Hôm nay,  

Vài điều với ông Thủ tướng VN về ngày "Tháng Tư Đen"

09/02/201500:37:00(Xem: 7773)

Vài điều với ông Thủ tướng VN về ngày "Tháng Tư Đen" 

 
Tôi có vài điều chia sẽ sau khi đọc bản tin trên Tờ Global and Mail nói về việc ông Thủ tướng Việt Nam gởi thơ đến Thủ tướng Canada rằng ông cảm thấy 'tổn thương' bởi dự luật Thượng viện Canada tưởng niệm ngày "Tháng Tư Đen", ngày Hành Trình tìm Tự Do .
blank
Là một thuyền nhân t
 nạn đã mạo hiểm mạng sống của mình để tìm tự do từ chế độ cộng sản Việt Nam và đã được định cư tại Canada vào đầu năm 1980. Tôi xin cảm ơn Canada, cảm ơn Global and Mail đã cho tôi cơ hội để chia sẻ vài lời.
 
30 tháng tư năm 1975 chỉ là một ngày theo niên lịch đã trôi qua, nhưng đó là ngày Đại thắng mùa xuân của lực lượng Cộng sản Bắc Việt đang được cử hành hàng năm và nó cũng là ngày "Tháng Tư Đen" cho những người đang sống ở miền Nam.
 
Điều gì đã xảy ra sau đó ...
 
Thế giới đã chứng kiến vào ngày 30 tháng 4, 1975 khi xe tăng Cộng Sản Bắc Việt ủi xập cánh cổng Dinh Độc Lập - vi phạm Hiệp Định Paris 1973 - đánh dấu sự sụp đổ của Sài Gòn, miền Nam thống nhất với miền Bắc. 
 
Ngay sau đó, Cộng sản Việt Nam (VC) áp đặt cái gọi là "sở hữu toàn dân dưới chế độ cộng sản" trên khắp miền Nam, họ thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, đánh tư sản, kế hoạch tập trung học tập cải tạo, kế hoạch kinh tế mới, kế hoạch cải tạo công thương nghiệp ... kết quả là họ tịch thu ruộng đất của các địa chủ, chiếm lấy các nhà máy và tịch thu tài sản của các nhà tư bản, đưa quân - dân - cán - chính của miền Nam vào trong các nhà tù ẩn dưới tên trại cải tạo và tịch thu tài sản của gia đình họ và đẩy họ đi vào vùng kinh tế mới, không còn quyền sở hữu tư nhân, không có doanh nghiệp tư nhân tất cả trở thành dưới sự kiểm soát của chính phủ cộng sản. 
 
Bất cứ ai dám phản đối, họ sẽ bi nghiền nát, hoặc nhận một án tù vô thời hạn hay thậm chí biến mất ...
 
Lịch sử đã ghi nhận làn sóng người tị nạn ồ ạt từ Nga, Đông Âu, Cuba ... sau khi những nước nầy rơi vào tay Cộng Sản, lịch sử đã lặp lại lần nữa sau khi Sài Gòn xụp đổ, hàng triệu người Việt Nam chạy trốn chế độ cộng sản bằng đường biển hoặc bằng chân, hàng ngàn trong số họ không may đã vĩnh viễn định cư nơi đáy biển, nhưng hàng ngàn Thuyền nhân khác đã đến được bờ và may mắn nhận được "Vòng tay m rộng" và "Trái tim  nhân ái" từ nhân dân Canada qua Chính phủ của họ và định cư ở đây từ đó.
 
Canada đã thực sự cứu mạng chúng tôi, người Canada đã cho chúng tôi một cơ hội để sống trong đất nước tuyệt vời này như một con người được đấng tạo hóa sinh ra.
 
Đối với người nói  "lựa chọn 30 tháng 4  'tổn thương' cho chúng tôi", tôi tự hỏi họ là ai và tổn thương đó là gì !
 
Thực sự ngày 30 tháng 4 (1975) thuộc về tất cả, nhưng "Tháng Tư Đen" không bao giờ thuộc về VC, vì đó là ngày mà cuộc hành trình của hàng triệu người Việt Nam t nạn cộng sản tìm Tự do bắt đầu.
 
Đau thương, mất mát kể cả sự chết không bao giờ thuộc về những người đã gây ra nó, cũng không thuộc về những ai đã chưa bao giờ phải trãi qua một "hành trình sống hay là chết" trên biển hoặc xuyên qua các khu rừng chết, lạnh lẽo tối tăm nhưng chắn chắn nó đã thuộc về nạn nhân của các chính sách vô nhân đạo của chế độ cộng sản tại Việt Nam. 
 
Nhưng khổ đau cũng dần dần được xoa dịu, những mất mát tổn thương rồi cũng lành - nhưng không phải do VC- mà là từ Canada, nước đã cứu chúng tôi ra khỏi bóng tối và bây giờ qua Luật S219 mà Thượng viện vừa thông qua, nó thật xứng đáng được vinh danh công nhận sau 35 năm.
 
Tôi luôn ủng hộ mối quan hệ hỗ tương phát triễn giữa Canada và Việt Nam nhưng tôi nhận thấy thương mại sẽ luôn được nâng cao  thăng tiến không phải chỉ dựa trên lợi nhuận hay bởi s chối bỏ hoặc bẻ cong sự thật mà là dựa trên sự công bằng, minh bạch và chủ yếu là từ sự hỗ trợ của chính nhân dân sở tại
 
Nếu Dự Luật S219 đang chiếu lại lịch sử, đang vinh danh lòng nhân đạo vĩ đại của Canada đối với thuyền nhân Việt Nam hay lời mở đầu của nó đã nhắc lại một phần bi kịch của họ. Chỉ trừ khi đến lúc Chính phủ Việt Nam nhận ra và học được từ những sai lầm quá khứ để bắt đầu một hành vi mang tính xây dựng và hướng về phía trước, nếu không họ vẫn phải luôn đối mặt với sự chống đối tự nhiên của người Dân Canada gốc Việt , hồ sơ nhân quyền của họ vẫn nghèo nàn và người Canada vẫn còn nghe họ nói họ cảm thấy bị 'tổn thương'.
 
Hơn nữa, sự thiếu hiểu biết về các quy trình lập pháp Canada và quyền Dân chủ của Công dân Canada mà chủ yếu là nếu vẫn tiếp tục tránh né sự thật thì họ chính là người sẽ cảm thấy không yên về Luật S219 - Hành Trình tìm Tự Do - và thậm chí sẽ luôn cảm thấy 'tổn thương' bởi mục đích cao đẹp của Dự luật nầỵ
 
 Lê Văn
9/2/2015


.
,

Ý kiến bạn đọc
09/02/201514:48:24
Khách
Ý kiến ông LÊ VẪN muốn nước CANADA phải làm gì bây giờ ? ,,,. Bài của ông Lê văn chỉ kể chuyện xưa ,,,, Vậy tích cực hơn nữa thì làm cái gì ? Không thấy đề nghị cụ thể !
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.