Hôm nay,  

Bài Học Chưa Thấy

23/12/201416:10:00(Xem: 4592)

Vào trung tuần tháng 12, 2014 ai nấy đều nghe tin chính quyền Obama muốn thiết lập bang giao bình thường và làm thân với chính phủ Castro của Cuba.
Họ viện cớ đã hơn 50 năm rồi với bao cấm vận mà Cuba chưa có dân chủ, tự do thì nay ta nên thay đổi chính sách, may ra có gì khá hơn!
Đúng là nước Mỹ một lần nữa tỏ ra không có kiên nhẫn. Còn các nước CS thì luôn luôn chờ cho Mỹ nản lòng, nản lòng vì nhiều lý do khác nhau, trong đó lý do tâm lý và quyền lợi chính trị là lớn nhất. Các lý do nầy xui khiến họ đến thay đổi lòng dạ với đồng minh. Đồng minh đây là Nhân Quyền, là Dân Chủ, là Tự Do, là Pháp Quyền cho một Cuba không CS.
Thật trạng là đúng lúc chế độ CS Cuba sắp tàn khi không còn bao lâu nữa anh em Castro sẽ về thăm ông Marx (nay ông nào cũng trên 80) thì họ bắn tiếng làm thân và xuống giọng với “đế quốc Mỹ”, một danh từ mà Fidel Castro lải nhải trên radio, TV Cuba trên 50 chục năm nay. Hình ảnh Fidel Castro vung vít tay chân thuyết giảng Mác-Lê cả mấy chục tiếng đồng hồ với bao nhiêu slogan chống đế quốc bây giờ sẽ nhường chỗ cho các cuộc họp “dơ bẩn” (vì có tay trong, tay ngoài và hối lộ) ký hợp đồng xây khách sạn cho du khách Mỹ. Lý tưởng cách mạng, giải phóng cho người dân đi đâu rồi nhỉ? Thật nhục nhã, nhưng họ chỉ còn một cách là cố bám quyền lực, như tại Trung Cộng và VN.
Một điều chắc chắn (mà có lẽ chính phủ Obama làm ngơ) là một khi điều 5 của Hiến Pháp Cuba còn đó, thì bình thường hóa bang giao chỉ đem lại lợi ích cho một số công ty của Tây Phương, và vô số lợi ích cho các cán bộ đảng viên có chức có quyền, đàn em của Castro. Dĩ nhiên là bộ mặt đường phố của Cuba sẽ “hoành tráng” lên vì các dự án làm ăn của cán bộ CS Cuba với tư bản Âu Mỹ. Cái cảnh lạc hậu gần 50 năm sau thiên hạ của thủ đô Havana bây giờ sẽ có cơ hội thay đổi một chút với xe cộ đời mới nhập cảng ồ ạt cho cán bộ CS xữ dụng.
Còn đại đa số dân chúng Cuba cũng sẽ giống như dân Việt Nam sau bao nhiêu năm “bình thường hóa” đều lầm than, thất nghiệp, hay đi làm nhân công rẻ mạt cho các công xưởng, khách sạn, resort v.v mà không có quyền tranh đấu, đình công, yêu cầu công lý. Cái hợp tác làm ăn, mở cửa với chế độ CS kiểu Âu Mỹ đã làm cho dân VN bây giờ mất cả bản chất tốt của con người VN vì họ bị cai trị bởi CS. Tương lai dân Cuba cũng vậy. Chỉ có tiền và tiền sẽ là kim chỉ nam cho cán bộ CS Cuba và giới lãnh đạo của một trong ba bốn nước còn có cái tròng Mác-Lê đeo vào cổ.
Bài học bình thường hóa với VN còn đó. Thay vì bao vây cứng rắn hơn, vững vàng hơn buộc CSVN đi đến chỗ bế tắc, suy sụp kinh tế, để dân chúng bùng lên thay đổi thể chế độc tài, thì phía tư bản lại “chờ không nỗi được nữa” ra tay cứu vớt CSVN, để bây giờ chế độ CS có đầy đủ phương tiện cai trị đất nước với độc tài vô nhân thêm nhiều, nhiều năm nữa. Còn Mỹ thì cứu được vài người bất đồng chính kiến, vài nắm xương của lính Mỹ bị CS đem ra như một món hàng trả giá, các anh cựu quân nhân Mỹ thời chiến qua VN để quên đi mặc cảm tội lỗi (tuy là vô lý). Về kinh tế thì xem ra Mỹ có thêm Hilton, McDonald tại Hà Nội, trong khi trên 90 triệu dân VN không có tương lai, mất cả tổ quốc về tay Tàu Cộng.
Năm 1995 họ viện dẫn cũng cùng một lý do như hôm nay với Cuba để bình thường hóa với VN và rồi chế độ CSVN vẫn còn đó.Hôm nay họ lại ra tay cứu vớt chế độ của anh em Castro. Để được cái gì nhỉ? Chỉ là một ảo tưởng “tìm thay đổi” cho các chính trị gia và tiền, tiền cho các công ty “multinational”.
Qua bài học VN, hãy hình dung ra những gì sẽ xảy đến cho Cuba trong các năm tới đây.
Trong khi đảng CS Cuba còn cai trị đất nước và họ giữ nguyên điều 5 hiến pháp (như điều 4 của CSVN) theo đó đảng CS Cuba độc quyền chi phối mọi sinh hoạt của quốc gia, sau khi bình thường hóa bang giao các đảng viên CS Cuba được phép và ồ ạt làm kinh tế theo kiểu tư bản. Họ cho các công ty ngoại quốc vào mở các công xưởng với mọi đặc quyền kinh tế kể cả việc chiếm đoạt và trưng dụng đất đai, nhà cửa của công chúng với danh từ mỹ miều là “quy hoạch”, nhưng trên thực tế là chiếm đoạt rẻ mạt rồi chia chát lợi nhuận, huê hồng với các anh tư bản thừa nước đục thả câu. Họ tha hồ đồng lõa với ngoại bang bóc lột nhân công, ép chẹt sức lao động của dân Cuba. Các bải biển đẹp của Cuba sẽ thành những Nha Trang, những Đà nẵng, những Phú Quốc, với các khách sạn 5 sao mọc lên như nấm, nhưng chỉ để phục vụ “Cu-Ba Kiều” và người ngoại quốc. Mọi lợi nhuận đều vào túi đám cán bộ CS Cuba, thân nhân và bạn bè của họ chứ còn đại đa số người dân Cuba bình thường thì chỉ có dịp ăn một miếng McDonald, Kentucky Fried Chicken hay chỉ được mặc một quần jean mới, song thực chất đời sống vẫn bi đát như đa số người dân VN ngày nay sau 20 năm bình thường hóa. Đó là chưa kể họ sẽ mất đi cái luân thường đạo lý, cái trong sạch, văn hóa truyền thống mà người Cuba đã có trước khi CS lên nắm quyền. Thay vào đó là một tầng lớp cai trị mới chỉ biết tiền và tiền mà thôi, y hệt như VN ngày nay. Các bia ôm, karaoke trá hình bán dâm, nhà nghỉ, tiệm đấm bóp mọc lên đầy ngõ hẻm Havana, một việc mà Fidel Csatro đã tốn biết bao nhiêu là nước miếng để đọc diễn văn hàng giờ chê trách các hủ lậu của “bọn đế quốc”. Các nông dân Cuba mất đất, mất nhà, mất học sẽ đâm đơn xin đi làm thuê làm mướn nước ngoài để đem ngoại tệ về cho.....nhà nước! Con gái Cuba sẽ đi làm ôsin, được tự do lấy người nước ngoài qua các dịch vụ do nhà nước bảo trợ và khuyến khích. Nạn đem con bỏ chợ tại các nước ngoài sẽ được xem là chuyện...bình thường, sống chết mặc bay! Thiếu đạo đức và tinh thần tự trọng, dần dần du khách mang “hộ chiếu” Cuban sẽ bị dòm ngó kỷ hơn, vì nạn ăn cắp vặt và buôn lậu, ngay cả trong giới ngoại giao đoàn!


Sau một thời gian mở cửa các cán bộ CS và các tay mánh mung, làm ăn bất chính sẽ có tiền, thật nhiều tiền, rồi họ sẽ cho con du học Mỹ và tìm cách tẩu tán tài sản ra nước ngoài, mua nhà cửa tại Florida, xin “thẻ xanh”, đi đi về về tiếp tục hợp tác với tư bản bóc lột, tận dụng tài nguyên của Cuba tối đa mà không nghĩ đến tương lai của thế hệ con cháu mai sau. Mà họ rồi có sống ở Cuba đâu mà lo!
Tệ hại hơn nữa là một bộ phận của người Cuba tị nạn CS lâu nay tại Mỹ ở Miami, Orlando, sẽ thay lòng đổi dạ, về làm ăn với CS Cuba vì ham lợi cho cá nhân và kinh tế. Một số bác sĩ hay trí thức lại về phục vụ cho chính quyền CS, giảng dạy giao lưu văn hóa, quên bẵng là mấy chục năm trước đây họ đều xuống thuyền bơi qua eo biển gần Florida với thập tử nhất sinh, chạy trối chết, và thề non hẹn biển không đội trời chung với bọn Castro. Danh từ nạn nhân CS với danh nghĩa “boat people” nghe quen quen!
Rồi mấy năm sau ngày bang giao, từ cộng đồng tị nạn ở các khu Little Havana ở Florida sẽ mọc lên không biết bao là dịch vụ làm ăn với CS Cuba. Nào điện thoại viễn liên, dịch vụ gởi tiền về nhận trong ngày, bảo lãnh, công hàm ngoại giao, hôn nhân giả có thiệt có, bảo đảm đậu du học, hay du lịch ở lại luôn! Đi xa hơn, họ kêu gọi đầu tư, về nước phục vụ hay có anh lại đem bao nhiêu của cải dành dụm bấy lâu nay về mở công ty và hợp tác với chính quyền CS, mang ý nghĩ đầu tư cho “quê hương”, để rồi cuối cùng bị các cán bộ CS Cuba lường gạt đến sạch túi. Trong tương lai dân tị nạn CS Cuba tại Miami sẽ nhìn thấy các cha cố quốc danh, hay thiên tả Cuba đến gây quỹ, kêu gọi kiều bào góp tiền về xây dựng lại nhà thờ, chủng viện, nhà dưỡng lão cho nhà dòng, cho các Sơ, đã cũ kỷ hay đổ nát mấy chục năm nay. Rồi ra dân Cuba ở Miami sẽ có người chạnh lòng rủ nhau quyên góp. Anh em của Fidel Castro nhìn thấy Việt Kiều gởi về nước mỗi năm hơn 11 tỷ đô la, đã làm cho họ mạnh dạn vụt vào thùng rác các diễn văn hùng hồn với đầy lời lẽ giảng dạy của Mác Lê mà xoay qua nói chuyện hàng giờ với “Toà Nhà Trắng”, cái nôi của “đế quốc Mỹ” trong vòng 50 năm qua!
Ngoài ra việc bình thường hóa sẽ làm chia rẽ và yếu đi sức đối kháng của các người dân Cuba “quốc gia” tị nạn CS. Họ sẽ có hai ba cộng đồng, họ sẽ không tìm ra đoàn kết thật sự. Có người lại mất cả niềm tin vì nay Mỹ đã bang giao và “phản bội” họ. Họ hoạt động rời rạc, không tìm ra một sách lược khả thi hầu mọi người có thể chung sức để giải thể chế độ CS.
Thực trạng xem ra thật là éo le. Những năm trước đây họ ra đi mong có ngày về trên một quê hương Cuba tự do, dân chủ, nhân quyền. Nay một bộ phận không nhỏ của họ lại ra sức đem dân Cuba qua Mỹ sống cho thật đông với bao nhiêu là hình thức di dân qua Mỹ, dù là dưới diện nào. Con cháu của các ông “HO Cuban” thời vịnh Con Heo vào những năm 60’s nay cũng quên mất quá khứ đau thương của cha ông về nước kết hôn với con cái cán bộ CS, hay tệ hại hơn họ trở cờ, về nước giao du với Thứ Trưởng Ngoại Giao Cuba thực hiện nghị quyết 36 “made in Havana”! Đâu đó trong đất nước quê hương của mía lau một anh y tá quèn, có trình độ học vấn thấp, tuổi ngoài 30 vào thời buổi Obama đồng ý nối lại bang giao vào Tháng 12 năm 2014, 20 năm sau bổng trở thành Thủ Tướng của một Cuba CS thân Mỹ! Chuyện có thể xảy ra!
Hai mươi năm sau, cũng giống như VN, dân Cuba rồi ra ai cũng muốn qua Mỹ, nhất là mấy anh cán bộ CS về hưu sau khi tham nhũng và gian lận làm giàu bất chính. Vậy thì đất nước Cuba ai lo đây? Ai ra sức xây dựng, đóng góp, canh tân và yêu mến đây? Hội chứng thờ ơ, vô cảm với bất công với ngang trái tràn ngập Cuba, cũng như nó đã tràn ngập VN.
Đó là tương lai của Cuba và dân Cuba tị nạn CS ít nhất là từ nay cho đến 20 năm sau.
Còn phía Mỹ thì sao?
Về thế chính trị, việc bình thường hóa sẽ có lợi cho một phe, phe của những người Hoa Kỳ gốc Nam Mỹ mà đa số tuy là vào “quốc tịch” mà lòng vẫn yêu mến anh em Latino, nhất là cái họ Castro thì không ai xa lạ gì tại châu Mỹ Latin và đôi khi được “cảm tình” từ các chính phủ thiên tả, kiểu như Venezuela, Bolivia hay ngay cả Á Căn Đình, quê hương của Đức Giáo Hoàng hiện tại. Mà chúng ta biết phe nầy đa số dồn phiếu cho ai rồi vào năm 2016. Việc của Mỹ thì họ tính theo quyền lợi, phe nhóm của họ tùy thời, tùy lúc, tùy ai ở trong Nhà Trắng. Lâu nay chúng ta nghiệm ra rằng bây giờ họ là “đồng minh” của anh đấy, nhưng đôi ba năm nữa hay về lâu thì chưa chắc!
Có lẽ điều tốt nhất và là con đường duy nhất là người “quốc gia Cuba” hãy đoàn kết lại và nhắm vào mẫu số chung là giải thể chế độ độc tài CS, còn Castro hay không có Castro. Đó mới là cái “bình thường hóa” tốt nhất và cao quý nhất cho người dân Cuba vì họ đã trông chờ hơn 50 năm nay, cũng như dân VN trông chờ gần 40 năm nay kể từ ngày 30 Tháng 4 đen.
California ngày đầu Đông 2014
Võ Phú Viên

Ý kiến bạn đọc
24/12/201417:18:59
Khách
"việt nam buồn lắm anh ơi" có thể thêm "cuba ..buồn lắm em ơi" nổi buồn nhược tiểu...không phải nước nhỏ không có người tài giỏi mà ..thiếu tiền nên .bó tay. biết mỷ không tin được nhưng nó giàu mạnh, mua đứt và ủng hộ bọn bán nước nên mình trở thành....thiểu số đối lập, bất đồng chính kiến, hòa hợp hòa giải vv you name it và được tự do ..đi tù! khi mô mỷ thấy hết "quyền lợi" thi ta đi ..lưu vong ha ha...bài học này lịch sử VN mình dạy dân ta nhiều lần nhưng người mình ..hay quên.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.