Hôm nay,  

Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Hết)

2/17/201510:00:00(View: 13429)

Nguyên tác Anh ngữ: Olga Dror

Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Kim Quang

image002Như toàn văn lịch sinh hoạt tại Berleley đã phổ biến, Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, nhằm ngày mùng bảy Tết Ất Mùi, sách “Mourning Headband for Huế” --từ nguyên tác tiếng Việt “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca -- chính thức thành đề tài thảo luận tại Đại Học Berkeley, với hai diễn giả chính là Nhã Ca, người viết, và Olga Dror, người dịch.
February 2015
Mourning Headband for Hue
Reading - Literary | February 25 | 4-6 p.m. | 180 Doe Library
Featured Speaker: Nha Ca, writer
Speaker: Olga Dror, Associate Professor of History, Texas A & M University
Sponsor: Center for Southeast Asia Studies
This book event will highlight the new English-language translation of prominent Vietnamese writer Nha Ca's memoir Giai khan so co Hue, which was first published in 1969 as an eyewitness chronicle of the suffering of Vietnamese civilians caught in the city of Hue during the 1968 Tet offensive.
This event will include remarks on the translation by Prof. Olga Dror, the book's translator [in English], and commentary about the book itself by Nha Ca [in Vietnamese, with English language translation provided]
Nha Ca was born in Hue, Vietnam in 1939, but moved to Saigon after her marriage where she established a literary career. After the fall of South Vietnam in 1975, Nha Ca was incarcerated by the new national government. She was allowed to emigrate to the West with her family in 1989 and now lives in southern California.
Olga Dror was born in the Soviet Union and received an M.A. in Oriental Studies from Leningrad State University in 1987. She emigrated to Israel in 1989, and later moved to the U.S. to study Vietnamese history at Cornell University. She received her Ph.D. from Cornell in 2003, and has been a member of Texas A&M's faculty since 2004. Event Contact: [email protected], 510-642-3609; 322 Wheeler Hall. Berkeley CA 94720 :: 510.642.3467 UC Berkeley.
Tuy giỏi nhiều ngôn ngữ và từng trực tiếp dịch bút ký truyền giáo ở Việt Nam của Linh Mục Adriano di Santa Thecla từ tiếng La Tinh, hay bút ký chạy loạn Huế Mậu Thân của Nhã Ca từ Việt ngữ sang Anh ngữ, công việc chính của Olga Dror là nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam tại Texas A&M University. Đó là lý do trong ấn bản Mourning Headband for Hue, ngoài phần dịch thuật, Olga Dror còn có thêm “Translator’s Introduction”, (Giới Thiệu của Dịch Giả) bổ cứu công phu, phân tích tỉ mỉ các quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam và trận chiến Huế. Sau đây là bản dịch bài viết công phu của bà về “Giải Khăn Sô cho Huế” và tác giả Nhã Ca.


image007Trong số quan điểm [từ phía cộng sản và phía chống cộng] mà tôi nói đến ở đây, Giải Khăn Sô Cho Huế ở vị thế trung lập đại diện người không ảo tưởng, những người đứng ở lập trường trung lập trong cuộc chiến, chỉ trích chiến tranh. Dù những tranh luận về ý thức hệ có thể xảy ra, tác phẩm của Nhã Ca nổi bật lên bởi vì tiếng nói mạnh mẽ làm sáng tỏ những kinh nghiệm của người dân bị mắc kẹt nhiều tuần lễ trong trận chiến khủng khiếp.

TẠI SAO CHÚNG TA NÊN ĐỂ TANG CHO HUẾ

Cho tới nay, Huế không còn được phép chính thức có một ngày giỗ chung, cùng hướng về những người chết tức tưởi trong Tết Mậu Thân.” (Nhã Ca, Giải Khăn Sô Cho Huế)

Có thể không có cảnh tắm máu sau khi Sài Gòn thất thủ và Việt Nam thống nhất, nhưng có nhiều hệ lụy. Nhiều ngàn người bị đẩy vào các trại tù học tập cải tạo, gồm Nhã Ca và chồng của bà, Trần Dạ Từ; hàng trăm ngàn người bỏ trốn hay cố gắng bỏ trốn bằng thuyền, với nhiều ngàn người chết trên biển hay bị bắt ngay trước khi rời bờ biển Việt Nam. Một sĩ quan cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Công Luận, phản ảnh về biến cố Huế trong hồi ký xuất sắc của ông:
“Nhiều năm sau, vào năm 1972, những hình ảnh kinh khủng của các mồ chôn tập thể năm 1968 đưa đẩy nhiều chục ngàn người từ mọi tầng lớp xã hội sống tại Huế và Quảng Trị đi theo con đường tị nạn chiến tranh. Các phóng viên gọi nó là “bỏ phiếu bằng chân.” Những cuộc di tản kinh hoàng từ các thành phố thuộc phía bắc Nam Việt Nam lại xảy ra lần nữa càng bi thảm hơn vào tháng 3 năm 1975 trước khi Nam Việt Nam bị thất thủ. Rõ ràng là sau đó người dân từ Huế và các tỉnh lân cận đã chiếm một tỉ lệ đáng kể của số thuyền nhân Việt Nam vượt biên khỏi Việt Nam sau khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền Cộng Sản đã xua đuổi rất nhiều thân nhân của các nạn nhân vụ tàn sát năm 1968 tại khu vực Huế và tái định cư họ tại “Những Vùng Kinh Tế Mới” xa xôi.” Điều kiện sinh sống tại “Những Vùng Kinh Tế Mới” thì rất khắc nghiệt.”(103)

Gần một nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1968. Chính quyền Việt Nam vẫn mô tả Tết 1968 nói chung và trận chiến Huế nói riêng như là một đại chiến thắng. Chẳng hạn, vào ngày 1 tháng 1 năm 2008, Bộ Quốc Phòng và Tỉnh Ủy tổ chức một “hội nghị khoa học”, chủ đề “Trận Tấn Công và Nổi Dậy của Mùa Xuân Mậu Thân 1968,” để kỷ niệm năm thứ bốn mươi biến cố này. Lê Khả Phiêu, cựu tổng bí thư Đảng Cộng Sản (1997-2001); Thượng Tướng Phan Trung Kiên, Ủy viên Trung Ương Đảng và thứ trưởng Bộ Quốc Phòng; và các viên chức và học giả khác đã có mặt. Vấn đề của vụ tàn sát và ai chịu trách nhiệm cho sự kiện đó đã không được chính thức bàn đến.
Những phản ánh của Lê Minh và Hoàng Phủ Ngọc Tường về thảm kịch Huế, được thảo luận đến ở trên, cho thấy một đường nứt có khả năng dẫn tới một sự cởi mở hơn, và có lẽ ngay cả trong chiều hướng có thể có “một ngày giỗ chung, cùng hướng về những người chết tức tưởi trong Tết Mậu Thân.”(104) Dù nhiều năm đã trôi qua sau những phản ánh xuất hiện đó, chưa có điều gì xảy ra cả.
Những ai đã từng sống qua cơn ác mộng của Huế và những người muốn nhìn thấy các sự kiện đó nhận ra rằng có hàng chục trang mạng toàn cầu với những hình ảnh và chứng cứ từ thời điểm đó đã được tạo ra. Nhưng không có sự thừa nhận chính thức của Hà Nội, thì một cuộc đối thoại là không thể có. Tác phẩm của Nhã Ca đã không được xuất bản tại Việt Nam sau chiến tranh; dù nhiều cuốn trong đó, gồm Giải Khăn Sô Cho Huế, có thể tìm đọc được trên mạng lưới toàn cầu, điều này không dẫn tới một cuộc đối thoại với các cơ chế học thuật và chính trị hay với sự quan tâm công khai tại Việt Nam hiện nay.
Nó không phải chỉ quan trọng đối với người Việt mà còn với người Mỹ nữa. Dù tiếng nói của Nhã Ca và tiếng nói của người Việt Miền Nam và Miền Bắc khác mà có thể đem đến sự chú ý của công chúng thì có thể thay đổi quan điểm của chúng ta về chiến tranh và về những gì đã xảy ra tại Huế, hay ít nhất cũng mở ra được đối thoại, tôi không biết. Trong bất cứ trường hợp nào, đây không phải là mục đích quan trọng nhất của tôi, dù tôi sẽ vui vẻ nếu điều đó diễn ra và nếu một ngày nào đó người dân Việt Nam có thể cùng nhau tưởng niệm những người đã chết ở thời điểm Tết Mậu Thân tại Huế, như Nhã Ca cũng đã ao ước.
Mục đích của tôi với tác phẩm này là làm cho sự quan tâm của chúng ta về chiến tranh càng nhập cuộc hơn và khuyến khích bất cứ ai muốn suy ngẫm về vấn đề này có được một căn bản rộng hơn để đạt được kết luận của chính họ.
Giải Khăn Sô Cho Huế được viết trong những tháng sau biến cố tại Huế. Nó cung cấp cơ hội để cho mọi người biết, dù trễ, với quan điểm của người Việt Miền Nam về những gì đã xảy ra tại thành phố đó. Nó là cái nhìn về chiến tranh không qua cặp mắt của một người lính hay một nhà chính trị nhưng qua cặp mắt của những người dân. Những người dân đó đã không có chọn lựa trong cuộc chiến nhưng bị đẩy vào giữa chiến trường kinh hoàng bởi quân đội cùng là đồng bào và các chính trị gia là những người nói thao thao về các chính sách chiến tranh, điều khiển cuộc chiến, và sau đó viết sách về nó. Cuốn sách này mô tả kinh nghiệm của những người dân bình thường mà cuộc đời họ bị thay đổi một cách nghiêm trọng hay bị cắt ngắn bởi bạo lực của chiến tranh; nó là về “những người khác,” những người bị bắt trong vùng khói lửa bom đạn, những người còn sống sót, và những người không còn sống. Nó không phải là cuốn tiểu thuyết, không là tác phẩm hư cấu, mà là cuốn sách mô tả không bóng bẩy về các sự kiện như được chứng kiến qua cặp mắt của tác giả và những người chung quanh bà vào lúc đó. Nó cho chúng ta “những bức ảnh chụp tức thì” của cuộc sống bị hủy hoại và vỡ nát ở thời điểm Trận Tấn Công Tết. Nhưng nó cũng bày tỏ những quan điểm khác nhau về các bên Cộng Sản, Quốc Gia, và Mỹ của cuộc chiến từ các thắng lợi của những người khác nhau.
Một vài đoạn trong cuốn sách liên hệ tới cùng các sự kiện hay mô tả cùng những khuôn mặt như họ được nghe thấy bởi nhiều người, và điều này bổ túc thêm cho sự hiểu biết của chúng ta về tình cảnh phức tạp tại Nam Việt Nam vào lúc đó và tạo ra phong cách gợi nhớ của cuốn phim Rashomon, bộ phim nổi tiếng của đạo diễn người Nhật Akira Kurosawa dựa trên truyện ngắn “Trong Khu Rừng Nhỏ” của nhà văn Nhật Akutagawa Ryunosuke.
Bất luận quan điểm chính trị nào, Giải Khăn Sô Cho Huế nhắc nhở chúng ta để tang cho người Huế, cho dân tộc Việt Nam, cho sự tự hấp thụ các chính sách của đại cường tại Việt Nam, và cho sự từ chối của chúng ta để tìm hiểu thêm về “những người khác,” mà ngay đến ngày nay vẫn tiếp tục ám ảnh các chính sách của chúng ta đến các quốc gia khác.
Olga Dror
Tháng 1 năm 2014


Ghi chú

(103) Nguyễn Công Luận, Nationalist in the Viet Nam Wars: Menoirs of a Victim Turned Soldier [Người Theo Chủ Nghĩa Dân Tộc Trong Các Cuộc Chiến Tại Việt Nam: Hồi Ký của Một Nạn Nhân Trở Thành Người Lính] (Nxb Indiana University Press, Bloomington và Indianapolis, 2012), trang 581-82n3.

(104) Nhã Ca, Giải Khăn Sô Cho Huế (Việt Báo, USA, 2008), trang 9.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.