉ nghĩ đến mình thôi: mình tài giỏi, mình thông minh, mình thế nầy, mình thế kia...Anh ta luôn nói về mình... Ngoài ra anh ta còn có ý nghĩ: Vợ thì phải ở nhà, nấu ăn, trông coi con cái, muốn yên thân thì đừng huyên thiên với người khác, dù rằng với anh em trai cũng không được nữa. Em mà lấy hắn hả, thà chết sướng hơn!' Tóm lại em Clara nói xấu Umberto thậm tệ, đủ điều nên cuối cùng tôi hoàn toàn yên tâm, tôi để em gặp hắn mỗi khi em muốn.

Từ đó trở đi, tôi thấy như trả được mối hận mà ngày nầy qua ngày khác, mẹ tôi luôn luôn cho rằng Umberto là mẫu mực tôi phải noi theo. Mẹ tôi đã đặt hắn lên cái bệ; ngược lại Clara đã ném hắn xuống đất bùn. 'Em đâu thích anh ta. Em đi với anh ta vào nơi anh ta làm đốc công, anh ta thị người làm như cỏ rác. Nhưng khi ông kỹ sư đến thì anh ta biến thành người khác ngay - khúm núm, chăm chú, bợ đỡ.' Hoặc là: 'Để em kể cho anh nghe chuyện mới đây: Anh ta dám cho người ăn mày tới một trăm đồng lận á, anh biết tại sao không? Đó là tờ một trăm giả. Còn điều nầy nữa: Anh ta có tật xấu mà em chịu hết nỗi: Lúc nào thấy em ngó lơ là anh ta cạy cứt mũi.' Clara nói xấu Umberto tàn tệ đến nỗi đôi lần tôi muốn bào chữa cho Umberto, nếu tôi chỉ có cái thú là nghe em nhai đi nhai lại mãi. Tôi nói: 'Nhưng anh ta là đứa con ngoan mà.' Em đáp: 'Nhưng anh ta coi mẹ mình như nô lệ vậy.' Tôi nói: 'Anh ta đem trọn tiền lương về cho mẹ mà.' Em đáp: 'Đem tiền về nhà à? Bây giờ hết rồi, anh ta bỏ riêng vô nhà băng hết trơn thì có.' Tôi nói thêm: 'Anh ta chịu khó lắm mà.' Em đốp chát: 'Hắn mà chịu khó làm việc? Hắn chuyên né việc. Hắn thích sai biểu người khác làm, ngồi mát ăn bát vàng đó ông ơi!'

Thế rồi vì quá tin Clara nên một ngày kia tôi đề nghị điều chỉnh lại sự liên hệ giữa tôi và em tức là hứa hôn chính thức. Em đáp ngay: 'Em đã nghĩ đến điều đó rồi nhưng chưa dám nói với anh thôi. Để mọi việc danh chánh ngôn thuận, anh phải đến thưa với Mẹ em; anh biết mẹ em mà.' Thế là chúng tôi đồng ý là tôi đến trình với mẹ em còn em được phép gặp Umberto lần cuối cùng buổi chiều hôm ấy. Em nói: 'Em không chịu nỗi hắn nữa, hắn làm em mệt quá rồi.' Tôi chấp nhận kế hoạch nầy, không mảy may thương xót thằng Umberto, tội nghiệp, nó đâu biết việc gì sẽ xảy ra. Và khoảng bảy giờ tối thì tôi ra khỏi nhà, băng qua cư xá Via Candia, đi vào cổng của dãy nhà có căn apartment của Clara.


Trên từng ba của cầu thang chữ D, cánh cửa nhà bà Signora Dolores đang khép hờ, tôi đẩy cửa, bước vào. Căn phòng chật hẹp, chật kín khách chờ tới phiên mình. Hai bà đầu trần, dân ở vùng lân cận của Via Candia; một cô da đen xinh đẹp ở cùng khu vực với tôi vì tôi thấy cô nàng quen quen; một bà xồn xồn, mặt mày phờ phạc, trét đầy phấn, mặc áo lông màu nâu. Tôi nghĩ bà Signora Dolores làm ăn khấm khá. Tôi ngồi xuống, lấy tờ tạp chí có nhiều tranh ảnh lên xem. Một lát sau, cửa mở, một bà trẻ đẹp bước ra, hôn bà Signora Dolores một cách thắm thiết, nói: 'Đa tạ, đa tạ người đẹp.' Mẹ của Clara, trong bộ quần áo kiểu Nhựt bằng lụa, góc áo có thêu con rồng đủ màu, miệng ngậm cái ống điếu dài thườn thượt, liếc mắt ngó tôi, nói: 'Cháu Rinaldi, chờ chút nữa nhé, sẽ tới phiên cháu.' Bà đưa bà xồn xồn, mặc áo lông nâu vào. Qua giọng nói của bà, tôi nghĩ bà không biết trước điều tôi sắp trình với bà. Lúc ấy tôi bỗng nảy ra một ý hay hay: Sẽ nhờ bà ta bói thử xem bà có thấy được chuyện hôn nhân giữa tôi với em Clara nằm trong bàn tay tôi không; sau đó thì tôi mới trình chuyện ấy. Lấy làm vui với ý tưởng đó, tôi sốt ruột chờ đến phiên mình. Chừng mười lăm phút sau, bà mặc áo lông bước ra và đi thẳng, vẻ vội vã, đăm chiêu. Bà Signora Dolores ngoắc tay ra dấu cho tôi vào.

Dẫu biết trước vì chỗ nơi chật hẹp bà phải hành nghề trong phòng ngủ, vậy mà tôi cũng phải ngạc nhiên. Đó là một căn phòng tranh tối tranh sáng, với chiếc giường đôi rộng phủ vải vàng mà tôi chắc mẫm là nơi Clara ngủ với mẹ. Cửa sổ phòng có treo màn thêu một đàn chim và mấy giỏ hoa. Một cái bàn cạnh cửa sổ, trên có đặt bộ bài và một cái kiếng lúp. Toàn phòng chật ních với những bàn ghế nho nhỏ, đồ đạc linh tinh, tranh ảnh mang chữ ký của những vị tai to mặt lớn, tặng phẩm lưu niệm... Bà Signora Dolores không nói gì, ngồi vào bàn, ra dấu cho tôi ngồi đối diện. Việc trước tiên là lấy ra cái hộp quẹt, bật lên, đốt một mảnh giấy đen; mảnh giấy cháy, phát ra làn khói trắng thơm phức. Giọng mệt mỏi nhưng thanh tao, bà nói: 'Hương armenia đấy, cháu thấy thơm không? Cháu Rinaldi, cháu cần gì nào?' Tôi trả lời là tôi đến để coi vận mạng. Bà đặt cái ống điếu dài lên cái gạt tàn, cầm bàn tay tôi, nhìn qua kính lúp coi đi coi lại rất kỹ lưỡng.

Một lúc khá lâu, bằng một giọng ngài ngại, bà nói: 'Chỉ tay nầy của hạng người nào vậy cà?' Tôi cảm thấy bối rối, hỏi: 'Có gì vậy bác?' Bà đáp: 'Tại vì đây là chỉ tay của hạng đàn ông khoái- rất khoái - đàn bà con gái.'' Tôi nói: 'Thanh niên mà bác!' Bà đáp: 'Phải, nhưng có giới hạn trong việc săn đuổi chớ. Mà cháu thì không có giới hạn đó. Tim cháu giống như trái ar-ti-sô.' 'Nếu bác nói là...' 'Đó là do chính bàn tay của cháu nói lên thôi: Cháu là một tên Sở Khanh thứ thiệt.' 'Bác ơi, bác đừng nói quá!' 'Bác không phóng đại chút nào đâu; hãy nhìn vào đường tình yêu của cháu xem, nó giống như chuỗi dây xích- mỗi mắt xích là một người đàn bà.' 'Còn gì nữa hở bác?' 'Ngoài ra, không còn gì. Làm ăn may mắn chút đỉnh, làm việc không chăm chỉ lắm, tính tình không mấy đứng đắn, thiếu tinh thần trách nhiệm.' Tôi bắt đầu bực, nói: 'Bác chỉ thấy điều không tốt của cháu thôi!' Bà nói: 'Đó không phải là những điều không tốt. Đó là những đặc tính con người của cháu. Nếu bác là mẹ, chắc chắn bác không gả con gái cho cháu đâu.' Nghe vậy tôi phát giận ngang, tôi nói với bà: 'Vậy bác xem giùm đường gia đạo của cháu coi.' Bà cẩn thận cầm lấy kính lúp xoay xoay bàn tay tôi khắp mọi hướng rồi nói: 'Còn nhiều cuộc săn đuổi đàn bà nhưng không có chuyện hỏi được vợ.' Tôi nói: 'Bác Signora Dolores nè, nói rõ ra là cháu đến đây không phải để coi chỉ tay mà đến để báo với bác là con gái của bác và cháu đã yêu nhau, hôm nay chúng cháu đã quyết định hứa hôn với nhau.'

Khi nghe những lời đó, bà lặng lẽ để kính lúp xuống, nói: 'Nhưng, đứa cháu tội nghiệp của bác ơi...' 'Gì hả bác?' 'Cháu à, bàn tay bao giờ cũng nói lên sự thực; cháu không cưới được vợ đâu.' 'Rõ ràng là Clara và cháu đã đồng ý mà.' 'Cháu chưa được đồng ý...Cháu thì đồng ý với Clara, nhưng Clara thì đâu có đồng ý với cháu đâu.' 'Ai nói vậy?' 'Bác nói đó: Clara đã đính hôn rồi.' 'Nhưng mà lúc nào vậy...?' 'Nó đính hôn đã được cả tuần nay rồi, với Umberto. Clara không đủ can đảm nói thật với cháu vì tánh nó nhút nhát, cũng không muốn gây đau khổ cho ai vì nó có lòng nhân. Nó lo lắm; cháu không biết nó lo như thế nào đâu. Và nhân đây, bác muốn nói rằng thằng Umberto đã tỏ ra người quân tử: Clara đã xin Umberto cho nó gặp cháu thêm vài ngày để có dịp giải thích với cháu, Umberto đồng ý ngay. Không biết có bao nhiêu cặp đã đính hôn trong tình huống như vậy mà làm được điều đó.'

Tôi chết điếng trong lòng. Bà còn có vẻ đạo đức giả: 'A, thử bói bài thêm xem sao; cam đoan lật lên là thêm nhiều hình các bà.' Như kẻ vô hồn, tôi móc ra tờ một ngàn đồng đặt lên bàn, bước đi, không nói lời nào. Choáng váng. Thay vì coi chỉ tay cho tôi, bà Signora Dolores đã giáng lên đầu tôi cả cái búa tài xồi. Trong cảm gíác bàng hoàng, tôi vẫn còn hồ nghi nhiều điểm giống như đám rắn lay tỉnh dần dần trong đống rơm, dưới nắng ấm. Vậy là trong khi tôi nghĩ rằng tôi hào hiệp đối với thằng Umberto là để cho hắn được phép gặp Clara, thật ra hắn là người hào hiệp đối với tôi khi cho phép Clara gặp tôi. Trong khi tôi khoái chí nghe em nói xấu Umberto thì chính lúc ấy hắn đang khoái chí nghe em nói xấu tôi. Vậy là Clara luôn luôn chơi trò hai mặt; cuối cùng chỉ mình tôi là người bị lừa gạt phĩnh phờ.

Trong lúc thoáng qua đầu những suy nghĩ đó, chắc tôi lộ vẻ bối rối vì ngay lúc đó cô gái da đen xinh đẹp đang chờ đến phiên, vừa ra dấu vừa xì xì kêu tôi như người ta gọi con mèo. Tôi khom người xuống, em hỏi: 'Có chuyện gì vậy? Bà ta đoán toàn chuyện không tốt lành hả?' Tôi đáp: 'Xấu đau xấu đớn.' Cô em đứng bật dậy: 'Vậy em không thèm vô coi đâu. Em sợ nghe điều xấu lắm.' Như kẻ vô hồn, tôi bước ra khỏi phòng, cô em cũng bước theo sau.

Đến đầu cầu thang, tôi nhìn sang người đẹp: nước da đen bóng, tóc cắt ngắn như con trai, những lọn tóc lòa xòa quanh khuôn mặt tròn, đám tóc măng xuống tận má và cằm như bóng râm. Tôi thấy cô em quá là xinh và dường như đoán biết tôi đang nghĩ gì, cô em quay về phía tôi, mỉm cười: 'Anh thì chẳng biết em đâu, nhưng em biết anh! Chúng mình ở trong cùng một bin-đinh mà.'

Thình lình từ cầu thang bên dưới vang lên tiếng cười ngây thơ, trong như tiếng hạc bay qua; đó là tiếng cười của Clara. Lúc ấy cũng có tiếng nói the thé của thằng Umberto nữa. Tôi liền đặt tay ôm eo ếch người bạn mới: 'Cưng tên gì ?' Cô em đáp: 'Em tên Angela.' và nhìn tôi không chút ngượng ngùng. Đúng lúc đó, Clara và Umberto đi ngang qua chỗ hai đứa chúng tôi. Tôi biết em đã nhìn thấy chúng tôi ôm nhau nhưng em lặng lẽ ngó xuống đất. A, thấy chưa, tôi cũng có bồ vậy chứ, nhưng cảm giác cay đắng. Họ đi lên cầu thang, chúng tôi thì đi xuống. Tôi bỏ tay khỏi lưng Angela, nói: 'Angela yêu dấu, mình đi uống nước để mừng duyên gặp gỡ nhe!' Cô em nắm lấy tay tôi, chúng tôi cùng nhau xuống phố....

Port Arthur, 2000

Nguyễn Văn Sâm dịch

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.