Hôm nay,  

Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Hết)

17/02/201510:00:00(Xem: 13426)

Nguyên tác Anh ngữ: Olga Dror

Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Kim Quang

image002Như toàn văn lịch sinh hoạt tại Berleley đã phổ biến, Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, nhằm ngày mùng bảy Tết Ất Mùi, sách “Mourning Headband for Huế” --từ nguyên tác tiếng Việt “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca -- chính thức thành đề tài thảo luận tại Đại Học Berkeley, với hai diễn giả chính là Nhã Ca, người viết, và Olga Dror, người dịch.
February 2015
Mourning Headband for Hue
Reading - Literary | February 25 | 4-6 p.m. | 180 Doe Library
Featured Speaker: Nha Ca, writer
Speaker: Olga Dror, Associate Professor of History, Texas A & M University
Sponsor: Center for Southeast Asia Studies
This book event will highlight the new English-language translation of prominent Vietnamese writer Nha Ca's memoir Giai khan so co Hue, which was first published in 1969 as an eyewitness chronicle of the suffering of Vietnamese civilians caught in the city of Hue during the 1968 Tet offensive.
This event will include remarks on the translation by Prof. Olga Dror, the book's translator [in English], and commentary about the book itself by Nha Ca [in Vietnamese, with English language translation provided]
Nha Ca was born in Hue, Vietnam in 1939, but moved to Saigon after her marriage where she established a literary career. After the fall of South Vietnam in 1975, Nha Ca was incarcerated by the new national government. She was allowed to emigrate to the West with her family in 1989 and now lives in southern California.
Olga Dror was born in the Soviet Union and received an M.A. in Oriental Studies from Leningrad State University in 1987. She emigrated to Israel in 1989, and later moved to the U.S. to study Vietnamese history at Cornell University. She received her Ph.D. from Cornell in 2003, and has been a member of Texas A&M's faculty since 2004. Event Contact: [email protected], 510-642-3609; 322 Wheeler Hall. Berkeley CA 94720 :: 510.642.3467 UC Berkeley.
Tuy giỏi nhiều ngôn ngữ và từng trực tiếp dịch bút ký truyền giáo ở Việt Nam của Linh Mục Adriano di Santa Thecla từ tiếng La Tinh, hay bút ký chạy loạn Huế Mậu Thân của Nhã Ca từ Việt ngữ sang Anh ngữ, công việc chính của Olga Dror là nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam tại Texas A&M University. Đó là lý do trong ấn bản Mourning Headband for Hue, ngoài phần dịch thuật, Olga Dror còn có thêm “Translator’s Introduction”, (Giới Thiệu của Dịch Giả) bổ cứu công phu, phân tích tỉ mỉ các quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam và trận chiến Huế. Sau đây là bản dịch bài viết công phu của bà về “Giải Khăn Sô cho Huế” và tác giả Nhã Ca.


image007Trong số quan điểm [từ phía cộng sản và phía chống cộng] mà tôi nói đến ở đây, Giải Khăn Sô Cho Huế ở vị thế trung lập đại diện người không ảo tưởng, những người đứng ở lập trường trung lập trong cuộc chiến, chỉ trích chiến tranh. Dù những tranh luận về ý thức hệ có thể xảy ra, tác phẩm của Nhã Ca nổi bật lên bởi vì tiếng nói mạnh mẽ làm sáng tỏ những kinh nghiệm của người dân bị mắc kẹt nhiều tuần lễ trong trận chiến khủng khiếp.

TẠI SAO CHÚNG TA NÊN ĐỂ TANG CHO HUẾ

Cho tới nay, Huế không còn được phép chính thức có một ngày giỗ chung, cùng hướng về những người chết tức tưởi trong Tết Mậu Thân.” (Nhã Ca, Giải Khăn Sô Cho Huế)

Có thể không có cảnh tắm máu sau khi Sài Gòn thất thủ và Việt Nam thống nhất, nhưng có nhiều hệ lụy. Nhiều ngàn người bị đẩy vào các trại tù học tập cải tạo, gồm Nhã Ca và chồng của bà, Trần Dạ Từ; hàng trăm ngàn người bỏ trốn hay cố gắng bỏ trốn bằng thuyền, với nhiều ngàn người chết trên biển hay bị bắt ngay trước khi rời bờ biển Việt Nam. Một sĩ quan cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Công Luận, phản ảnh về biến cố Huế trong hồi ký xuất sắc của ông:
“Nhiều năm sau, vào năm 1972, những hình ảnh kinh khủng của các mồ chôn tập thể năm 1968 đưa đẩy nhiều chục ngàn người từ mọi tầng lớp xã hội sống tại Huế và Quảng Trị đi theo con đường tị nạn chiến tranh. Các phóng viên gọi nó là “bỏ phiếu bằng chân.” Những cuộc di tản kinh hoàng từ các thành phố thuộc phía bắc Nam Việt Nam lại xảy ra lần nữa càng bi thảm hơn vào tháng 3 năm 1975 trước khi Nam Việt Nam bị thất thủ. Rõ ràng là sau đó người dân từ Huế và các tỉnh lân cận đã chiếm một tỉ lệ đáng kể của số thuyền nhân Việt Nam vượt biên khỏi Việt Nam sau khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền Cộng Sản đã xua đuổi rất nhiều thân nhân của các nạn nhân vụ tàn sát năm 1968 tại khu vực Huế và tái định cư họ tại “Những Vùng Kinh Tế Mới” xa xôi.” Điều kiện sinh sống tại “Những Vùng Kinh Tế Mới” thì rất khắc nghiệt.”(103)

Gần một nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1968. Chính quyền Việt Nam vẫn mô tả Tết 1968 nói chung và trận chiến Huế nói riêng như là một đại chiến thắng. Chẳng hạn, vào ngày 1 tháng 1 năm 2008, Bộ Quốc Phòng và Tỉnh Ủy tổ chức một “hội nghị khoa học”, chủ đề “Trận Tấn Công và Nổi Dậy của Mùa Xuân Mậu Thân 1968,” để kỷ niệm năm thứ bốn mươi biến cố này. Lê Khả Phiêu, cựu tổng bí thư Đảng Cộng Sản (1997-2001); Thượng Tướng Phan Trung Kiên, Ủy viên Trung Ương Đảng và thứ trưởng Bộ Quốc Phòng; và các viên chức và học giả khác đã có mặt. Vấn đề của vụ tàn sát và ai chịu trách nhiệm cho sự kiện đó đã không được chính thức bàn đến.
Những phản ánh của Lê Minh và Hoàng Phủ Ngọc Tường về thảm kịch Huế, được thảo luận đến ở trên, cho thấy một đường nứt có khả năng dẫn tới một sự cởi mở hơn, và có lẽ ngay cả trong chiều hướng có thể có “một ngày giỗ chung, cùng hướng về những người chết tức tưởi trong Tết Mậu Thân.”(104) Dù nhiều năm đã trôi qua sau những phản ánh xuất hiện đó, chưa có điều gì xảy ra cả.
Những ai đã từng sống qua cơn ác mộng của Huế và những người muốn nhìn thấy các sự kiện đó nhận ra rằng có hàng chục trang mạng toàn cầu với những hình ảnh và chứng cứ từ thời điểm đó đã được tạo ra. Nhưng không có sự thừa nhận chính thức của Hà Nội, thì một cuộc đối thoại là không thể có. Tác phẩm của Nhã Ca đã không được xuất bản tại Việt Nam sau chiến tranh; dù nhiều cuốn trong đó, gồm Giải Khăn Sô Cho Huế, có thể tìm đọc được trên mạng lưới toàn cầu, điều này không dẫn tới một cuộc đối thoại với các cơ chế học thuật và chính trị hay với sự quan tâm công khai tại Việt Nam hiện nay.
Nó không phải chỉ quan trọng đối với người Việt mà còn với người Mỹ nữa. Dù tiếng nói của Nhã Ca và tiếng nói của người Việt Miền Nam và Miền Bắc khác mà có thể đem đến sự chú ý của công chúng thì có thể thay đổi quan điểm của chúng ta về chiến tranh và về những gì đã xảy ra tại Huế, hay ít nhất cũng mở ra được đối thoại, tôi không biết. Trong bất cứ trường hợp nào, đây không phải là mục đích quan trọng nhất của tôi, dù tôi sẽ vui vẻ nếu điều đó diễn ra và nếu một ngày nào đó người dân Việt Nam có thể cùng nhau tưởng niệm những người đã chết ở thời điểm Tết Mậu Thân tại Huế, như Nhã Ca cũng đã ao ước.
Mục đích của tôi với tác phẩm này là làm cho sự quan tâm của chúng ta về chiến tranh càng nhập cuộc hơn và khuyến khích bất cứ ai muốn suy ngẫm về vấn đề này có được một căn bản rộng hơn để đạt được kết luận của chính họ.
Giải Khăn Sô Cho Huế được viết trong những tháng sau biến cố tại Huế. Nó cung cấp cơ hội để cho mọi người biết, dù trễ, với quan điểm của người Việt Miền Nam về những gì đã xảy ra tại thành phố đó. Nó là cái nhìn về chiến tranh không qua cặp mắt của một người lính hay một nhà chính trị nhưng qua cặp mắt của những người dân. Những người dân đó đã không có chọn lựa trong cuộc chiến nhưng bị đẩy vào giữa chiến trường kinh hoàng bởi quân đội cùng là đồng bào và các chính trị gia là những người nói thao thao về các chính sách chiến tranh, điều khiển cuộc chiến, và sau đó viết sách về nó. Cuốn sách này mô tả kinh nghiệm của những người dân bình thường mà cuộc đời họ bị thay đổi một cách nghiêm trọng hay bị cắt ngắn bởi bạo lực của chiến tranh; nó là về “những người khác,” những người bị bắt trong vùng khói lửa bom đạn, những người còn sống sót, và những người không còn sống. Nó không phải là cuốn tiểu thuyết, không là tác phẩm hư cấu, mà là cuốn sách mô tả không bóng bẩy về các sự kiện như được chứng kiến qua cặp mắt của tác giả và những người chung quanh bà vào lúc đó. Nó cho chúng ta “những bức ảnh chụp tức thì” của cuộc sống bị hủy hoại và vỡ nát ở thời điểm Trận Tấn Công Tết. Nhưng nó cũng bày tỏ những quan điểm khác nhau về các bên Cộng Sản, Quốc Gia, và Mỹ của cuộc chiến từ các thắng lợi của những người khác nhau.
Một vài đoạn trong cuốn sách liên hệ tới cùng các sự kiện hay mô tả cùng những khuôn mặt như họ được nghe thấy bởi nhiều người, và điều này bổ túc thêm cho sự hiểu biết của chúng ta về tình cảnh phức tạp tại Nam Việt Nam vào lúc đó và tạo ra phong cách gợi nhớ của cuốn phim Rashomon, bộ phim nổi tiếng của đạo diễn người Nhật Akira Kurosawa dựa trên truyện ngắn “Trong Khu Rừng Nhỏ” của nhà văn Nhật Akutagawa Ryunosuke.
Bất luận quan điểm chính trị nào, Giải Khăn Sô Cho Huế nhắc nhở chúng ta để tang cho người Huế, cho dân tộc Việt Nam, cho sự tự hấp thụ các chính sách của đại cường tại Việt Nam, và cho sự từ chối của chúng ta để tìm hiểu thêm về “những người khác,” mà ngay đến ngày nay vẫn tiếp tục ám ảnh các chính sách của chúng ta đến các quốc gia khác.
Olga Dror
Tháng 1 năm 2014


Ghi chú

(103) Nguyễn Công Luận, Nationalist in the Viet Nam Wars: Menoirs of a Victim Turned Soldier [Người Theo Chủ Nghĩa Dân Tộc Trong Các Cuộc Chiến Tại Việt Nam: Hồi Ký của Một Nạn Nhân Trở Thành Người Lính] (Nxb Indiana University Press, Bloomington và Indianapolis, 2012), trang 581-82n3.

(104) Nhã Ca, Giải Khăn Sô Cho Huế (Việt Báo, USA, 2008), trang 9.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.