Hôm nay,  

Trò Chơi Hai Mặt

11/12/201500:00:00(Xem: 6254)
Nguyễn văn Sâm dịch
(Truyện ngắn của Alberto Moravia, Ý))

blank
Alberto Moravia, Ý.

Thằng Umberto làm được cái này; thằng Umberto làm được cái kia; thằng Umberto đứng nhứt lớp; má thằng Umberto khoe nó được thưởng huy chương; thằng Umberto chịu khó đi làm; thằng Umberto đem tất cả tiền lương về nhà; thằng Umberto mua được xe gắn máy bằng tiền của mình; thằng Umberto đã mua được xe hơi. Bất cứ lúc nào, từ khi còn là đứa trẻ ngồi ăn trên ghế cao cẳng, mang yếm trước ngực, bao giờ tôi cũng nghe chuyện thằng Umberto hay giỏi hơn tôi. Dĩ nhiên vì chúng tôi ở cùng trong một bin-đinh ở Via Candia, trong hai căn apartment chật hẹp. Một căn là của cha thằng Umberto, bán gà vịt, ở từng trệt, căn kia là của chúng tôi. Hai căn cùng đổ về một đầu cầu thang. Mẹ tôi và mẹ nó là bạn thân nhau, tôi và nó cùng lớn lên cùng chơi chung. Dĩ nhiên, khi tôi lớn lên, trở thành một thằng chuyên môn lánh nặng tìm nhẹ, làm biếng làm nhác, ăn không ngồi rồi thì mẹ tôi chỉ thằng Umberto biểu tôi noi theo gương nó. Thật ra, theo tôi thì thằng Umberto không bằng ngón tay út tôi; nó láu cá, hợm mình, ti tiện. Nhưng so sánh thì ích lợi gì chớ? Ai chẳng biết tất cả bà mẹ đều giống nhau; nếu thế giới nầy tạo ra đúng theo ý của các bà thì chắc sẽ gồm toàn kẻ vô danh tiểu tốt chỉ biết láu cá, hợm mình, ti tiện như thằng Umberto thôi.

Tôi tuy bực thằng Umberto nhưng khi gặp nhau, chúng tôi vẫn lịch sự chào hỏi, trò chuyện. Thật ra đó là cuộc chiến tranh lạnh giữa hai người, chỉ đợi dịp là gây nhau thôi. Dịp đó đã đến vào ngày tôi bị đuổi khỏi hãng cao su ở Via Dandolo vì làm việc kém hiệu quả. Khi tôi đang đi xuống cầu thang, bên tai còn văng vẳng tiếng của mẹ tôi: 'Con ơi, con làm mẹ buồn quá... Hãy nhìn thằng Umberto kia kìa, nó là đứa con hiếu thảo, con cần noi theo.....' Tình cờ, thằng Umberto đang đi ra. Lập tức tôi chận nó lại: 'Nói đi, phải mầy luôn luôn giỏi trong mọi chuyện không?' 'Bạn nói gì vậy hả?' 'Tao muốn nói, mầy không bao giờ làm điều gì sai quấy phải không, mầy chỉ làm những việc gì nên làm, mầy có khi nào đem tiền lương lãnh trong tuần nướng hết vô sòng bài không?' Có thể tin nổi không chứ? Người nào ở vị trí của thằng Umberto sẽ trả đũa liền. Vậy mà cái mặt ranh ma của nó lại tỏ ra độ lượng. Nó đặt tay lên vai tôi, nói: 'Bạn à, bạn làm theo tôi đi rồi sẽ giỏi thôi chứ gì.' Tôi giận dữ: 'Bỏ tay xuống...Không phải tao gặp mầy để được thỉnh giáo đâu. Chính tao là người muốn khuyên mầy đây: Hãy cắt đứt liên lạc với em Clara nghe không; em đã chính thức đính hôn với tao rồi đó.' 'Chính thức đính hôn à?' 'Em thuộc về tao rồi, mầy phải để em yên- hiểu không mậy?' 'Tôi phạm lỗi gì nếu...?' 'Thôi đủ rồi, báo trước để mầy liệu hồn đó.''

Để các bạn hiểu những lời trên, cần biết lúc đó tôi đang theo đuổi em Clara. Em cũng ở tại Via Candia, trong một bin-đinh giống như bin-đinh của tôi, nghĩa là cũ xì, cũng có sân rộng như một công trường và cũng có cầu thang mang chữ từ A đến F. Trên một cầu thang là apartment của mẹ Clara. Bà tên là Signora Dolores, làm nghề coi bói. Bà đâu khoảng năm mươi, gầy guộc, mặt trắng bệch như bôi bột. Hai con mắt đen làm cho mặt mày giống như cái mặt nạ bằng thạch cao. Lúc trước bà giàu -hay bà nói như vậy- nay thì phải xoay sở bằng nghề bói bài và coi chỉ tay. Người ta đồn bà bói hay lắm. Ngoài các bà ở Via Candia, còn có các cô, có chồng hay chưa chồng, từ khu khá giả lân cận đến xem. Em Clara thì trái hẳn với mẹ. Em khỏe mạnh, xinh đẹp, tươi cười. Đôi mắt như hai vì sao bất động. Cái miệng với đôi môi hồng nhạt là quá dễ thương đi thôi. Khi em cười để lộ những chiếc răng trắng như hột hạnh đào, cái miệng tự nhiên của một cô gái chưa biết làm điệu. Clara làm thơ ký đánh máy và tốc ký cho một văn phòng; em tỏ ra lành nghề. Khi em ở nhà mà mẹ bận tiếp khách, em xuống bếp, ngồi đánh máy và học tiếng Anh. Theo tôi biết, Clara tính tình trầm lặng. Tôi có thể nói, em trầm lặng quá, nhiều như tôi yêu em, tôi phải so sánh em với mặt nước phẳng lặng trường giang. Không quá giống như thành ngữ nước yên thì chảy sâu; mà là mặt biển yên bình tháng tám. Ban đêm, trăng sao lồng vào đáy nước làm người ta nhớ đến cách yêu đương thời xưa, tay trong tay; tay mình quấn lấy lưng em, đầu em tựa lên vai mình. Đúng vậy, em đúng là dòng nước êm ả, đúng cả hai nghĩa.

Cùng ngày hôm đó, tôi kể lại cho Clara nghe là tôi đã chạm trán với Umberto. Em mỉm cười: 'Sao anh lại ghen với hạng người như Umberto được chớ?' 'Thì, hắn là đàn ông mà.' 'Đúng, nhưng là hạng đàn ông gì!' Cảm thấy được an ủi phần nào, tôi yêu cầu em giải thích thêm. Vẫn tươi cười, duyên dáng, ngây thơ, em đáp: 'Ồ, em không biết nữa... Trước tiên, về dáng người, anh ta trông giống như thằng Fagiolino trong rạp múa hình, là người chuyên nhận những cái đấm, với cái mặt dài thoòng và đầu tóc như là cái gối cắm kim tua tủa. Anh có biết không, hắn là chán chết đi được! Chỉ nghĩ đến mình thôi: mình tài giỏi, mình thông minh, mình thế nầy, mình thế kia...Anh ta luôn nói về mình... Ngoài ra anh ta còn có ý nghĩ: Vợ thì phải ở nhà, nấu ăn, trông coi con cái, muốn yên thân thì đừng huyên thiên với người khác, dù rằng với anh em trai cũng không được nữa. Em mà lấy hắn hả, thà chết sướng hơn!' Tóm lại em Clara nói xấu Umberto thậm tệ, đủ điều nên cuối cùng tôi hoàn toàn yên tâm, tôi để em gặp hắn mỗi khi em muốn.

Từ đó trở đi, tôi thấy như trả được mối hận mà ngày nầy qua ngày khác, mẹ tôi luôn luôn cho rằng Umberto là mẫu mực tôi phải noi theo. Mẹ tôi đã đặt hắn lên cái bệ; ngược lại Clara đã ném hắn xuống đất bùn. 'Em đâu thích anh ta. Em đi với anh ta vào nơi anh ta làm đốc công, anh ta thị người làm như cỏ rác. Nhưng khi ông kỹ sư đến thì anh ta biến thành người khác ngay - khúm núm, chăm chú, bợ đỡ.' Hoặc là: 'Để em kể cho anh nghe chuyện mới đây: Anh ta dám cho người ăn mày tới một trăm đồng lận á, anh biết tại sao không? Đó là tờ một trăm giả. Còn điều nầy nữa: Anh ta có tật xấu mà em chịu hết nỗi: Lúc nào thấy em ngó lơ là anh ta cạy cứt mũi.' Clara nói xấu Umberto tàn tệ đến nỗi đôi lần tôi muốn bào chữa cho Umberto, nếu tôi chỉ có cái thú là nghe em nhai đi nhai lại mãi. Tôi nói: 'Nhưng anh ta là đứa con ngoan mà.' Em đáp: 'Nhưng anh ta coi mẹ mình như nô lệ vậy.' Tôi nói: 'Anh ta đem trọn tiền lương về cho mẹ mà.' Em đáp: 'Đem tiền về nhà à? Bây giờ hết rồi, anh ta bỏ riêng vô nhà băng hết trơn thì có.' Tôi nói thêm: 'Anh ta chịu khó lắm mà.' Em đốp chát: 'Hắn mà chịu khó làm việc? Hắn chuyên né việc. Hắn thích sai biểu người khác làm, ngồi mát ăn bát vàng đó ông ơi!'

Thế rồi vì quá tin Clara nên một ngày kia tôi đề nghị điều chỉnh lại sự liên hệ giữa tôi và em tức là hứa hôn chính thức. Em đáp ngay: 'Em đã nghĩ đến điều đó rồi nhưng chưa dám nói với anh thôi. Để mọi việc danh chánh ngôn thuận, anh phải đến thưa với Mẹ em; anh biết mẹ em mà.' Thế là chúng tôi đồng ý là tôi đến trình với mẹ em còn em được phép gặp Umberto lần cuối cùng buổi chiều hôm ấy. Em nói: 'Em không chịu nỗi hắn nữa, hắn làm em mệt quá rồi.' Tôi chấp nhận kế hoạch nầy, không mảy may thương xót thằng Umberto, tội nghiệp, nó đâu biết việc gì sẽ xảy ra. Và khoảng bảy giờ tối thì tôi ra khỏi nhà, băng qua cư xá Via Candia, đi vào cổng của dãy nhà có căn apartment của Clara.


Trên từng ba của cầu thang chữ D, cánh cửa nhà bà Signora Dolores đang khép hờ, tôi đẩy cửa, bước vào. Căn phòng chật hẹp, chật kín khách chờ tới phiên mình. Hai bà đầu trần, dân ở vùng lân cận của Via Candia; một cô da đen xinh đẹp ở cùng khu vực với tôi vì tôi thấy cô nàng quen quen; một bà xồn xồn, mặt mày phờ phạc, trét đầy phấn, mặc áo lông màu nâu. Tôi nghĩ bà Signora Dolores làm ăn khấm khá. Tôi ngồi xuống, lấy tờ tạp chí có nhiều tranh ảnh lên xem. Một lát sau, cửa mở, một bà trẻ đẹp bước ra, hôn bà Signora Dolores một cách thắm thiết, nói: 'Đa tạ, đa tạ người đẹp.' Mẹ của Clara, trong bộ quần áo kiểu Nhựt bằng lụa, góc áo có thêu con rồng đủ màu, miệng ngậm cái ống điếu dài thườn thượt, liếc mắt ngó tôi, nói: 'Cháu Rinaldi, chờ chút nữa nhé, sẽ tới phiên cháu.' Bà đưa bà xồn xồn, mặc áo lông nâu vào. Qua giọng nói của bà, tôi nghĩ bà không biết trước điều tôi sắp trình với bà. Lúc ấy tôi bỗng nảy ra một ý hay hay: Sẽ nhờ bà ta bói thử xem bà có thấy được chuyện hôn nhân giữa tôi với em Clara nằm trong bàn tay tôi không; sau đó thì tôi mới trình chuyện ấy. Lấy làm vui với ý tưởng đó, tôi sốt ruột chờ đến phiên mình. Chừng mười lăm phút sau, bà mặc áo lông bước ra và đi thẳng, vẻ vội vã, đăm chiêu. Bà Signora Dolores ngoắc tay ra dấu cho tôi vào.

Dẫu biết trước vì chỗ nơi chật hẹp bà phải hành nghề trong phòng ngủ, vậy mà tôi cũng phải ngạc nhiên. Đó là một căn phòng tranh tối tranh sáng, với chiếc giường đôi rộng phủ vải vàng mà tôi chắc mẫm là nơi Clara ngủ với mẹ. Cửa sổ phòng có treo màn thêu một đàn chim và mấy giỏ hoa. Một cái bàn cạnh cửa sổ, trên có đặt bộ bài và một cái kiếng lúp. Toàn phòng chật ních với những bàn ghế nho nhỏ, đồ đạc linh tinh, tranh ảnh mang chữ ký của những vị tai to mặt lớn, tặng phẩm lưu niệm... Bà Signora Dolores không nói gì, ngồi vào bàn, ra dấu cho tôi ngồi đối diện. Việc trước tiên là lấy ra cái hộp quẹt, bật lên, đốt một mảnh giấy đen; mảnh giấy cháy, phát ra làn khói trắng thơm phức. Giọng mệt mỏi nhưng thanh tao, bà nói: 'Hương armenia đấy, cháu thấy thơm không? Cháu Rinaldi, cháu cần gì nào?' Tôi trả lời là tôi đến để coi vận mạng. Bà đặt cái ống điếu dài lên cái gạt tàn, cầm bàn tay tôi, nhìn qua kính lúp coi đi coi lại rất kỹ lưỡng.

Một lúc khá lâu, bằng một giọng ngài ngại, bà nói: 'Chỉ tay nầy của hạng người nào vậy cà?' Tôi cảm thấy bối rối, hỏi: 'Có gì vậy bác?' Bà đáp: 'Tại vì đây là chỉ tay của hạng đàn ông khoái- rất khoái - đàn bà con gái.'' Tôi nói: 'Thanh niên mà bác!' Bà đáp: 'Phải, nhưng có giới hạn trong việc săn đuổi chớ. Mà cháu thì không có giới hạn đó. Tim cháu giống như trái ar-ti-sô.' 'Nếu bác nói là...' 'Đó là do chính bàn tay của cháu nói lên thôi: Cháu là một tên Sở Khanh thứ thiệt.' 'Bác ơi, bác đừng nói quá!' 'Bác không phóng đại chút nào đâu; hãy nhìn vào đường tình yêu của cháu xem, nó giống như chuỗi dây xích- mỗi mắt xích là một người đàn bà.' 'Còn gì nữa hở bác?' 'Ngoài ra, không còn gì. Làm ăn may mắn chút đỉnh, làm việc không chăm chỉ lắm, tính tình không mấy đứng đắn, thiếu tinh thần trách nhiệm.' Tôi bắt đầu bực, nói: 'Bác chỉ thấy điều không tốt của cháu thôi!' Bà nói: 'Đó không phải là những điều không tốt. Đó là những đặc tính con người của cháu. Nếu bác là mẹ, chắc chắn bác không gả con gái cho cháu đâu.' Nghe vậy tôi phát giận ngang, tôi nói với bà: 'Vậy bác xem giùm đường gia đạo của cháu coi.' Bà cẩn thận cầm lấy kính lúp xoay xoay bàn tay tôi khắp mọi hướng rồi nói: 'Còn nhiều cuộc săn đuổi đàn bà nhưng không có chuyện hỏi được vợ.' Tôi nói: 'Bác Signora Dolores nè, nói rõ ra là cháu đến đây không phải để coi chỉ tay mà đến để báo với bác là con gái của bác và cháu đã yêu nhau, hôm nay chúng cháu đã quyết định hứa hôn với nhau.'

Khi nghe những lời đó, bà lặng lẽ để kính lúp xuống, nói: 'Nhưng, đứa cháu tội nghiệp của bác ơi...' 'Gì hả bác?' 'Cháu à, bàn tay bao giờ cũng nói lên sự thực; cháu không cưới được vợ đâu.' 'Rõ ràng là Clara và cháu đã đồng ý mà.' 'Cháu chưa được đồng ý...Cháu thì đồng ý với Clara, nhưng Clara thì đâu có đồng ý với cháu đâu.' 'Ai nói vậy?' 'Bác nói đó: Clara đã đính hôn rồi.' 'Nhưng mà lúc nào vậy...?' 'Nó đính hôn đã được cả tuần nay rồi, với Umberto. Clara không đủ can đảm nói thật với cháu vì tánh nó nhút nhát, cũng không muốn gây đau khổ cho ai vì nó có lòng nhân. Nó lo lắm; cháu không biết nó lo như thế nào đâu. Và nhân đây, bác muốn nói rằng thằng Umberto đã tỏ ra người quân tử: Clara đã xin Umberto cho nó gặp cháu thêm vài ngày để có dịp giải thích với cháu, Umberto đồng ý ngay. Không biết có bao nhiêu cặp đã đính hôn trong tình huống như vậy mà làm được điều đó.'

Tôi chết điếng trong lòng. Bà còn có vẻ đạo đức giả: 'A, thử bói bài thêm xem sao; cam đoan lật lên là thêm nhiều hình các bà.' Như kẻ vô hồn, tôi móc ra tờ một ngàn đồng đặt lên bàn, bước đi, không nói lời nào. Choáng váng. Thay vì coi chỉ tay cho tôi, bà Signora Dolores đã giáng lên đầu tôi cả cái búa tài xồi. Trong cảm gíác bàng hoàng, tôi vẫn còn hồ nghi nhiều điểm giống như đám rắn lay tỉnh dần dần trong đống rơm, dưới nắng ấm. Vậy là trong khi tôi nghĩ rằng tôi hào hiệp đối với thằng Umberto là để cho hắn được phép gặp Clara, thật ra hắn là người hào hiệp đối với tôi khi cho phép Clara gặp tôi. Trong khi tôi khoái chí nghe em nói xấu Umberto thì chính lúc ấy hắn đang khoái chí nghe em nói xấu tôi. Vậy là Clara luôn luôn chơi trò hai mặt; cuối cùng chỉ mình tôi là người bị lừa gạt phĩnh phờ.

Trong lúc thoáng qua đầu những suy nghĩ đó, chắc tôi lộ vẻ bối rối vì ngay lúc đó cô gái da đen xinh đẹp đang chờ đến phiên, vừa ra dấu vừa xì xì kêu tôi như người ta gọi con mèo. Tôi khom người xuống, em hỏi: 'Có chuyện gì vậy? Bà ta đoán toàn chuyện không tốt lành hả?' Tôi đáp: 'Xấu đau xấu đớn.' Cô em đứng bật dậy: 'Vậy em không thèm vô coi đâu. Em sợ nghe điều xấu lắm.' Như kẻ vô hồn, tôi bước ra khỏi phòng, cô em cũng bước theo sau.

Đến đầu cầu thang, tôi nhìn sang người đẹp: nước da đen bóng, tóc cắt ngắn như con trai, những lọn tóc lòa xòa quanh khuôn mặt tròn, đám tóc măng xuống tận má và cằm như bóng râm. Tôi thấy cô em quá là xinh và dường như đoán biết tôi đang nghĩ gì, cô em quay về phía tôi, mỉm cười: 'Anh thì chẳng biết em đâu, nhưng em biết anh! Chúng mình ở trong cùng một bin-đinh mà.'

Thình lình từ cầu thang bên dưới vang lên tiếng cười ngây thơ, trong như tiếng hạc bay qua; đó là tiếng cười của Clara. Lúc ấy cũng có tiếng nói the thé của thằng Umberto nữa. Tôi liền đặt tay ôm eo ếch người bạn mới: 'Cưng tên gì ?' Cô em đáp: 'Em tên Angela.' và nhìn tôi không chút ngượng ngùng. Đúng lúc đó, Clara và Umberto đi ngang qua chỗ hai đứa chúng tôi. Tôi biết em đã nhìn thấy chúng tôi ôm nhau nhưng em lặng lẽ ngó xuống đất. A, thấy chưa, tôi cũng có bồ vậy chứ, nhưng cảm giác cay đắng. Họ đi lên cầu thang, chúng tôi thì đi xuống. Tôi bỏ tay khỏi lưng Angela, nói: 'Angela yêu dấu, mình đi uống nước để mừng duyên gặp gỡ nhe!' Cô em nắm lấy tay tôi, chúng tôi cùng nhau xuống phố....

Port Arthur, 2000

Nguyễn Văn Sâm dịch

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.