Hôm nay,  

Tỉnh Thức Để Dân Chủ Hóa

15/09/201500:00:00(Xem: 6892)

Vô cảm là trở lực trong hiện tại

Trước hiện trạng tụt hậu của đất nước, Việt Nam đang cần cải cách toàn diện về đất nước và con người, mà bốn trụ cột chính làm nền tảng để xây dựng cho tương lai là dân chủ đại nghị, kinh tế thị trường, thể chế pháp quyền và xã hội dân sự. Việt Nam đang cần có những con người không những thích tìm hiểu và yêu mến các giá trị mới mà còn thiết tha xây dựng thể chế mới làm tác nhân chuyển hoá. Nếu đa số người Việt có kiến thức mới, ý thức mới và động lực khích lệ đóng góp, thì sẽ có chuyển biến cho đất nước. Nhưng thái độ vô cảm hiện nay của chính quyền và đa số người dân là trở lực chính.

Do chế độ toàn trị tận dụng các chính sách tuyên truyền về một ý thức hệ giả tạo và mọi phương thức khủng bố toàn dân, nên vô cảm trước các vấn đề vẹn toàn lãnh thổ, tồn vong dân tộc, chính thống của chế độ và bất công xã hội trở thành một thái độ “khôn ngoan” cho nhiều người.

Nhạy cảm sai lầm trong quá khứ

Nhạy cảm là một sự thay đổi từ nội tâm trước một giá trị chung. Dù tiềm tàng trong cá nhân, nhưng lòng dâng hiến cho một lý tuởng cao đẹp sẽ thúc đẩy làm cho cảm xúc xã hội hình thành và duy trì. Nhạy cảm chính trị có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử.

Thí dụ như trước đây, Đảng đã nói rằng vì lòng tự hào là dân tộc anh hùng nên Việt Nam sẵn sàng chống Mỹ thay cho Liên Xô và Trung Quốc; vì yêu thương miền Nam ruột thịt bị Đế quốc Mỹ và tay sai kềm kẹp mà miền Bắc đấu tranh giải phóng. Đó là hai khẩu hiệu tuyên truyền đầy tình cảm. Thời gian lắng động và lịch sử sang trang đã chứng minh là các hãnh diện này làm hao tốn nhiều máu xương oan uổng cho bao thế hệ.

Ngày nay, tình thế đổi thay, Đảng cũng cần có cảm xúc mới để mở lối: bài Hoa hay thân Mỹ lại là những mơ ước có ảnh hưởng đến chính trị đối ngoại trong tương lai của người Việt. Thực ra, thương yêu nhau trong tình tự dân tộc một cách lành mạnh đáng lý ra phải là một cảm xúc trân quý cần có để phát huy thành một nguồn lực chuyển hoá cho đất nước.

Gần đây, phong trào dân oan đòi công lý ngày càng lan rộng. Nhưng thương tâm trong nghịch cảnh hay tự thiêu để phản đối đã không đem lại một giải pháp bồi thường thoả đáng cho nạn nhân, mà cũng không tìm ra được điều chính yếu cần phải có, đó là một hệ thống luật pháp công minh và tinh thần trọng pháp của người dân và chính quyền.

Tác nhân chuyển hoá trong tương lai

Nguyên ủy cho các chuyển động trong tương lai là Việt Nam cần có các tác nhân chuyển hóa và nhưng rất khó tìm ra giới tiên phong này.

Vì muốn tiếp tục độc quyền lãnh đạo nên Đảng sẽ không dại gì mà khởi xướng thay đổi. Đảng cũng không muốn người dân có ý thức về giá trị dân chủ mà còn quy kết ai kêu gọi dân chủ là thế lực phản động và suy thoái đạo đức. Bầu cử tự do không xảy ra vì chế độ Đảng cử dân bầu nên không tác động. Khi 3 triệu 5 Đảng viên tập trung nguồn lực để lo giải quyết động loạn xã hội nhất thời và bảo vệ đặc quyền và đặc lợi cho thân tộc, nên đã và sẽ không còn sức mà lo về một trào lưu chuyển hoá lâu dài để xây dựng cho một nhà nước vĩnh cửu. Khi đa số Đảng viên tin là còn Đảng còn mình, thì thiểu số có ý thức dân chủ cũng không thể thay đổi quan điểm của lãnh đạo và đa số. Kinh nghiệm Đông Âu cho thấy là các Đảng viên không thể chủ động trong tiến trình chuyển đổi mà là toàn dân. Chúng ta tiếp tục tin tưởng giao phó sinh mệnh dân tộc cho 3 triệu 5 Đảng viên là một sai lầm.

Vì lo sợ là sẽ hỗn loạn hơn và cuộc sống sẽ khó khăn hơn mà đa số dân chúng không muốn có thay đổi triệt để chế độ. Dân oan đòi công lý là chỉ muốn bồi thường thoả đáng và công nhân biểu tình là để đòi hỏi thay đổi điều kiện làm việc tốt đẹp. Do đó, cho đến nay dân chủ hoá không phải là mục tiêu đấu tranh chính và cũng không có phong trào đấu tranh trực diện và toàn diện.

Trong giai đoạn mà các phong trào đối kháng và xã hội dân sự đang được hình thành, một thiểu số khả kính có ý thức về dân chủ và can đảm lên tiếng, nhưng lại không có nhân sự và chương trình để thu hút đa số. Thỉnh thoảng có một vài thỉnh nguyện thư, nhưng không đủ khích động để dân chúng tham gia đông đảo và để nhà nước quan tâm giải quyết. Vì không đủ tư thế để đối thoại như tại Đông Âu, Miến Điện hay Á Rập, nên nhà nước không xem thương thảo với họ là giải pháp.

Thuận lợi nhất hiện nay là cư dân mạng ngày càng quan tâm nhiều hơn các vấn đề nóng bỏng; phương tiện truyền thông xã hội ngày càng đa dạng giúp cho việc truyền bá thông tin đấu tranh nhanh chóng hơn. Nhưng làm sao để các lực lượng đầu tàu trong không gian ảo này mạnh và chừng nào mạnh để bước vào đấu tranh trong thế giới thực thì không ai biết.

Phương Tây và người Việt hải ngoại quan tâm đến chuyển hoá, nhưng không thể lo hết mọi chuyện nội bộ như dân chủ, nhân quyền và lãnh thổ. Tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền có tác dụng nhất định trên bình diện quốc tế, vì đã có những thương lượng trong một vài trường hợp cá biệt, nhưng kết quả đổi chác ngoại giao lại làm giảm hiệu năng cho phong trào đấu tranh chung và không cải thiện toàn hệ thống. Vi phạm nhân quyền tại Syria trầm trọng hơn Việt Nam và quốc tế không ai can thiệp, thì hy vọng Mỹ trực tiếp can thiệp mạnh bạo hơn tại Việt Nam trong tương lai là thiếu thực tế.

Nhiều nhà đấu tranh kỳ vọng là nếu nội tình của Trung Quốc suy vi hay nếu Việt Nam chịu chấp nhận các ràng buộc để tham gia TPP, thì Việt Nam có ngay dân chủ. Lạc quan này thiếu cơ sở. Dân chủ là một vấn đề tự ý thức và dân chủ hoá là một nỗ lực trong một tiến trình lâu dài và sâu rộng, cho nên dân chủ không phải là quà tặng của Trung Quốc hay do áp lực của TPP mà có. Trung Quốc không có mặt hàng dân chủ trong thị trường nội địa để tặng. Mối liên hệ nhân quả trực tiếp trong các nhượng bộ về thoả hiệp mậu dịch với sự hình thành trào lưu dân chủ của Việt Nam là điều không thể xác định, cho dù những hoảng loạn bất lợi cho chính quyền có thể xảy ra. Hai hy vọng này là sai lầm.

Ý thức về dân chủ là nguồn lực

Có lập luận cho rằng đa số người Việt đang có ý thức về dân chủ và nhiều nhạy cảm để đóng góp cho tiến trình chuyển hoá. Thực tế bi quan hơn, khi các nguy cơ về nâng cao dân trí và chấn hưng dân khí chưa được giải quyết. Vì giáo dục suy tàn và thiếu nỗ lực khai sáng cá nhân nên không có thay đổi văn hoá chính trị để tạo điều kiện thuận lợi cho trào lưu mới. Trung bình thì một người Việt không đọc đến một cuốn sách trong một năm; về lĩnh vực tư tưởng chính trị thì số lượng sách loại này in ra là 500 bản để bán cho 90 triệu dân, thì không thể tìm ra sự đồng thuận mới của toàn dân về các giá trị dân chủ cho tương lai.

Vì đã sống 40 năm trong một chế độ toàn trị nên thế hệ hậu chiến ít có ý thức về khái niệm dân chủ và chưa có kinh nghiệm sống với chế độ dân chủ. Đa số lại không có đủ năng động để tự khai sáng và không có dịp so sánh, nên cũng chưa có thể làm quen và mến yêu các giá trị dân chủ và có động lực khích lệ để đòi hỏi dân chủ.

Do đó, giá trị mới chưa thành hình trong khi giá trị cũ không còn nữa. Khi bế tắc này còn kéo dài, thì bịnh vô cảm chính trị của dân chúng sẽ còn trầm trọng hơn. Liệu liều thuốc bài Hoa và thân Mỹ có làm cho cơn bịnh trầm kha này thuyên giảm không, chưa ai đoán được.

Tỉnh thức thương yêu là hành trang khởi đầu

Nếu dân chủ hoá là một chuyến viễn du mộng tưởng của toàn dân, vì ý thức về các giá trị dân chủ chưa có, thì liệu chúng ta có nên hy vọng là tỉnh thức của lãnh đạo và dân chúng may ra sẽ tạo một hành trang khởi đầu để dân chủ hoá được không.

Bằng tỉnh thức, Đảng sẽ thấy là chuyện không muốn sẽ phải đến: do tham nhũng và bất lực nội tại của chế độ toàn trị mà tiến trình tự hủy phát sinh là kết quả tất yếu. Đảng không thể tìm phép lạ nơi Hoa Kỳ hay Trung Quốc để thoát hiểm cho Đảng mà chính là sức mạnh dân tộc sẽ làm cho Đảng hồi sinh. Nhưng Đảng không còn một phương sách khả thi để mưu sinh cho dân, trong khi Đảng cũng đã không thể lý giải được cơ chế Kinh tế Thị trường và Nhà nước Pháp quyền theo định hướng XHCH và hoàn thiện đường lối này cho đến cuối thế kỷ XXI. Đảng cũng không thể tiếp tục nhân danh đạo đức cách mạng trong quá khứ mà dùng bạo lực đàn áp dân lành để duy trì chế độ hiện nay. Đảng và nhà nước cần có nhiều can đảm hơn để nhìn thẳng vào tình trạng tụt hậu của đất nước.

Nhờ thế, từ nay, lãnh đạo có ý thức trách nhiệm hơn để tìm lại chính danh và tín nhiệm. Chuyển biến cụ thể cần có nhất trong hiện nay là lãnh đạo sẽ không còn ác với dân, hèn với giặc, nghi ngờ mọi người là thù địch, lo sợ mất độc quyền lãnh đạo bất nhân và lo mất của bất chánh.

Bằng tỉnh thức về tình tự dân tộc, tấm chân tình, lòng tương kính, tinh thần hiếu hoà và trọng pháp, người dân sẽ không còn dùng bạo lực để tự ban phát công lý để giải quyết các tranh chấp trong gia đình, học đường và xã hội. Chuyển hoá này sẽ làm mọi người gắn bó nhau để cùng xây dựng một hạnh phúc chung trong một xã hội bình ổn. Khi người dân có kiến thức mới sẽ can đảm hơn để thảo luận với chính quyền nhằm nhận ra các điều kiện đem lại hoà bình và thịnh vượng cho đất nước, mà cụ thể là các giá trị của dân chủ đại nghị, kinh tế thị trường, thể chế pháp quyền và xã hội dân sự.

Mọi vấn đề hiện nay có thể sẽ được giải quyết một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị với nhà nước và quyết tâm chuyển hướng của cả hai là chính. Đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên.

Nếu không nhận ra được cơ hội cuối cùng này để khẩn trương hành động thì lần đại bại này của dân tộc sẽ là vĩnh viễn, vì đại hoạ Bắc thuộc cũng không còn cho phép Đảng và nhà nước được phép cai trị như hiện nay và thế hệ tương lai sẽ lãnh chịu mọi hậu qủa của việc nô lệ tự nguyện và lãnh trả nợ của quốc tế.

Dân chủ hoá không phải là một tư tưởng rỗng tuếch mà là một nhiệm vụ do chính toàn dân giải quyết dần dần để tiến gần tới mục tiêu. Chúng ta hy vọng là khoảng cách sẽ thu ngắn hơn để đạt được những tiến bộ này. Nhưng hy vọng hàng đầu là trào lưu dân chủ hoá sẽ tiến nhanh và tiến mạnh hơn trước khi tiến trình Hán hoá kết thúc.

Tỉnh thức lòng yêu thương trong tình tự dân tộc và cùng giúp nhau nhận chân các giá trị nền tảng để dân chủ hoá là một hành trang khởi đầu. Tinh thần khai minh sẽ giúp chúng ta nhận ra các lý tưởng này nhưng còn tìm cách áp dụng nó là một thách thức trong thực tế. Kiên trì khai sáng để chuyển hoá thái độ vô cảm của chính quyền và người dân nhằm xây dựng một thể chế chính trị mới cho Việt Nam là nỗ lực trường kỳ của chúng ta.

* * *

Tác giả cám ơn Thi sĩ Lê Cao Bằng (Alberta, Canada) đã tu chỉnh bài viết.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.