Hôm nay,  

Tìm hiểu về viện Khổng Tử - Kỳ cuối

07/02/201502:29:00(Xem: 5015)

CHỐNG TÀU DIỆT VIỆT CỘNG

Bản tin số 55— Ngày 06 tháng 02 năm 2015 

 

Tìm hiểu về viện Khổng Tử - Kỳ cuối

Nguồn: The Nation (29/10/2013)

Tác giả: Mashall Sahlins

Người dịch: Trần Văn Minh

06/02/2015

Viện Khổng Tử kiểm duyệt các cuộc thảo luận chính trị và hạn chế sự tự do trao đổi tư tưởng. Tại sao, sau đó, các trường đại học Mỹ bảo trợ cho họ?

blank


​Sự thành lập Học viện Khổng Tử tại Đại học Chicago được ghi là, như được dự đoán, "định chế tự do" trong cả khái niệm ban đầu lẫn nội dung học thuật. Henry Paulson gần đây đã đóng góp vài triệu đô la cho một viện mang tên mình, nằm trong tòa nhà riêng biệt trên mảnh đất quan trọng gần trường đại học chính. Hiện nay đang được tu sửa và kế bên khuôn viên trường là các dãy nhà của một nhà thờ lớn được dự kiến là chỗ ở mới của Phân khoa Kinh tế của đại học Chicago nổi tiếng và viện Friedman Becker, điều đó đặt ra cho các kiến trúc sư những thách thức lớn trong việc thay đổi cách thức sắp xếp theo chức năng các tòa nhà trong khi vẫn bảo tồn đặc tính tôn giáo của nó. Viện Khổng Tử (VKT), ngoài việc cung cấp giáo viên dạy ngôn ngữ từ Trung Quốc, còn tài trợ công trình nghiên cứu cần thiết về các lãnh vực phát triển kinh tế Trung Quốc – thực ra, nhiều về kinh tế hơn so với việc giảng dạy ngôn ngữ. Như với các viện khác tại Chicago, nguồn gốc của VKT ghi dấu ấn của một người, nhà khoa học chính trị Dali Yang, vào thời điểm khi ông sửa soạn bản dự thảo cho VKT, là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á. Trong khoảng một năm, Yang đã có thể đưa dự thảo vào các cuộc đàm phán với các viên chức Trung Quốc, các quản trị viên và đồng nghiệp giảng viên tại đại học Chicago.

Yang đã không thể dựng nên VKT một mình; tổ chức của ông đã thành công bởi vì có sự tham gia của các định chế đại học lớn, đưa tới cho tổ chức của ông sức thuyết phục và sự hỗ trợ hiệu quả. Một mặt, có sự thỏa thuận ngầm sẵn sàng của ban điều hành trường đại học, điều cũng giống như nhiều đại học khác dễ dàng bị lôi cuốn vào sự thèm thuồng đáng xấu hổ đối với tiền của, sự quyến rũ và vinh quang. Đại học Chicago rất tự hào về truyền thống của họ. (Theo lời kể của Thorstein Veblen trong cuốn sách “Học vấn trình độ cao tại Mỹ” [1918], một sự quan tâm mang tính cạnh tranh nào đó về danh tiếng học viện và uy tín trước công chúng của giới học thức uyên bác đã xuất hiện vào đầu thế kỷ XX.) Mặt khác , Yang biết làm thế nào để đáp ứng sự chú ý mới của Hanban về vấn đề "nghiên cứu cốt lõi", và chủ yếu là sự ham muốn lộ liễu của Trung Quốc đối với phân khoa kinh tế của đại học Chicago. Theo Ted Foss, Trung tâm Nghiên cứu Đông Á thường xuyên bị tràn ngập bởi các cuộc gọi từ Lãnh sự quán Trung Quốc yêu cầu để sắp xếp một buổi chụp hình với Gary Becker [giáo sư kinh tế tại đại học Chicago] cho một phái đoàn quan chức cao cấp.

Tại Chicago, Hanban đã đạt được những điều họ muốn: không những số lượng vượt trội các dự án nghiên cứu về sự phát triển kinh tế Trung Quốc, mà còn có được một hội nghị chuyên đề hàng năm giữa đại học Chicago và Renmin về Kinh tế gia đình và lao động, hiện đang trong năm thứ tư. Đại học Renmin, với tư cách đồng hành với các VKT trong số hơn chục trường ngoài đại học Chicago, nhiều hơn bất kỳ đại học nào khác của Trung Quốc, có tiếng tăm như Janus (vị thần 2 mặt, có thể nhìn thấy tương lai và quá khứ). Tại Chicago, Renmin được ca tụng như trường đại học hàng đầu của Trung Quốc trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, trong khi ở Trung Quốc, đại học này được mọi người biết đến như trường đại học của đảng, vì nó được thành lập bởi Đảng Cộng sản và là nơi đào tạo bắt buộc chính yếu cho cán bộ nhà nước. VKT tại đại học Chicago phô bày bộ mặt tức cười của Cộng sản Trung Quốc trong việc sử dụng tên tuổi của Khổng Tử để chuyển tải tư tưởng chủ nghĩa tư bản ưu việt của Gary Becker như sự lựa chọn hợp lý.

Một sự mâu thuẫn còn lớn hơn nữa là viện Khổng Tử chấp nhận truyền thống thả lỏng được yêu quý của đại học, trong cả hai vấn đề tự do học thuật và triết lý kinh tế, trong một dự án toàn cầu được thiết kế để mở rộng ảnh hưởng chính trị của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sự kết hợp đầy mâu thuẫn giữa tự do kinh doanh và sự kiểm soát của nhà nước đã xảy ra vào tháng 4 năm 2008, khi Dali Yang và Ted Foss tham khảo ý kiến một đại diện giáo dục của Trung Quốc tại Chicago về các đòi hỏi tổng quát cho một Viện Khổng Tử. Từ lời thú nhận của hai vị này, bao gồm một bản phác thảo lịch sử của VKT Chicago do Yang viết, quá trình tham vấn tiếp theo bao gồm sự cảnh giác từ sớm cho các khoa trưởng của khoa nhân văn và khoa học xã hội này. Sau đó, Yang đã trình bày dự thảo về VKT đại học Chicago với các học giả Trung Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á, những người sau một cuộc thảo luận đã đồng nhất chấp thuận việc thành lập. Đây là nhóm duy nhất được bỏ phiếu (các học giả Hàn Quốc và Nhật Bản đã bị loại ra khỏi tiến trình), và họ là số giảng viên đại học duy nhất hay biết về VKT trước khi viện được khánh thành.

Sau đó, vào năm 2010, sau khi tin tức về thỏa thuận trở nên phổ biến, 174 giảng viên đại học Chicago đã ký một bản kiến nghị phản đối sự chấp thuận thiếu sáng suốt của đại học về viện Khổng Tử mà không có sự đồng ý của ban quản lý, là đại diện hợp pháp cho họ. Theo tường trình lịch sử của Dali Yang, hội đồng điều hành của Trung tâm Nghiên cứu Đông Á đã thảo luận về VKT trong một năm trước khi thành lập, nhưng ít nhất một thành viên của hội đồng nhỏ này - Bruce Cumings, sử gia nổi tiếng về Hàn Quốc - không hay biết về sự tồn tại của VKT cho đến tròn sáu tháng sau khi thỏa thuận đã được ký kết và đóng dấu với Bắc Kinh. (Hội đồng điều hành của trung tâm họp rất bất thường, theo Foss, thậm chí còn ít hơn một lần một năm.) Mặt khác, buổi tham vấn duy nhất khác là một cuộc họp vào cuối ngày với một "nhóm làm việc nhỏ của khoa, các khoa trưởng, và quản trị viên”. Vào tháng 9 năm 2009, bản đề nghị thành lập VKT được trình cho Hanban. Ngày 29 Tháng 9 năm 2009, thỏa thuận thành lập Học viện Khổng Tử được ký kết bởi một phó hiệu trưởng đại học và giám đốc điều hành của Hanban. Ngày 1 tháng 6 năm 2010, viện được chính thức khai trương, với sự tham dự của hiệu trưởng đại học Chicago và quan chức Hanban trong buổi lễ.

Trong số những nhượng bộ mà Hanban dành cho Chicago là loại bỏ điều khoản bí mật khỏi thỏa thuận VKT. Rõ ràng là không cần điều khoản này, bởi vì viện Khổng Tử vẫn còn là một bí mật trong các khía cạnh quan trọng đối với các thành viên của hội đồng điều hành khoa, là ban giám sát hoạt động của VKT. Đứng đầu là khoa trưởng khoa nhân văn, Martha Roth, hội đồng bao gồm hai giáo sư khác của đại học Chicago và hai thành viên do Đại học Renmin bổ nhiệm. Roth cho biết trong một cuộc phỏng vấn rằng bà không biết các điều khoản của bộ luật căn bản của viện Khổng Tử: "Tôi không nhớ có nhìn thấy nó". Bà cũng không nhớ những điều khoản của hợp đồng mà trường đại học đã ký kết với Hanban. Bà nghĩ, một cách sai lầm rằng Hanban ở "dưới sự chỉ dẫn và bảo trợ của Bộ Giáo dục [Trung Quốc]" – một ấn tượng Hanban chính thức chuyển tải trong các văn bản tiếng Anh bằng sự “liên kết" của họ với bộ đó, thay vì với hội đồng các quan chức chính phủ mà họ báo cáo trong thực tế. Khi được hỏi về việc đệ trình dự án nghiên cứu lên Bắc Kinh để được chấp thuận và tài trợ, Roth tìm thấy những thủ tục không thể phản đối được, giống như công việc đệ trình dự án lên Bộ Giáo dục Hoa Kỳ. Bà cũng chẳng quan tâm đến các vấn đề xảy đến với viện Khổng Tử tại các trường đại học khác, Bà hài lòng khi đại học Chicago vẫn theo đuổi nguyên tắc riêng của họ về tự do học thuật. Khi được yêu cầu bình luận về các quy định chi phối các viện Khổng Tử trong bộ luật của Hanban và trong hợp đồng, Roth trả lời rằng các câu hỏi như vậy “tốt hơn nên đặt với văn phòng pháp lý" của đại học.

Tuy nhiên, Roth chắc chắn rằng Bắc Kinh không cung cấp giáo viên tiếng Hoa cho đại học Chicago và trả lương và vé máy bay cho họ, như quy định trong các văn bản chính thức. Bà nói đáng lẽ ra Hanban đã làm như vậy hai năm trước đây, nhưng "điều đó chưa bao giờ xảy ra". "Thật là đáng tiếc", Bà nói, "bởi vì chúng tôi cần thêm lớp dạy tiếng Hoa". Có lẽ sai lầm hiển nhiên này xảy ra bởi vì các giáo viên do Hanban cung cấp dạy các cua trong thời biếu thường xuyên của chương trình đại học bốn năm, chứ không phải trong chương trình giảng dạy của chính viện Khổng Tử. Hanban đã từng cung cấp hai, hoặc nhiều hơn, giảng viên ngôn ngữ khách cho Đại học Chicago từ năm 2006, thậm chí trước khi có thỏa thuận chính thức; kể từ khi thỏa thuận được ký kết, sự cung ứng vẫn tiếp tục theo các điều khoản của thỏa thuận. Dự thảo của Chicago cho viện Khổng Tử, như đã nói trước đây, có một thành phần giảng viên đáng kể. Tuy nhiên, quan niệm sai lầm vẫn tiếp tục kéo dài về cách thức các giáo viên được lựa chọn.

Đề cập đến một nhượng bộ khác [của VKT] với đại học Chicago, cả Dali Yang và Ted Foss nói trường đại học kiểm soát phần lớn việc tuyển dụng giáo viên dạy ngôn ngữ từ Trung Quốc. Theo lời của Yang, "Trường đại học đảm trách phần lớn tiến trình tuyển dụng các giáo viên Trung Quốc, không chỉ là quyền từ chối". Foss nói, "Chúng tôi có quyền quyết định ai là người được gửi tới". Tuy nhiên, giám đốc của chương trình tiếng Hoa tại đại học, người thuê mướn các giáo viên Hanban, có một cái nhìn khác về tiến trình. Bà nói rằng, dựa trên kiến thức của mình, tất cả giáo viên tiếng Hoa có thể đệ đơn xin việc, nhưng họ phải có trình độ ngôn ngữ cao cấp về tiếng Hoa và đã từng dạy sinh viên nước ngoài tại đại học. "Sau đó, họ cần phải trải qua cuộc khảo sát như về tiếng Anh và tâm lý. Nếu họ được Hanban chọn, họ cần phải tham dự một khóa huấn luyện. Họ nói rằng họ học được những điều như nghệ thuật dân gian truyền thống". Khi được hỏi Chicago đóng vai trò gì trong việc lựa chọn giáo viên, bà giám đốc, khi đó ở Bắc Kinh, trả lời: "Chúng tôi không chọn. Họ đề nghị, và chúng tôi chấp nhận”. Sáu tuần sau, chúng tôi gặp lại ở Chicago, bà cho biết trường có thể từ chối đề nghị của Hanban bằng cách rà soát các ứng viên VKT, và sau đó Hanban sẽ đề nghị giáo viên khác, nhưng điều này đã không xảy ra. Trong mọi trường hợp, vì Hanban hoạt động theo luật Trung Quốc - thí dụ như sự xác định Pháp Luân Công là một tổ chức tội phạm - Chicago sẽ dễ bị tổn thương, tuy rằng vô tình, do thực hành phân biệt đối xử trong việc mướn người, điều đã đưa Đại học McMaster ra trước một tòa án nhân quyền. Trường đại học còn dễ bị tổn thương hơn vì đại học trả tiền cho các giáo viên, được Hanban chọn, một phần lương bổ sung ngoài lương Trung Quốc của họ.

Sự vô ý này dường như còn nghiêm trọng hơn vì sự sơ suất về phía đại học, thậm chí, nằm ở các vị trí cao trong giới điều hành hơn những người có trách nhiệm quản lý trực tiếp. Ngày 4 tháng 6 năm 2010, ba ngày sau khi viện Khổng Tử của Đại học Chicago được khai trương, hiệu trưởng và giám đốc điều hành có một cuộc họp với các đại diện của hội giảng viên tự lập gọi là CORES, VKT đã được đem ra thảo luận. CORES đã khởi động một kiến nghị được 174 giảng viên ký tên phản đối điều họ gọi là "doanh nghiệp hóa" trường đại học, trong đó viện Khổng Tử và viện Friedman Milton là những thí dụ điển hình. Biên bản cuộc họp này đã được phổ biến đến mọi người tham gia, không có sự chỉnh sửa nào được yêu cầu cho bất kỳ nội dung nào. Biên bản chỉ ra rằng hai học giả về Đông Á nổi tiếng, Bruce Cumings và Norma Field, phản đối tính cách chính trị của viện Khổng Tử, vai trò của nó trong việc xác định những gì được dạy về Trung Quốc tại trường đại học, và cách thức thế nào để "hai giảng viên này và các giảng viên khác, những người phụ trách chủ đề Đông Á, bị loại trừ hoàn toàn khỏi các cuộc thảo luận và quá trình ra quyết định". Họ không phải là duy nhất: biên bản còn ghi lại rằng hiệu trưởng đại học, Robert Zimmer và giám đốc điều hành Thomas Rosenbaum "thừa nhận họ thiếu thông tin về vấn đề này và bày tỏ sự hoang mang và hối hận về sự việc đã xảy ra như thế".

Như thế, điều gì ngăn chặn Zimmer chưa cắt đứt quan hệ của Chicago với viện Khổng Tử, cũng như các đại học Columbia và London School of Economics chưa làm giống như vậy? Các đại học nổi tiếng chấp nhận VKT cần phải đi đầu trong việc đảo ngược quá trình, bởi vì vấn đề này có liên quan lớn hơn so với lợi ích của riêng họ: bằng cách chứa chấp một viện Khổng Tử, họ đã bắt đầu tham gia vào các nỗ lực chính trị và tuyên truyền của một chính phủ nước ngoài trong một cách trái ngược với các giá trị của tự do sưu tầm và phúc lợi con người mà họ từng cam kết. Trong vị thế hơn hẳn các cơ sở học thuật địa phương, các trường đại học cũng vậy, từng mỗi phần tử, là các thực thể mang tính toàn cầu: lý tưởng phổ quát của tự do sưu tầm vì lợi ích của tất cả nhân loại mà họ thành lập trên đó làm cho VKT không thể so sánh nổi. Đại học Chicago đã từng có quá khứ lâu dài sống với phương châm của mình: Crescat scientia; vita excolatur. Hãy để kiến thức phát triển, sau đó đời sống của con người sẽ nảy nở.

http://chongtaudvietcong.com/2015/02/07/tim-hieu-ve-vien-khong-tu-ky-cuoi/

 


.
,

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.