Hôm nay,  

Úc Tiễn Đưa Cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser

28/03/201509:41:00(Xem: 5768)
ÚC TIỄN ĐƯA CỰU THỦ TƯỚNG MALCOLM FRASER
Nguyễn Quang Duy
Nước Úc vừa tiễn đưa cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser về nơi an nghỉ cuối cùng.
 
Tin về lễ an tang của ông là tin hàng đầu được truyền thông Úc truyền đi vào thứ sáu 27/3/2015. Rầm rộ như trước đây đã thông tin những chính sách công bằng do ông đề xướng, trong đó có việc mở cánh cửa nước Úc đón nhận thuyền nhân Việt Nam.
Lần này, truyền thông Úc đưa tin và hình hằng trăm người Việt với ba biểu ngữ thật lớn nói lên tấm lòng tri ân của họ dành cho ông. Một người mặc khăn đống áo dài đen, tay ôm bức chân dung của ông, hai bên là hai lá cờ Úc Việt.
Inline image

Khi còn tại chức, ông Fraser đã đón nhận nhiều cuộc biểu tình ủng hộ cá nhân hay ủng hộ chính sách ông đưa ra. Đến cuối cuộc đời ông còn đón nhận một cuộc "biểu tình" người Việt biểu lộ vẫn không quên ơn ông, không quên ơn nước Úc đã mở rộng bàn tay cưu mang đòan người bỏ trốn cộng sản. Biểu tượng là cờ vàng ba sọc đỏ.
Inline image
 
Truyền thông Úc còn đưa hình vòng hoa phân ưu với lá cờ Úc Việt sánh đôi, và nhiều bài viết, nhiều bản tin những câu chuyện về những thuyền nhân Việt và mong ước của họ một ngày Việt Nam được tự do. Ông Malcolm dù mất nhưng vẫn giúp nói lên quan điểm của người Việt tị nạn cộng sản.
Inline image
Tôi gặp ông Fraser lần đầu năm 1984, ông đến thăm Viện Đại Học Tasmania nơi tôi theo học. Đứng cuối giảng đường tôi quan sát ông một người tôi mến phục. Tôi được gặp ông nhiều lần sau đó trong các sinh họat cộng đồng ông được mời tham dự.
Bình thường tôi vẫn tiếp xúc với những chính giới Úc để vận động cho nhân quyền, nhưng với ông tôi chưa từng có ý định đến bắt tay hay trò chuyện với ông.
Ông rời chính trường không còn khả năng hay giá trị để giúp vận động cho nhân quyền Việt Nam? Không! tôi quan sát và học hỏi từ ông, một chính trị gia được nhiều người kính mến. Điều tôi nhận ra là với tấm lòng bác ái cả cuộc đời ông đã chiến đấu cho hai chữ công bằng.
Chúng ta biết đến ông vì đã sát cánh chiến đấu cho miền Nam tự do và giúp cho thuyền nhân được định cư.
Ông còn chiến đấu cho người nghèo và thổ dân Úc được đối xử công bằng, chiến đấu thay đổi sách lược kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi, chiến đấu chống lại sách lược diệt chủng ở Rwanda, hay gần nhất là vận động để chính phủ Nam Dương ân xá cho 2 công dân Úc tội tử hình.
Ông thiết lập Ủy ban Nhân quyền Quốc Hội Liên Bang và đồng chủ tịch sáng lập Care Australia, giúp giải quyết một phần sự bất bình đẳng trên tòan thế giới.
Úc là một quốc gia lưỡng đảng đối lập, công bằng nhận định việc người Việt định cư tại Úc là kết quả của cả hệ thống chính trị. Năm 1975, chính phủ Lao Động Gough Whitlam và khi ấy ông Malcolm Fraser làm đối lập, đã xóa bỏ chính sách “nước Úc của người da trắng”, trước đây họ chỉ nhận những di dân gốc da trắng.
Đến năm 1978 đạo luật nhận người Việt tị nạn của chính phủ Tự Do Malcolm Fraser đã được thủ lãnh đối lập Bob Hawke ngấm ngầm ủng hộ hay không phản đối. Khi lên cầm quyền ông Hawke đã tiếp tục nhận thêm người Việt tị nạn và bảo lãnh gia đình những người còn kẹt lại ở Việt Nam.
Hai ông Fraser và Hawke là những người đã tiên phong xây dựng một nước Úc đa văn hóa nơi mà mọi người đều được đối xử một cách bình đẳng. Mọi người, mọi cộng đồng được tôn trọng văn hóa và phát huy sáng kiến của mình. Cụ thể là việc người Việt đã tổ chức "biểu tình" với cờ vàng và biểu ngữ trước đám tang của ông Fraser.
 
'Ân nhân'
Một số người cho rằng việc nhận người tị của ông Malcolm là ông nghĩ đến tương lai người Việt chống cộng sẽ bầu cho đảng Tự Do. Theo tôi ngòai tấm lòng vị tha nhân đạo ông Malcolm còn xem việc làm như một trách nhiệm. Ông cho biết đã từng ngậm ngùi và cay đắng khi chính phủ Hoa kỳ bỏ rơi những người đang chiến đấu tại Đông Dương.
Nhiều người Việt xem ông như một ân nhân, một người thân hay một người cha trong gia đình. Với người Tây Phương việc đóng góp chỉ nhằm phục vụ con người, ở ông Malcolm là thực hiện sự bình đẳng.
Qua quan sát tôi nhận ra ông đối xử với mọi người từ đứa bé lên năm đến bậc lão thành một cách bình đẳng như những người bạn. Và tôi cũng cảm nhận ông sẽ hạnh phúc hơn khi được mọi người xem ông như một người bạn. Với tôi ông là một người bạn chí tình dù chưa bao giờ tôi bắt tay hay trò chuyện với ông.
Ông đã mất nhưng ông vẫn giúp chúng ta. Ông giúp chúng ta nhìn lại bản sắc của mình, giúp chúng ta học hỏi từ cuộc đời của ông, và nhất là giúp chúng ta gởi một tín hiệu đến chính giới và người dân Úc chúng tôi mang ơn nước Úc và chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu cho một Việt Nam tự do.
Ông Malcolm Fraser đã về đất Chúa nhưng ông không bao giờ mất đi trong lòng những người Việt Tự Do và trong lòng người dân Úc. Ông là một chiến sĩ với tấm lòng bác ái cả đời chiến đấu cho nhân lọai được công bằng.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne Úc Đại Lợi
28/03/2015

.
,

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.