Hôm nay,  

Ôi, Hoa Tàn Trăng Khuyết

10/11/201500:00:00(Xem: 7009)

1. Tôi không bao giờ ngờ rằng bài văn tế bằng chữ Hán, dưới đây, của một trạng nguyên Việt Nam, Mạc Đĩnh Chi, khóc một công chúa Tàu, nhân dịp cụ đi sứ sang Trung Hoa, cách nay bảy thế kỷ, lại có ngày trở về trong trí nhớ,

Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt,
Y! Vân tán, tuyết tiêu,
Hoa tàn, nguyệt khuyết.

để cho lòng tôi hôm nay khóc một giai nhân, “công chúa” Mỹ, da trắng, tóc vàng, mắt xanh, Elizabeth Anne Thompson Phạm, vợ của người bạn chúng tôi, nha sĩ John Phạm Anh Bình. Y! Vân tán, tuyết tiêu / Hoa tàn, nguyệt khuyết, còn gì nữa đâu, hỡi ơi! Liz –tên thân mật của chị– đã đột ngột, tức tưởi vĩnh biệt cuộc đời, giữa tuổi thanh xuân, dạt dào sức sống.

a) Liz đẹp cả người lẫn nết, mai cốt cách tuyết tinh thần, như hai chị em mỹ nhân nhà họ Vương của thi hào Nguyễn Du. Ai cũng công nhận. Dù chỉ gặp chị một hay vài lần, như hai người bạn thân quý của tôi, cũng đã lần lượt ra đi trước chị chưa đầy một tháng: Paul Dương Xuân Kính và Linh mục Thomas Đặng Kim Hoàng. Liz hiền thục, lịch sự, hiếu khách, niềm nở, mà lại tự nhiên, chân tình. Giống như một phụ nữ Việt Nam truyền thống. Trong ánh mắt chị, chưa bao giờ người ta bắt gặp một sự phiền hà, khó chịu, giả dối, đóng kịch Tất cả từ chị toát ra một vẻ đẹp thanh cao, và nếu tôi không quá lời, vẻ đẹp thiên thần. Bạn bè, dù thân dù sơ, hay người mới quen biết chị không ai là không đem lòng thương mến. Nhà thơ Ngọc Bội gọi chị là “nàng tiên”, xinh đẹp và đầy phẩm hạnh. Giáo sĩ Huỳnh Quốc Bình so sánh chị với một người vợ trẻ Việt Nam đảm đang, tuyệt vời. Còn tôi thường phong cho chị tước hiệu Miss America. Mỗi lần được ai khen như thế, chị đều cười vui. Anh Bội và tôi, lớn tuổi nhất trong đám, luôn xem chị, và đối xử với chị, như một cô em (út) ngoan hiền. b) Nha sĩ Bình yêu thương chị thật lòng, và đáp lại, chị lúc nào cũng

lo lắng, chăm sóc anh và ba con từng chút. Điều đó, không bạn bè nào phủ nhận. Một lần ăn tối tại tệ xá, sau khi nhắp một hớp rượu nhỏ, chị mệt, và lẳng lặng ra nằm duỗi chân trên sofa, lim dim mắt, đám bạn thấy Bình đến bên, âu yếm hỏi nhỏ vợ: “Hon, how do you feel?”, rồi vuốt lên má, và hôn nhẹ lên môi, như vỗ về, trìu mến. Một lần, anh hãnh diện kể cho một mình tôi, và lần khác cho cả bàn tiệc, nghe về buổi gặp gỡ ban đầu, ly kỳ như tiểu thuyết, giữa hai người, khác với những lời đồn đải, đôi khi ác ý, về cuộc hôn nhân dị chủng hi hữu này. Sau khi nghe câu chuyện của anh, chúng tôi tin rằng họ đã gặp nhau, lấy nhau vì tình yêu, và duyên số. Không bởi lý do nào khác. Danh phận, bạc tiền, nhà cửa, tiện nghi… không quan trọng đối với người thiếu phụ Mỹ có mái tóc vàng óng ả, dáng vẻ tuyệt đẹp, và tâm hồn dịu hiền rất Việt Nam –mà một trăm năm nữa, chúng tôi nói với nhau, cũng không dễ tìm được. Dù là vợ một nha sĩ, chị vẫn ăn mặc giản dị, vẫn mang cái xắc loại thường, vẫn không mướn người làm, để tự tay chăm sóc con cái, nhà cửa, vẫn làm việc trong clinic của chồng. Mười lăm năm chung sống và ba mặt con (đứa nhỏ nhất mới được bảy tháng) đủ để minh chứng chuyện của một tình yêu đích thực, qua nhiều thử thách. Giống như chuyện của bất cứ tình yêu đích thực nào, bất diệt và tầm thường, mang đến mỗi ngày tất cả hạnh phúc và thương đau, với lúc bên nhau vai kề vai và lúc nói lời vĩnh biệt, với những đêm âu lo và những sáng tuyệt vời, như qua lời hát của Dalida, một hồng nhan bạc mệnh khác, trong bài “Histoire dun amour” bất hủ:

C'est l'histoire d'un amour éternel et banal
Qui apporte chaque jour tout le bien tout le mal
Avec l'heure où l'on s'enlace, celle où l'on se dit adieu
Avec les soirées d'angoisse et les matins merveilleux

Sau câu chuyện kể về mối tình đầy thơ mộng của hai người, trong một buổi tiếp tân tại nhà anh, cách đây gần một năm, có đông khách dự, tình cờ tôi đứng cạnh Liz, và bất ngờ chị quay sang hỏi tôi có biết chuyện tình lãng mạn nào trong văn chương thế giới không, để kể cho chị nghe. Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn điểm nhanh trong trí nhớ những chuyện tình kim cổ nổi tiếng. Nhiều lắm, mà không hiểu sao, tôi dừng lại với thiên anh hùng ca The Aeneid, ít phổ quát, của thi hào La tinh Virgil. Trong đó có đoạn kể về Aeneas, hoàng tử và anh hùng bại trận thành Troy, vượt biên, tắp vào một hòn đảo, gặp Dido, nữ hoàng Carthage, và hai người yêu nhau say đắm. Rồi Aeneas, theo lệnh của mẹ, là nữ thần Venus, tìm cách bỏ trốn Dido, để tiếp tục cuộc hành trình đến Cumae, rồi sông Tiber, và sau đó lập nên thành Rome. Tuyệt vọng, Dido than khóc, rút kiếm tự đâm vào ngực. Về sau, Aeneas, với sự trợ giúp của nàng Sibyl of Cumae, tên Deiphobe, vượt được sông Styx, xuống âm phủ tìm cha, đang trú ngụ tại Elysium –nơi ở của những anh hùng và người công chính. Kế bên Elysium  là The Mourning Fields (Lugentes Campi), Những Cánh Đồng Nước Mắt, bao la, dành riêng cho những mỹ nhân đã chết vì tình, và tại đây chàng tình cờ gặp lại Dido, nay chỉ còn là hình bóng nhạt nhòa, đang rảo bước vô một khu rừng bát ngát. Tới đoạn này, thấy hơi mệt, tôi ngừng kể, hẹn Liz một dịp khác. Và dịp đó, không bao giờ còn nữa...  Chị nghe xong, tấm tắc khen: “Its very interesting. I like it. Thank you, anh Kuy!”.

2.  Tối thứ ba 27/10, nhận được tin cảnh sát đã tìm thấy xác chị trên sông Cowlitz, cả gia đình tôi bàng hoàng. Sững sờ. Như vậy, một chút hy vọng nhỏ nhoi cuối cùng cũng tiêu tan. Loan, vợ tôi, người vẫn tin rằng Liz đang tá túc đâu đó, sẽ trở về bình an, đã bật khóc, và thút thít kể: “Hèn chi lần cuối cùng mình ăn tại nhà anh chị, cách đó hai tuần, khi về, Liz đã tiễn em ra tận ngoài sân, ôm hug em đến bốn, năm lần, thật lâu, khác với thường lệ. Đó là điềm báo rõ ràng, mà em đâu có hay.” Trong khi hai con tôi, Marie-Joséphine và Xavier (bạn với Keatan, con trai của anh chị), mặt buồn hiu, mắt đỏ hoe, ngưng cãi nhau, và ngồi thức với tôi cho đến một giờ sáng để nói về những kỷ niệm với “cô Liz”, rồi cuối cùng chấm dứt bằng câu, “we miss her so much!”. Buồn đau, như khi được biết chị mất tích, cách đó ba tuần, ngày nào tôi cũng dán mắt vào màn ảnh TV để chờ tin mới. Phu nhân của những người bạn khác, như chị Bình, chị Dương, chị Trường, cũng chan chứa lệ rơi.


Tôi còn nhớ những bữa ăn cuối tuần tại nhà anh chị, hoặc tại nhà tôi, có đông bạn bè. Là gia chủ, lúc nào chị cũng được trông thấy trong bếp, bận bịu nấu nướng và chăm lo mọi thứ cho khách, kể cả rót thêm nước, thêm rượu, mời thay cho ông chồng đang thao thao bất tuyệt về đề tài chính trị hay thời sự. Tại nhà tôi, vừa bước vào, chị đã đi thẳng tới bếp, hoặc giúp Loan sửa soạn bữa ăn, hoặc giành rửa chén. Loan luôn can ngăn, nói (tạm dịch): “Mình đã làm xong hết rồi. Còn việc rửa chén, đó là job của anh Quý, my husband, you know. Thôi, Liz ra bàn ngồi nghỉ cho khoẻ, please.” Trong bữa ăn, ở đâu, chúng tôi cũng có thói quen xài tiếng Việt, để dễ bề tranh luận về chính trị, có khi rất sôi nổi, và vì lâu lâu mới gặp lại nên thèm nói tiếng mẹ đẻ, cho hả, nhất là Bình –suốt tuần phải tiếp toàn bệnh nhân Mỹ. Liz cũng phải nghe, không hiểu, nhưng vẫn gật gù, tươi cười. Khi còn cô nha sĩ Mai, dân Canada, qua hành nghề trong clinic của Bình, tôi luôn xếp Mai ngồi cạnh Liz, để làm thông dịch viên thường trực. Lúc Mai về lại Canada, thỉnh thoảng tôi nhắc chị Bình, hay chị Dương, hay chị Trường, ngồi gần, dịch cho Liz. Tôi không muốn Liz cảm thấy lạc lõng trong một rừng tiếng Việt, mặc dù có lần chị đã ghi danh theo học Việt ngữ tại trường Văn Lang. Nay chị mất rồi, nhớ lại vẻ mặt ngơ ngác của chị khi không hiểu tại sao thỉnh thoảng chúng tôi cười ầm lên, hoặc lớn tiếng, tôi rất ân hận, nghĩ rằng đúng ra, chúng tôi phải dùng Anh ngữ lúc có chị, cho phải phép.

Lấy chồng Việt Nam có tính thần quốc gia chống Cộng, như nha sĩ Bình, Liz cùng anh đến tham gia những buổi lễ quan trọng của Cộng đồng Oregon, mỗi cuối tuần từ Chehalis xuống Portland. Và trong những dịp ấy, chị mặc chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam kiêu sa, quấn trên cổ một dây choàng thêu hình cờ Vàng. Có khi được mời lên phát biểu cảm tưởng, chị không quên ca tụng “đồng hương” hải ngoại và nói chị thích nghe những bài hát Việt Nam. Khiến tập thể người Việt Tỵ Nạn quốc gia chống Cộng càng quý mến chị hơn. Quả vậy, Chúa Nhật 25/10, trong dịp Bình tổ chức lễ cầu nguyện cho chị tại tư gia, hai cô Vương Ngọc Lan và Mary Nguyễn, đại diện Ban Chấp Hành Cộng đồng Oregon, cũng đến tham dự.

3. Tất cả dường như hứa hẹn cho Liz một hiện tại đầy hạnh phúc và một tương lai đằm thắm với chồng, với con. Mặc dù, tôi biết, hạnh phúc thật không có trên cõi đời, bởi vì choáng ngợp trước ảo ảnh lừa phỉnh, có mấy ai còn để ý, nâng niu hạnh phúc bên mình, cho đến lúc tất cả vuột khỏi tầm tay, biến mất? Tất cả hứa hẹn cho Bình và Liz một đời bình an, thương yêu, gắn bó bên nhau. Nhưng vì đâu phải ra nông nỗi này, hả Trời? Vì sao, vì sao, vì sao, Chúa ơi? Cơn mê, hay cơn muộn phiền, nào đã khiến buổi sáng 10/10 ấy chị lặng lẽ bỏ nhà ra đi, không một lời vĩnh biệt, trong bộ đồ ngủ, chân không giày? Nỗi tuyệt vọng ghê gớm nào đã bắt chị ngồi ngắm thật lâu dòng sông Cowlitz –dòng sông mà sau đó đã cuốn trôi thân xác chị đi biền biệt, để cho “Oan kia theo mãi với tình / Một mình mình biết một mình mình hay” (Kiều)?

Than ôi!  Vì sao cùng buổi sáng đó, cùng giờ phút đó, anh Bội và tôi lên Seattle tham dự cuộc “Hội thảo về đại thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều”, cũng chạy ngang qua exit 57, nơi mà chị đã bỏ xe lại, nhưng ngược đường, không thấy gì hết, không biết chi cả? Vì sao, chị không gặp được một người thân quen nào, và những cư dân Mỹ xa lạ quanh khu phố đã gặp chị, trong trạng thái bất thường, vô hồn, mà không ai gọi báo cảnh sát? Vì sao phép lạ đã không xảy ra để có ai đó chận lũ “ma đưa lối quỷ đưa đường / Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi” (Kiều), giùm cho chị?

Phải chăng, tất cả đó là Định Mệnh? Định Mệnh, ôi! Giờ này tôi chỉ còn biết trách Định Mệnh nghiệt ngã đã bắt chị đầu hàng, bất lực, nằm xuống trong cô đơn, thê thiết. Định Mệnh nghiệt ngã của những vở bi kịch Hy Lạp nhuốm màu huyền thoại cổ xưa, mà nạn nhân khốn khổ, bất hạnh, tiêu biểu nhất vẫn là Antigone, con vua Oedipe –người đã vô tình giết cha và cưới mẹ mình. Antigone, hay Dalida, hay Elizabeth, hay Ngô Đình Lệ Thủy, hay Ngô Đình Lệ Quyên, hay bất cứ mỹ nhân mệnh yểu nào, không có tội tình gì, ngoại trừ một tội là đã trẻ đẹp và đức hạnh, và bởi thế cứ bị Định Mệnh đeo đuổi mãi, không buông tha. Cũng như, lãng mạn hơn, Thúy Kiều bị “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

4. Bây giờ, khi Liz không còn nữa, tôi mới chợt hiểu tại sao chị thích câu chuyện tình mà tôi đã bất ngờ kể cho chị nghe một lần, như tự tiềm thức, về nàng Dido trong tác phẩm của Virgil. Có lẽ chị bị quyến rũ bởi The Mourning Fields, Những Cánh Đồng Nước Mắt, dưới địa phủ, nơi mà những linh hồn mỹ nhân chết vì tình trú ngụ trước khi được đưa về Cõi Vĩnh Hằng. Nơi có những vạt cỏ myrtle xanh tận chân trời, những hàng bạch dương soi bóng bên dòng nước, những đám mây trắng lững lờ, và không gian thinh lặng cho ngày tháng muộn phiền khôn nguôi. Tôi tin rằng Liz trên dương thế đã sống trọn vẹn tình yêu cho chồng, cho con, và khi lìa đời đã mang theo trọn vẹn tình yêu ấy xuống tuyền đài, tức Những Cánh Đồng Nước Mắt.

Thôi, chị Liz ơi! Thôi hết rồi những ưu tư, phiền muộn. Thôi hết rồi những cơn mê, cơn đau Thôi hết rồi những tuyệt vọng ê chề. Hãy trả lại hết khổ lụy, hay hạnh phúc, cho đời. Chị đã được giải thoát, và cứu rỗi rồi. Tại bất cứ nơi đâu, trong Những Cánh Đồng Nước Mắt của Virgil hay trên Thiên Đàng rực rỡ, hãy ru giấc mộng lành ngàn năm, bình an, thảnh thơi, trong vòng tay rộng mở của Thiên Chúa nhân từ, luôn luôn yêu thương, luôn luôn tha thứ. Khác với Định Mệnh nghiệt ngã của những vở bi kịch Hy Lạp nhuốm màu huyền thoại cổ xưa.

Portland, 2/11/2015

Ngày Lễ Các Linh Hồn

Kim Thanh Nguyễn Kim Quý

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.